Minh triết trong đời sống.
 


Tiểu sử tác giả Deane.

Bản dịch của Nguyên Phong

 

Darshani Deane là một diễn giả nổi tiếng, đă giúp đỡ nhiều người trên phương diện tâm linh. Cuộc diễn thuyết nào của bà cũng thu hút rất đông quần chúng, sau buổi nói chuyện bà thường dành thời giờ tiếp xúc với thính giả để thảo luận thêm về những đề tài liên quan đến đời sống cá nhân của họ. Chi tiết cuộc tiếp xúc được ghi nhận và in thành sách dưới tựa đề “Wisdom, Bliss, and Common Sense” (Tạm dịch: Minh Triết Trong Đời Sống). Cuốn sách này đă giúp nhiều người t́m được sự thoải mái trong đời sống tinh thần và là một trong những cuốn sách tâm linh bán chạy nhất năm 1989.Trước khi trở nên diễn giả, Darshani là một nhạc sĩ nhạc cổ điển nổi tiếng, đă tŕnh diễn âm nhạc tại bảy mươi hai quốc gia trên thế giới. Bà c̣n là một trong những phụ nữ đầu tiên có bằng phi công, đă bay nhiều chuyến “Solo” xuyên qua các lục địa, Bà cũng là người đàn bà đầu tiên lái xe hơi du lịch khắp thế giới một ḿnh. Trên đường du lịch, bà sống nhiều năm trên sa mạc miền Trung đông, xây cất trường học cho trẻ em nghèo tại Phi Châu, soạn thảo cuốn “Africa Who’s Who” đề cập đến những nhân vật đă góp phần xây dựng cho lục địa này. Bà đă trông nom một trại tỵ nạn dành cho người Tây tạng tại Nepal và tu nhập thất trên rặng Hy ma lạp sơn. Từ năm 1979, bà dành trọn thời giờ cho việc diễn thuyết và giúp đỡ thính giả của bà t́m được sự thoải mái, an tĩnh trong cuộc sống.

Lời nói đầu.

Trong thập niên vừa qua tôi đă diễn thuyết khắp nơi về nhiều đề tài khác nhau như “Con đường chuyển hóa”, “Định hướng cho tương lai”, “Hạnh phúc và đau khổ” v.v... Thính giả của tôi gồm đủ mọi hạng người trong xă hội, giám đốc xí nghiệp, quản lư thương mại, giáo sư đại học, sinh viên, học sinh, quân nhân, công chức, thợ thuyền, nội trợ v.v... Sau buổi nói chuyện thường có phần thảo luận, một số người đă đặt những câu hỏi tương tự như sau:

- Cuộc đời của tôi là một chuỗi đau khổ, bà có cách nào giúp tôi không?

- Tại sao những bất hạnh lại xẩy ra cho tôi?

Tôi đă làm ǵ nên tội?

- Tại sao lúc nào tôi cũng cảm thấy bất an, lo sợ?.

Tôi đă áp dụng nhiều phương pháp, từ thuốc an thần đến thiền định nhiều không đạt được kết quả ǵ?

Liệu bà có giúp ǵ được cho tôi hay không?

- Làm cách nào để một người b́nh thường như tôi có thể thoải mái trong đời sống hiện tại?

- Tôi đă tập thiền trong nhiều năm mà chẳng thấy kết quả ǵ khả quan.

Theo bà th́ tôi phải làm ǵ nữa đây?.

- Tại sao khi ở nhà th́ tôi thấy thoải mái dễ chịu nhưng khi vào đến nơi làm việc th́ những nỗi bực bội, phiền năo lại nổi lên?

- Tôi đă theo học với nhiều thầy, tu nhiều phương pháp khác nhau nhưng càng ngày càng thấy bối rối hơn. Tôi không biết phải làm ǵ nữa bây giờ?

- Tại sao tôi cứ cảm thấy tuyệt vọng?

- Làm sao người ta có thể giáp mặt với sự chết?

- Chúng ta có thực sự tự do không?

Sau khi tiếp xúc với họ, tôi nhận thấy dù ở địa vị hay hoàn cảnh nào trong xă hội đa số đều có những tâm trạng và thắc mắc như nhau. Điều này khiến tôi suy luận rằng nếu những người tôi gặp đều có những ưu tư giống nhau th́ những người tôi chưa gặp chắc cũng có những tâm sự tương tự. Nếu đă giúp được một số người qua buổi hội thảo th́ biết đâu tôi chẳng giúp được người khác qua h́nh thức một cuốn sách nhỏ ghi nhận nhận những điều tôi đă thu thập được.

Phần lớn những câu trả lời của tôi đều dựa trên các phương pháp đă được truyền dạy và thực hành tại phương Đông trong nhiều thế kỷ. Dĩ nhiên nó không giống phương pháp chữa bệnh của khoa phân tâm vốn dựa trên căn bản “Phân tích mọi việc bằng lư luận, đưa nó ra ánh sáng rồi mọi việc sẽ tự nó giải quyết”. Tôi quan niệm rằng tâm hồn con người hiện nay đă trở nên qúa máy móc, thụ động, không thể tự chữa cho nó bằng các lư luận thông thường. Nó cần phải được nâng lên một b́nh diện khác cao hơn để mở rộng ra, nh́n mọi sự qua một nhăn quang mới. Chỉ có áp dụng cách đó việc chữa trị mới mang lại kết quả tốt đẹp được.

Tôi khám phá ra phương pháp này một cách “t́nh cờ” nhưng dường như trong đời không ǵ có thể gọi là t́nh cờ được th́ phải. Tôi xin chia sẻ với các bạn về kinh nghiệm bản thân như sau:

Cách đây không lâu, tôi là một nhạc sĩ nổi tiếng tŕnh diễn âm nhạc khắp thế giới nhưng tôi chưa thỏa măn với chính ḿnh, h́nh như tôi c̣n mx một cái ǵ nữa mà lúc đó tôi chưa ư thức rơ rệt. Tôi lái xe hơi ṿng quanh thế giới, khởi sự từ Âu châu, qua Trung đông với ư định sẽ đi khắp Phi châu, á châu trước khi quay về Mỹ châu. Cuộc hành tŕnh đưa tôi đến bờ sông Hằng, xứ Ấn Độ. Hôm đó tôi dừng chân trước đạo viện Sivananda nơi đạo sư Krishnanandaji đang giảng kinh Vệ Đà. Dĩ nhiên tôi chưa bao giờ nghe nói đến kinh Vệ Đà và cũng chẳng biết vị đạo sư đó là ai. Tôi chỉ muốn chụp vài tấm ảnh kỷ niệm để làm bằng chứng cho cuộc du lịch của tôi mà thôi. Hôm đó đạo sư đă giảng cho học tṛ về Đại Ngă (Brahman), về cái lư tưởng tuyệt đối, không thể phân chia của vũ trụ. V́ lư do ǵ đó, đầu óc của tôi bỗng được đánh thức, tôi ư thức rằng từ trước đến nay cuộc đời của tôi chỉ là một giấc ngủ dài không tỉnh. Tôi nghe giảng một cách say sưa, quên cả thời gian, không gian và lư do cuộc viếng thăm đạo viện. Điều tôi hằng mong muốn nhưng chưa ư thức được bỗng hiện lên rơ rệt trong đầu óc của tôi. Tôi quyết định dừng chân tại đây để học đạo. Năm đó tôi vừa tṛn ba mươi lăm tuổi.

Tôi xuất thân trong một gia đ́nh trung lưu tại thành phố New York. Cha mẹ tôi tin rằng tôi có năng khiếu âm nhạc nên họ không quản tốn kém mướn giáo sư kèm riêng cho tôi. Giáo sư của tôi, một nhạc sĩ nghiêm khắc đă quyết định rằng tôi phải trở nên một người độc tấu nhạc cổ điển, và chỉ nhạc cổ điển mà thôi. Điều này có nghĩa là tôi không được chơi các bài nhạc vui như Valse hay ḥa tấu với những học sinh khác. Qua âm nhạc, tôi nhận thức được một sức sống mạnh mẽ tiềm tàng trong ḿnh và khám phá rằng tôi có nhiều nhiệt thành với cuộc sống, lúc nào tôi cũng muốn vươn lên nắm bắt lấy một cái ǵ mặc dù lúc đó tôi không rơ ḿnh thực sự muốn ǵ.

Không như những thiếu nữ cùng lứa tuổi, tôi tin rằng hạnh phúc chỉ có thể t́m thấy trong sự thành công nghề nghiệp, danh vọng và “sống cho ra sống” chứ không phải ràng buộc trong những giới hạn hôn nhân. Trong thời gian tại đại học tuy quen biết nhiều người nhưng không bao giờ tôi muốn bị lệ thuộc vào bất cứ ai. Đời sống đối với tôi là một khu rừng đầy hoa thơm cỏ lạ với những buổi tŕnh diễn trên đài phát thanh, đài truyền h́nh, trên sân khấu những hộp đêm sang trọng tại New York, Chicago, Paris, London v.v... Tôi đă tŕnh diễn trên du thuyền của những vương tôn công tử hào hoa phong nhă. Giao thiệp với những người đàn ông từng trải, chín chắn. Nhiều người ngỏ lời cầu hôn và hứa hẹn một đời sống thoải mái cho tương lai nhưng tôi chỉ muốn tự do làm tất cả những ǵ ḿnh muốn và tôi vẫn c̣n muốn nhiều thứ lắm.

Nghề nghiệp đưa tôi vào nhiều chuyến du lịch đầy hứng thú từ Âu qua á, từ những đô thị đông đúc ở á châu đến những làng mạc hoang vu tại Phi châu. Tuy nhiên tôi không muốn là một nhạc sĩ thuần túy mà phải nhiều hơn thế nữa.

Tôi học lái phi cơ và trở thành một phi công có hạng. Tôi bay “Solo” nhiều chuyến từ đô thị này qua đô thị khác. Tôi đă vẫy vùng trên không trung như một cánh chim giang hồ và đạt nhiều kỷ lục đáng kể. Khi đó số phụ nữ có bằng phi công c̣n hiếm nên tôi đă trở thành đề tài cho nhiều câu chuyện thời sự.Tôi ham thích chơi cờ “Chess”, ngoài việc giải trí thanh nhă nó c̣n là một trường để thử thách cá tính con người. Tôi đă tranh giải trong các hội quán quốc tế và hạ nhiều cao thủ xuất sắc. Trong các danh thủ môn cờ này, rất ít người thuộc phái nữ nên tên tuổi của tôi c̣n lẫy lừng hơn nữa nhưng đối với tôi nó vẫn chưa đủ, tôi chẳng bao giờ cảm thấy thỏa măn cả, tôi c̣n muốn nhiều hơn nữa kia...

Tôi kư hợp đồng tŕnh diễn tại Phi châu và lang thang nhiều năm trên lục địa nắng cháy này. Tôi sống trên một du thuyền lộng lẫy chạy dọc theo sông Nile suốt sáu tháng liền, nhưng rồi cuộc sống vương giả làm tôi thấy nhàm chán. Tôi t́m đến một làng hẻo lánh, sống chung với những nông dân trồng trọt rau trái. Tại đây tôi học được bài học về sự hy sinh, nhẫn nại, ḷng gắn bó chặt chẽ vào đất đai để biến mảnh đất sa mạc khô cằn thành những đồn điền trù phú nhưng không hiểu sao tôi không thấy ḿnh muốn gắn bó vào đâu cả.Tôi trở lại âu châu tŕnh diễn âm nhạc một thời gian, ḷng phiêu lưu thúc đẩy, tôi mua một chiếc xe deep để du lịch ṿng quanh thế giới. Hầu như bất cứ nơi nào ghé qua, tôi cũng bị bao vây bởi một rừng phóng viên, kư giả ṭ ṃ muốn t́m hiểu người phụ nữ đầu tiên dám du lịch thế giới bằng xe hơi một ḿnh.

Cuộc du hành đưa tôi qua Phi châu, Trung đông và rồi á châu. Tôi đi dọc theo rặng Hy mă lạp sơn hiểm trở để vào đồng bằng xứ ấn, cho đến một hôm dừng chân bên bờ sông Hằng và nghe nói đến danh từ Đại Ngă (Brahman). Trí óc của tôi bị thúc động mạnh mẽ, h́nh như tôi đă t́m được điều tôi muốn, tôi quyết định dừng chân nơi đây học đạo với Swami Krishnanandaji.Tôi học hỏi ư nghĩa kinh Vệ Đà và chú trọng nhiều đến bộ Upanishads. Với tấm ḷng cương quyết có được kinh nghiệm tâm linh, tôi đă nhập thất thiền định nhiều năm trên rặng Hy mă lạp sơn. Một hôm tôi thấy trong ḷng ngây ngất rạo rực bởi một cảm giác an tĩnh lạ thường, tôi vội báo tin cho thầy tôi biết rằng “Nếu tiếp tục cố gắng khoảng sáu tháng nữa tôi có thể giác ngộ”. Thầy tôi không nói ǵ chỉ lắc đầu rồi yêu cầu tôi trở lại động đá suy ngẫm thật kỹ về một đề tài của kinh Vệ Đà: “Khiêm tốn là bước đầu của tất cả mọi sự tiến bộ”. Sau khi suy ngẫm kỹ lưỡng về đề tài trên, tôi ư thức rằng người ta không thể tự hào với một công phu nhỏ bé như thế được, tôi bèn cương quyết nhập thất trọn đời. Tôi báo tin cho thầy tôi biết rằng “Tôi sẽ từ bỏ thế gian này để thực hành thiên định cho đến khi chết”. Một lần nữa thầy tôi lắc đầu và nói rằng: “Tại sao con lại nghĩ rằng con có thể từ bỏ thế gian này hoặc thế gian này sẽ từ bỏ con? Hăy suy ngẫm thêm nữa về sự liên hệ giữa cá nhân và thế giới”.

Thế là tôi lại chui vào động đá để suy ngẫm thêm.Mùa mưa đến với rắn rết, côn trùng ḅ đầy vào trong hang nhưng tôi vẫn không sờn ḷng, tôi ao ước có được kinh nghiệm tâm linh trước khi giấy thông hành của tôi hết hạn. Tuy nhiên thời gian là một thử thách lớn, sau mấy năm nhập thất mà vẫn chưa kinh nghiệm được điều tôi muốn, ḷng phiêu lưu mạo hiểm thúc dục tôi lên đường. Tôi muốn biết ngoài giáo lư Vệ Đà c̣n có những giáo lư nào khác nữa hay không? Biết đâu tôi chẳng học hỏi thêm được điều ǵ hay ho hơn nữa? Biết đâu tôi chẳng t́m được một giáo lư nào thích hợp với tôi hơn, thế là tôi từ giă động đá đi Katmandu.

Tôi dừng chân trước một trại tỵ nạn dành cho người Tây tạng. Sự kiện những người dân hiền lành, chất phác phải bỏ mảnh đất quê hương t́m tự do làm tôi xúc động. Hơn lúc nào hết tôi ư thức rơ rệt về sự liên hệ giữa cá nhân tôi và thế giới bên ngoài, tôi lập tức t́nh nguyện làm quản lư trại tỵ nạn này. Tôi thành lập trường học thiết lập trạm y tế, họp báo kêu gọi thế giới ư thức về t́nh trạng cai trị hà khắc của Trung đông. Tôi nghĩ rằng nhờ các công tác xă hội này tôi sẽ t́m được điều tôi muốn nhưng không hiểu sao tôi vẫn cảm thấy thiếu thốn một cái ǵ, đời sống đối với tôi bỗng trở nên khó khăn hơn bao giờ hết.Hàng ngày tôi thường lái xe chuyên chở thực phẩm cho trại tỵ nạn qua những đường đèo nhỏ hẹp trên rặng Tuyết Sơn. Tôi nh́n thấy hàng trăm xác xe hơi dưới đáy thung lũng, chỉ một lơ đăng cả người và xe đều rơi xuống vực sâu.

Hơn lúc nào hết sự chết bắt đầu ám ảnh tâm trí của tôi. Tôi nghĩ nhiều về sự chết, về đời sống và bắt đầu sợ hăi. Tôi vừa lái xe vừa cầu nguyện, đôi khi tôi c̣n đọc những bài thần chú Tây tạng nữa. Không ai muốn chết trước khi được một quyền năng nào đó “bảo đảm” cho.V́ công việc xă hội, tôi quen biết linh mục Moran và Ḥa Thượng Serkong Rimpochen. Tôi than thở với hai vị này rằng: “Khi xưa tôi vẫn nghĩ đời sống là một cái ǵ đẹp đẽ nhưng hiện nay tôi lại thấy đời sống sáo đầy những khó khăn, không sao thoải mái được”. Cả hai khuyên tôi phải có một thái độ với cuộc sống Linh mục Moran khuyên tôi cầu nguyện Thượng Đế nhiều lần trong ngày. Ḥa Thượng Serkong khuyến khích việc áp dụng một kỷ luật chặt chẽ để kiểm soát thân và tâm. Tuy nhiên tôi không tuân giữ được điều ǵ v́ đầu óc của tôi lúc đó cứ bị dày ṿ, xung đột bởi một cảm giác trống rỗng, thiếu thốn, không thể diễn tả.Ít lâu sau, tôi trở lại đạo viện Sivananda khóc lóc với đạo sư Krisnanandaji: “Con không thể sống với cái thế giới đầy phiền năo này được nữa, con quyết định nhập thất thiền định cho đến khi đạt được kinh nghiệm tâm linh. Con không muốn du lịch hay làm công việc xă hội nữa mà chỉ ao ước kinh nghiệm được Thượng Đế mà thôi. Từ nay con nhất quyết đoạn tuyệt với thế giới bên ngoài”.Một lần nữa đạo sư Krisnanandaji lại lắc đầu nói rằng “Tại sao con lại nghĩ ḿnh có thể từ bỏ thế giới này? Thượng Đế và thế giới này đâu phải hai phần cách biệt, hăy tập trung tư tưởng để suy ngẫm thật kỹ về đề tài này”.

Từ đó bên ḍng nước sông Hằng, tôi đắm ḿnh vào việc thiền định, suy ngẫm về cuộc đời đă qua của ḿnh. Cho đến lúc đó tôi mới hiểu được rằng cuộc sống “thiếu ư thức” của tôi khi trước chỉ là những ǵ chập chờn như giấc mộng. Tuy hiểu được vậy nhưng tôi vẫn chưa biết cách sống làm sao cho thoải mái để t́m sự an tĩnh trong nội tâm.Sau một thời gian thiền định, quán tưởng, ḷng phiêu lưu mạo hiểm lại thúc dục tôi lên đường.

Tôi tự nhủ biết đâu tôi chẳng học hỏi thêm được điều ǵ hay ho hơn nữa? Tôi qua Nga số, Đông Âu và Tây Âu tŕnh diễn âm nhạc và dừng chân ở một làng nhỏ nước Ư. Tại đây tôi gặp linh mục Padre Pio, một người mà trên thân thể có những bí tích (những dấu vết đóng đinh giống như chúa Jesus, mỗi năm cứ đến thời gian trước lễ Phục Sinh th́ những vết thương đó lại chảy máu một cách kỳ lạ). Tôi được linh mục Pio chỉ dẫn rất nhiều về giáo lư bí truyền chỉ phổ biến trong những ḍng tu kín. Sống gần linh mục tôi kinh nghiệm được một sự b́nh an lạ lùng, mỗi khi ngài dơ tay ban phép lành th́ tôi lại thấy trong người dào dạt một cảm giác b́nh an vô hạn. Hàng ngày tôi tham dự khóa lễ tại nhà thờ San Giovani, ḷng yêu thương sùng kính của tôi đối với đấng Christ gia tăng mănh liệt. Tôi muốn gia nhập ḍng tu kín, trở nên một nữ tu dành trọn cuộc đời cầu nguyện Thiên Chúa nhưng tôi vẫn ngần ngại v́ không quên cái ư thức về Đại Ngă (Brahman) và những kinh nghiệm thu tập được bên sông Hằng. Tôi cảm thấy trong người bị xâu xé bởi một cảm giác mâu thuẫn.

Một mặt tôi muốn quay về với triết lư phương Đông nhưng mặt khác tôi lại thấy thoải mái với lối giải thích của thần học Tây Phương.Ít lâu sau, tôi nhận lời mời của giáo sư John Bennett qua Luân đôn nghiên cứu công tŕnh để lại của Gurdjieff, một triết gia kiêm nhạc sĩ nổi tiếng. Gurdjieff đă dung ḥa được tư tưởng Đông và Tây qua những lời khuyên hết sức thực tế, ngoài ra ông c̣n là một nhạc sĩ nên tôi nghĩ rằng một nhạc sĩ tôi có thể thông cảm với nhạc sĩ hơn. Tôi chuyên tâm nghiên cứu công tŕnh của Gurdjieff, một hôm đang đi bộ trên đường Oxford, tôi bỗng ư thức được một cảm giác tự do kỳ lạ, tôi không c̣n thấy ḿnh là ḿnh nữa mà cứ lâng lâng như được nâng lên một b́nh diện nào đó cao hơn. Tôi ngây ngất một lúc rất lâu và ư thức được điều Gurdjieff vẫn nói: “Sự ư thức toàn vẹn về sự sống”.Tôi kể cho giáo sư Bennett nghe về kinh nghiệm này và ngỏ ư muốn t́m một nơi yên tĩnh dể suy ngẫm hêm. Giáo sư Bennett không đồng ư, ông nói: “Tách ra khỏi đời sống không phải điều Gurdjieff chủ trương. Sống và ư thức sự sống, ư thức sự chuyển hóa của ḿnh với đời sống mới là điều quan trọng. “Tôi không đồng ư với giáo sư Bennett, đầu óc của tôi vẫn khăng khăng nghĩ rằng tôi có thể t́m đến một nơi chốn nào để sống trọn vẹn với cái cảm giác b́nh an đó măi. Tôi t́m đến một tu việc hẻo lánh tại Phi châu và tôi tuyên bố với tu sĩ trưởng “Tôi đến đây để t́m sự yên tĩnh, để suy ngẫm, để nghiên cứu, để kinh nghiệm”. Trước khi tôi có dịp nói hết lời th́ tu sĩ này đă lạnh lùng ngắt lời: “Muốn sống tại đây ai cũng phải làm việc. Tôi giao cho bà một số văn kiện, giấy tờ, bà có bổn phận phải sao lục ra làm nhiều bản. gử đến những địa chỉ trong danh sách này. Yêu cầu bà hăy làm việc ngay v́ đây là những thư từ khẩn cả”.Thế là tôi thấy ḿnh “è” cổ ra sao lục những văn kiện, giấy tờ. Lúc đó không có máy Photocopy, không có máy điện toán như hiện nay nên mọi việc đều phải làm bằng tay. Khi tôi tŕnh lên tu sĩ trưởng xấp văn thư dầy cộm, ông này liếc qua mấy hàng và phê b́nh ngay: “Bà làm việc cẩu thả, chữ viết nghiêng ngả, những con tem dán không thẳng hàng. Yêu cầu bà hăylàm lại, bà hăy ngâm những con tem vào nước, bóc ra rồi dán lại cho thật ngay hàng thẳng lối. Tuyệt đối không được phí phạm một thứ ǵ v́ phong b́, giấy tờ và những con tem đều tốn kém, phí phạm nó sẽ gây thiệt hại cho ngân qũy nơi đây. Yêu cầu bà làm việc cho thật nghiêm chỉnh v́ đó là đường lối tại đây, nếu không được như thế xin bà rời khỏi nơi này ngay lập tức”.Tôi không thể tin rằng một người mang danh tu sĩ lại ăn nói lạnh lùng, bất lịch sự như vậy.

Từ trước đến nay tôi là người nổi tiếng, đi đâu cũng được kính trọng, nể v́, không ai ăn nói hỗn xược như vậy với tôi nhưng rồi tôi cũng dẹp bỏ tự ái, cắn răng hoàn tất công việc giao phó. Đến khi đó vị tu sĩ mới dịu giọng hỏi tôi: “Thưa bà, bà muốn học hỏi điều chi?” Tôi nói ngay mà không suy nghĩ “Tôi muốn được kinh nghiệm về sự hợp nhất với đấng Vô Cùng”. Vừa nghe vậy, tu sĩ đă lạnh lùng: “Thế th́ bà đi lầm chỗ rồi, tại đây chúng tôi chỉ chủ trương ư thức tất cả mọi hành động và hoàn hảo trong mọi hành động mà thôi”. Tôi sững sờ một lúc nhưng rồi quyết định sống tại đó một thời gian xem sao v́ biết đâu tôi chẳng học hỏi thêm được điều ǵ chăng?

Ngày tháng trôi qua, tôi bị ép buộc phải làm nhiều việc một cách vô cùng cực nhọc. Tôi dậy sớm quét nhà, lau dọn, chùi cầu tiêu và tất cả mọi việc lao động trong tu viện thế mà c̣n bị chỉ trích và phê b́nh đủ thứ. H́nh như người ta cố t́nh áp dụng “kỷ luật sắt” riêng cho tôi. Dù tôi làm việc tốt đến đâu người ta cũng có thể t́m cách chê trách được, dĩ nhiên lúc đầu tự ái của tôi bị va chạm mạnh nhưng rồi sau cũng quen đi. Điều tôi không ngờ là cái bản ngă tự cao tự đại, đầy kiêu căng phách lối của tôi nhờ thế mà cũng giảm dần theo thời gian. Cái cảm giác thiếu thốn khó chịu cũng theo đó mà biến mát, tôi bắt đầu cảm thấy thoải mái với chính ḿnh nhiều hơn.

Khi biết thoải mái với ḿnh th́ người ta bắt đầu biết nghĩ đến người khác và tôi đă suy nghĩ nhiều về mối liên hệ giữa cá nhân và xă hội. Tôi thấy từ trước đến nay tôi đă sống một cách ích kỷ qúa do đó khi một phái đoàn truyền giáo đi ngang, tôi vội tháp tùng theo họ đến Nam Phi. Tại đây tôi dồn sức ra làm việc xă hội, mở trường học, lập rạm y tế, sống trong những làng mạc của người da đen. Công việc hoạt động này giúp tôi có cơ hội tiếp xúc với nhiều nhân vật quan trọng của Phi châu. Tôi thấy người ta đă cố t́nh loại bỏ tên tuổi những người da đen trong các công tŕnh xây dựng quan trọng tại đây.

Cuốn Niên giám nhân vật Phi châu “Who’s who in Africa” không hề đề cập đến bất cứ một người da màu nào.Sự bất công, kỳ thị chủng tộc của người da trắng đă thúc đẩy tôi phải làm một cái ǵ. Tôi bỏ thời giờ nghiên cứu để xuất bản một cuốn niên giám nhân vật khác. Lúc đầu tôi nghĩ nó chỉ mất khoảng sáu tháng là nhiều, sau đó tôi sẽ t́m về một làng mạc hẻo lánh để tiếp tục công tác xă hội và thiền định, nhưng sáu tháng lại biến thành bốn nặm. Công tŕnh nghiên cứu cuốn niên giám nhân vật đ̣i hỏi một sự kiên nhẫn, bền chí và cương quyết trong m«i trêng mà sự kỳ thị chủng tộc và nỗi bất công là việc đương nhiên. Cho đến khi dó tôi mới ư thức được sự lợi ích của thời gian sống trong kỷ luật tuyệt đối tại tu việc kia. Thời gian làm việc tại Phi châu giúp tôi ư thức giá trị của cuộc sống và hiểu biết về chính tôi nhiều hơn.

Tôi biết cách sống một cách thoải mái, b́nh dị và quyết định Phi châu là quê hương thứ hai của tôi.Để nghiên cứu làm cuốn niên giám nhân vật, tôi đă du lịch qua nhiều làng mạc, quốc gia tại Phi châu. Một người phù thủy đă nói “Bà sẽ trở nên một giáo sư và có rất nhiều học tṛ”. Tôi không tin những điều tiên đoán vu vơ nên gạt đi viện lẽ tôi không hề có bằng cấp giáo dục và cũng không có ư định mở trường dạy dỗ ai hết nhưng ông này nhấn mạnh “Quá nhiều người không ư thức được điều họ làm và cần giúp đỡ. Thế giới này thiếu ǵ người có bằng cấp nhiều nếu họ không ư thức được chính họ th́ làm sao họ có thể giúp đỡ hay dạy dỗ ai? Bà có nhiều kinh nghiệm cá nhân và nên chia sẻ điều này với người khác”.

Tôi không để ư đến lời khuyên của ông này nhưng sau khi cuốn sách được xuất bản, tôi được nhiều nơi mời diễn thuyết và một bất ngờ xẩy ra. Đa số thính giả chỉ muốn nghe tôi nói về những kinh nghiệm cá nhân của tôi hơn là tiểu sử nhân vật mà tôi ghe chép trong cuốn niên giám nhân vật. Chỉ ít lâu sau, người ta chính thức mời tôi diễn thuyết về những kinh nghiệm tâm linh này thay v́ những đề tài khác. Số thính giả mỗi ngày một đông, nhiều người cho biết họ t́m được sự thoải mái sau khi áp dụng những phương pháp mà tôi đề xướng.Ít lâu sau tôi gặp lại người phù thủy nọ. Lần này ông ta cho biết “Bà sẽ rời Phi châu đi diễn thuyết khắp nơi trên thế giới, bà sẽ giúp đỡ nhiều người hơn nữa... “ Tuy bán tin bán nghi nhưng tôi đă trả lời: “Tôi chán du lịch lắm rồi, tôi chỉ muốn sống thoải mái yên ổn tại đây thôi. Không ai có thể bắt tôi đi đâu nữa”. Người phù thủy thản nhiên: “Điều bà muốn và điều ngài muốn có thể không giống nhau nhưng rồi bà sẽ học được điều cần phải học”.

Để chắc ăn, tôi cho đi tất cả những quần áo, hành trang và cương quyết không đi đâu nữa. Vài tháng sau, tôi được mời nói chuyện tại câu lạc bộ phụ nữ ở New York. Tôi nghĩ thầm dự một buổi diễn thuyết ngắn ngủi về phong tục và văn hóa Phi châu rồi trở về đây ngay th́ ăn nhằm ǵ. Thế là tôi thu xếp hành trang lên đường qua Hoa Kỳ. Khi đến New York tôi được biết đạo sư Baba Muktananda cũng đang diễn thuyết ở đó. Tôi đă nghe nhiều người nói về ông này khi c̣n ở Ấn độ nên nhủ thầm đây quả là một dịp may hăn hữu v́ Biết đâu tôi chẳng học thêm được một điều ǵ hay chăng?

Tôi ngồi trên hàng ghế đầu nghe Baba Muktananda diễn thuyết về những kinh nghiệm tâm linh. Tôi băn khoăn tự hỏi “Tại sao trải qua bao công phu tu tập, thiền định, và quán tưởng mà tôi vẫn chưa có được kinh nghiệm tâmlinh nào?” Đang diễn thuyết, đạo sư Baba bỗng ngưng nói nh́n thẳng vào chỗ tôi ngồi và thong thả:

- Này chị kia, chị chưa kinh nghiệm được ǵ v́ chị c̣n ích kỷ, tham lam và có nhiều ràng buộc quá.Tôi giật ḿnh nhưng là một phụ nữ quen hoạt động, tôi đă trấn tĩnh ngay:

- Ông nói tôi ư? Tôi có nhiều ràng buộc sao?

Baba thản nhiên:- Đúng thế, nêu không tin chị hăy nh́n vào trong ví của chị mà xem.

Tôi lục chiếc ví nhỏ, ngoài các đồ dùng cá nhân lặt vặt trong ví chỉ có mỗi chiếc vé phi cơ về Phi châu ngày hôm sau thôi. Dĩ nhiên tôi phải trở về Phi Châu... Ngay lúc đó một ư nghĩ nổi lên trong đầu óc.

Tôi run giọng:- Ông muốn nói là người ta có thể bị ràng buộc vào một quốc gia, một lục địa, một lư tưởng hay một con chó. Nếu người ta cứ mải miết suy nghĩ về những điều ḿnh muốn nhiều hơn suy ngẫm về những điều cao thượng khác.Quả thế, thời gian gần đây tôi thường nghĩ đến Phi châu, nghĩ đến những công tŕnh mà tôi đă xây dựng tại đây, nghĩ đến những làng mạc hẻo lánh, người người dân quê chất phác hồn nhiên, những nơi chốn mà tôi đă cải thiện được và cảm thấy hết sức hănh iện nhưng tôi không bao giờ nghĩ ḿnh lại bị ràng buộc vào đó.

Không hiểu sao Baba đọc được ư tưởng thầm kín của tôi, ông nói luôn:

- Chị không nghĩ rằng chị đang bị ràng buộc hay sao?

Nếu vậy th́ chị nghĩ sao khi phải từ bỏ tất cả những nơi đó để sống tại Hoa Kỳ?

- Sống tại Hoa kỳ ư?

 Không bao giờ! Không đời nào tôi muốn sống tại nơi mà những giá trị vật chất như tiền bạc, danh vọng được đề cao như giá trị tôi thượng. Không đời nào tôi muốn chyui rúc vào những phiền toái của đời sống mà tôi đang cố gắng thoát ra. Tôi đă đoạn tuyệt với nó từ lâu rồi kia mà.

Một lần nữa Baba nói lớn:- Này chị kia, chính những điều mà chị muốn tránh né đă ràng buộc chị vào những điều khác. Chị không thể trốn chạy măi như thế được, chị có muốn thực sự kinh nghiệm những điều cao thượng tốt lành không?”.

Tôi im lặng, câu hỏi của Baba như có một sức mạnh phá tung tất cả quan niệm từ trước đến nay của tôi. Tôi ngồi im, sững sờ, nhưng trong đầu của tôi là cả một băi chiến trường.

Sau cùng tôi mở ví, rút tấm vé phi cơ đưa cho Baba. Ông này cầm tấm vé phi cơ trên tay và thong thả nói riêng với tôi:- Chị có chắc chị sẽ làm như vậy không?

Tôi biết ông ta đang ám chỉ điều ǵ. Tôi nói qua hàng lệ:- Thưa có, tôi muốn kinh nghiệm được Thượng Đế. Tôi không trở lại Phi châu nữa mà t́m đến một khách sạn nhỏ gần đó tập trung công phu vào việc thiền định và suy nghẫm về sự tự do tuyệt đối, về sự cởi bỏ ràng buộc. Tôi không c̣n nghĩ đến điều ḿnh muốn nữa, không c̣n nghĩ đến quá khứ, đến những phiền toái, những điều mà tôi muốn xa lánh. Tôi chỉ chuyên tâm suy ngẫm về những điều cao thượng tốt lành. Từ khi ư hức được điều này, công phu thiền định của tôi tăng tiến rơ rệt, tôi cảm thấy như được che chở trong một luồng từ điện yên tĩnh an lành nào đó. Nhưng rồi một vọng niệm lại nẩy sinh trong đầu óc tôi, tôi ao ước sẽ an trú trong trạng thái an lạc này măi măi. Ư tưởng đó vừa nẩy sinh tôi đă hối hận nhưng đă muộn, chỉ vài giờ sau, người chủ khách sạn đă đến đập cửa đ̣i tiền và tôi khám phá rằng tôi đă tiêu sạch số tiền dự trữ mang theo.

Để kiếm sống, tôi đành trở lại việc diễn thuyết về đề tài tâm linh. Số thính giả mỗi ngày một đông nhưng tôi vẫn không quên trạng thái an lạc kinh ghiệm được trong khi thiền định. Tôi mong có thể t́m một nơi chốn vắng vẻ, yên tĩnh để an trú trong trạng thái b́nh an đó. Cơ hội đă đến khi một người bạn cho biết anh có căn nhà nghỉ mát nhỏ nằm sâu trong rừng, nếu muốn, tôi có thể sống tại đó mà không phải trả tiền thuê mướn chi hết. Căn nhà này không có những tiện nghi như điện, nước hay ḷ sưởi v́ chủ nhan chỉ tạm trú mỗi khi săn bắn mà thôi.

Tôi vội vă chụp ngay lấy cơ hội hiếm có này.Đời sống tại đây không dễ dàng như tôi nghĩ, hàng ngày tôi phải gánh nước từ một ḍng suối nằm sâu dưới đáy thung lũng lên nhà. Tuy nhiên tôi học cách ư thức từng cử chỉ và hành động của ḿnh và t́m sự b́nh an trong mọi hành động. Tôi thoải mái khi giặt giũ quần áo dưới suối, khi nấu ăn, khi lau nhà và việc tu thiền của tôi càng ngày càng tiến bộ. Tôi nhủ thầm sẽ không đi đâu nữa v́ tôi đă t́m được một nơi trú ẩn thoải mái, đă t́m được điều ao ước từ bao lâu nay. Nếu những bức đă chứng ngộ đều đạt đạo tại những nơi hoang vu cô tịch th́ biết đâu điều đó lại chẳng xẩy ra cho tôi?Một ngày mùa đông, thời tiết lạnh giá, chỉ trong thoáng giây nhiệt độ trong nhà đă sụt xuống đến mức khủng khiếp. Chiếc ḷ sưởi xách tay nhỏ tự nhiên không chạy nữa mặt dù nó vẫn c̣n đủ dầu hôi. Tôi mặc tất cả quần áo vào ḿnh để chống lạnh và thực tập phương pháp Yoga về Nhiệt Công. Không hiểu v́ lư do nào mà mọi ngày tôi có thể chịu đựng được thời tiết giá lạnh nhưng lần này lại khác, một luồng hơi lạnh ở đâu thấm vào cơ thể khiến chân tay tôi đông cứng. Tôi cố gắng tập trung tư tưởng để thiền định, mọi khi tôi có thể nhập thiền dễ dàng, nhưng hôm nay người tôi cứ run lên v́ lạnh. Tôi cố gắng làm tất cả những ǵ tôi biết để chống lạnh nhưng vô hiệu, hơi lạnh như muôn ngàn con dao sắc bén đâm sâu vào da thịt. Tôi bắt đầu lo sợ, từ đây ra đến làng gần nhất cũng phải mất hơn mười cây số, mười cây số đường bộ trong cái lạnh kinh hồn này quả là một thử thách vô cùng lớn lao. Đến gần sáng, không thể chịu đựng nữa, tôi đành thu tập hành trang lên đường. Tôi run rẩy bước đi trong làn gió bấc rét căm căm, toàn thân tôi như bị đông cứng trong cái lạnh kinh hồn. Tuyệt nhiên không một tiếng động nào mà chỉ có tiếng chân lê bước trên con đường ṃn nhỏ phủ đầy tuyết trắng...

Ba giờ sau, tôi dừng chân trước quán ăn ở đầy làng, chưa bao giờ mùi cà phê nóng lại có thể quyến rũ tôi đến thế. Ánh đèn điện sáng choang, tiếng người nói ồn ào, mùi xào nấu thơm phức... Hơn lúc nào hết, tôi ư thức ngay một cảm giác hoan hỉ khi được trở lại với cái thế giới mà tôi vẫn muốn từ bỏ nó. Tôi ngồi trên chiếc ghế bành ấm áp của nhà hàng và ư thức rằng “Tôi đă làm tất cả những ǵ có thể làm để từ bỏ thế gian v́ tôi nghĩ thế gian này và tôi là hai thực thể tách biệt. Cho đến lúc đó tôi mới ư thức rằng tôi chính là một phàn của cái thế gian này và v́ là một phần của nó, tôi không thể tách riêng ra được. Chính sự ham muốn đă thúc đẩy tôi đi t́m tất cả, kể cả những kinh nghiệm tâm linh, nhưng trải qua nhiều biến cố rời rạc tôi mới thấy rơ một sự liên hệ, gắn bó, có ư nghĩa vô cùng.

Tôi đă học được bài học mà tôi phải học”.Tôi trở lại với công việc diễn thuyết, số khán giả mỗi ngày một đông hơn trước. Điều tôi kinh nghiệm được trong buổi sáng mùa đông hôm đó đă dạy cho tôi một bài học vô cùng quư giá. Thật ra những điều này tôi vẫn biết qua sách vở, kinh điển, qua sự dạy dỗ của các đạo sư nhưng tôi chưa thực sự kinh nghiệm được nó, ư thứ được nó. Có lẽ chúng ta không học được bài học mà chúng ta phải học nên chúng ta cứ phải học đi, học lại măi cho đến khi nào thực sự học được điều phải học v́ đời sống tự nó vốn không có tính cách cá nhân. Khi cần phải tĩnh tâm trong sự cô tịch th́ hoàn cảnh sẽ đến với chúng ta, khi cần hành động th́ hoàn cảnh sẽ thúc dục chúng ta hoạt động. Tất cả mọi sự mong cầu, ao ước, dù là ao ước một sự b́nh an cũng đều là những vọng niệm và nếu là những vọng niệm nó cần phải loại trừ.