Nguyễn Trọng Viễn O.P.
Đối với người Kitô hữu, cũng như trong mọi tôn giáo khác, mối tương quan với Thượng Đế, là Đấng cao cả, Đấng làm chủ tể muôn loài…, luôn được diễn tả với tâm t́nh kính sợ hoặc hiếu kính. Ngay đối với cha mẹ, với các vị anh hùng, các ân nhân, thái độ hiếu kính cũng đă là điều đương nhiên phải có. Do vậy, hiếu kính thường được coi như là tâm t́nh "tự nhiên", b́nh thường, quen thuộc và có thể được coi như thái độ tất yếu trong tôn giáo.
Trong truyền thống Do Thái-Kitô giáo, đặc biệt trong Cựu Ước, chúng ta có thể thấy trong từng chương, từng sách những diễn tả về thái độ tôn kính của Dân Chúa đối với Thiên Chúa là Đấng Thánh cao cả…
* "Người phán : Chớ lại gần ! Cởi dép ở chân ra, v́ nơi ngươi đang đứng là đất thánh" [Xh 3,5]
"Người phán : Ngươi không thể xem thấy tôn nhan Ta, v́ con người không thể thấy Ta mà vẫn c̣n sống";
và Mô-sê, tôi trung của Chúa, cũng chỉ được thấy lưng của Thiên Chúa mà thôi [Xh 33,20; xc. 33,18-23]
* "Này Đức Chúa, Thiên Chúa chúng tôi đă cho thấy Người vinh quang và vĩ đại, và chúng tôi đă nghe tiếng của Người từ trong đám lửa. Hôm nay chúng tôi đă thấy rằng Thiên Chúa phán với con người và con người vẫn sống. Bây giờ tại sao chúng tôi phải chết ? V́ ngọn lửa lớn này có thể thiêu rụi chúng tôi. Chúng tôi mà cứ tiếp tục nghe tiếng của Đức Chúa, Thiên Chúa chúng tôi, th́ chúng tôi chết mất. Thật vậy, có người phàm nào đă được nghe tiếng của Thiên Chúa hằng sống phán từ trong đám lửa, như chúng tôi đă được nghe, mà vẫn c̣n sống ?" [Đnl 5, 24-26]
* Ngay mặt của Mô-sê, kẻ được tiếp xúc với Thiên Chúa, cũng khiến dân chúng không dám nh́n, và ông phải mang tấm khăn che mặt khi tiếp xúc với dân [Xc. Xh 34,29-35].
* Đặc biệt là kinh nghiệm của Isaia về một Thiên Chúa là Đấng Ba Lần Thánh [Xc. Is 6, 1-5]
* Trong Tân Ước, chúng ta cũng có thể t́m thấy một vài nơi diễn tả thái độ hiếu kính đối với Đức Giêsu, chẳng hạn :
- "Thấy vậy, ông Simon-Phêrô sấp mặt dưới chân Đức Giêsu và nói : "Lạy Chúa, xin tránh xa con, v́ con là kẻ tội lỗi !" [Lc 8,8].
- "Người môn đệ được Chúa Giêsu thương mến nói với ông Phê-rô "Chúa đó!". Vừa nghe nói "Chúa đó !", ông Si-mon Phê-rô vội khoác áo vào, v́ đang ở trần, rồi nhẩy xuống biển" [Ga 20,7].
Tuy nhiên, ngay trong mức độ con người với nhau, người ta đă có thể thấy thái độ hiếu kính thường trở thành "kính nhi viễn chi". Thái độ như thế là điều rất b́nh thường trong Cựu Ước, chẳng hạn :
· "Họ nói với ông Mô-sê : xin chính ông nói với chúng tôi, chúng tôi mới dám nghe; nhưng xin Thiên Chúa đừng nói với chúng tôi, kẻo chúng tôi chết mất !" [Xh 21,19]
Và ngay trong Tân Ước ta cũng thấy có trường hợp dân chúng kính sợ quyền năng của Đức Giêsu và xin ngài rời xa họ :
· "Bấy giờ, cả thành ra đón đức Giêsu, và khi gặp Người, họ xin Người rời khỏi vùng đất của họ" [Mt 8,34]
+++
Một vài trích dẫn như trên, ít ra, cũng cho chúng ta thoáng thấy một vấn đề, nếu không phải là một thách đố hay một nguy cơ ngay trong chính thái độ hiếu kính "tự nhiên" của con người đối với Thiên Chúa. Liệu chừng một thái độ tự nhiên như thế có thể hoàn toàn thích hợp với tâm t́nh Kitô giáo không? Liệu chừng nhiệm cục cứu độ đặc biệt và "siêu nhiên" của Thiên Chúa có bao hàm một tâm t́nh vượt trên hoặc làm trọn vẹn hơn tâm t́nh hiếu kính b́nh thường của con người trước Thiên Chúa không ?
Trong Đức Kitô, Thiên Chúa đă thể hiện một cung cách khác hẳn với Cựu Ước. Đức Giêsu Kitô sống như một người b́nh thường sống giữa làng Nagiarét; Ngài đến với những người bé mọn; Ngài nói chuyện với phụ nữ Samarie; Ngài để cho người đàn bà tội lỗi đụng chạm tới; Ngài ăn uống với người thu thuế; Ngài công nhận giá trị của những người hèn mọn như bà goá bỏ hai đồng xu vào ḥm tiền…
Toàn bộ đời sống của Đức Giêsu là một cuộc đời của một người nghèo; ở giữa những người nghèo hèn, bé mọn; đụng chạm đến những khổ đau của kiếp người. Một cách nào đó, chúng ta có thể nói rằng, cách sống “lê la” với những người nghèo, cũng như tâm t́nh ưu ái đối với những những người bé mọn, tầm thường tội lỗi tội lỗi, đă “giúp” Chúa Giêsu hiểu ra con đường cứu độ của Thiên Chúa Cha. Ngài vui mừng hớn hở khi nhận ra rằng “tấm ḷng” của Chúa Cha muốn kêu gọi những người bé mọn và gánh nặng :
· "Ngay giờ ấy, được Thánh Thần tác động, Đức Giêsu hớn hở vui mừng và nói : "Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, v́ Cha đă giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết nhưng điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, v́ đó là điều đẹp ư Cha" [Xc. Lc 10,21-22].
Hơn nữa, cung cách ấy không phải chỉ là ḷng thương hại, nhưng là ḷng trân trọng phẩm giá cao quí của những người bé mọn :
· "Anh em hăy coi chừng, chớ khinh một ai trong nhưng kẻ bé mọn này; quả thật, thầy nói cho anh em biết : các thiên thần của họ ở trên trời không ngừng chiêm ngưỡng nhan Cha Thầy, Đấng ngự trên trời" [Mt 18, 10; Xc. Mc 9, 37; Mt 25,31-46]
Tuy nhiên, thời Chúa Giêsu, nhiều người không muốn đón nhận một Đấng Messia với tính cách b́nh thường, mà họ cho là tầm thường, như thế : dân chúng tại Nagiareth không chấp nhận một Đấng Messia có sinh hoạt b́nh thường ở giữa họ; Gioan Tẩy Giả sốt ruột v́ chưa thấy Đức Giêsu làm những chuyện kinh thiên động địa như ông loan báo; những người biệt phái phản đối thái độ Đức Giêsu ăn uống với người tội lỗi, để cho người đàn bà tội lỗi đụng vào người ḿnh; các môn đệ ngạc nhiên v́ Chúa Giêsu nói chuyện với người phụ nữ Samarie; các ông đuổi những đứa trẻ đến với Chúa Giêsu… Phải chăng đó cũng là v́ một quan niệm “kính nhi viễn chi” đối với Thiên Chúa?
Thời Chúa Giêsu, một số đông những người Do thái bị loại bỏ, bị gạt ra ngoài lề xă hội tôn giáo, một thứ tôn giáo theo tiêu chuẩn của người Biệt phái [không giữ được bao nhiêu lề luật tỉ mỉ] hoặc theo tiêu chuẩn của người Saducêo [nghèo hèn là do tội lỗi]. Họ lầm than trong cuộc sống trần thế, đồng thời lại thất vọng về ơn cứu độ của Thiên Chúa. Họ cảm thấy bị trói buộc trong một hoàn cảnh bi đát mà không thể nào thoát ra được. Chúa Giêsu chọn lựa đường lối cứu độ có khả năng mời gọi những người nghèo, người đau khổ, người tội lỗi, người bé mọn, những người không có thể sống đạo bằng khả năng của ḿnh.
Ta có thể thấy rơ ràng Tin Mừng cứu độ của Chúa Giêsu không phải là con đường dành riêng cho những người ưu tuyển, nhưng là con đường ưu ái dành cho những người nghèo.
“Thần Khí Chúa ngự trên tôi,
v́ Chúa đă xức dầu tấn phong tôi,
để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn.
Người sai tôi đi công bố
Cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha,
Cho người mù biết họ được sáng mắt,
Trả lại tự do cho người bị áp bức,
Công bố một năm hồng ân của Chúa”[Lc 4,18-19]
Chúa Giêsu đă khẳng định sứ mệnh của Ngài một cách hết sức rơ ràng :
"...người khoẻ mạnh không cần đến thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Hăy về học cho biết ư nghĩa câu này : Ta muốn ḷng nhân chứ đâu cần lễ tế. V́ tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi"" [Mt 9,12-13; Xc. Lc 4, 18].
Ngài trở nên mục tử đi t́m con chiên lạc và t́m đựơc rồi th́ vác lên vai [Xc. Lc 15,4-7]; Ngài t́m ṭi người tội lỗi như người bà đau ḷng v́ bị mất đồng bạc [Xc.Lc 15,8-10]; Ngài như người cha ngóng chờ đứa con trở về [Lc 15,11-32]…
Ơn Cứu Độ của Thiên Chúa được trao ban đặc biệt cho những người nghèo và những người bé mọn, đó là cách thức Thiên Chúa làm, và chỉ có Thiên Chúa là Cha yêu thương mới có thể nghĩ ra cách thức cứu độ dành cho mọi người như thế :
“v́ Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính” [Mt 5,45]
Chỉ có một Thần Khí của Cha mới có thể mở rộng tấm ḷng để đón nhận những đứa con bé nhỏ của Thiên Chúa :
“Cha của anh em, Đấng ngự trên trời không muốn cho một ai trong nhửng kẻ bé mọn này phải hư mất“ [Mt 18,14; Xc.Lc 15, 1-32]
Chỉ có ơn cứu độ nơi Đức Giêsu, Đấng đă làm người như chúng ta, chịu hết phiền lụy như con người, mới có thể thực hiện chương tŕnh cứu độ bằng t́nh yêu thương như thế:
Trong khi những người biệt phái là những người luôn bảo vệ vinh quang Thiên Chúa, th́ chính Chúa Giêsu lại luôn đứng về phe con người, những người nghèo hèn, bé mọn; và ta có thể thấy rơ Tin Mừng của Đức Giêsu là tin Mừng về một Thiên Chúa từ bi thương xót chứ không phải là một Thiên Chúa oai phong. Chính ở đây, ta hiểu rơ hơn nghĩa “vinh quang” trong tiếng Do Thái. Trong khi ư nghĩa từ "vinh quang" theo theo tinh thần Hy Lạp có nghĩa là được đánh giá; th́ ư nghĩa vinh quang trong tinh thần Do Thái lại là sức nặng, là thực chất được thể hiện trọn vẹn[1]. Theo ư nghĩa ấy, Thiên Chúa vinh quang, trước tiên, không phải là Thiên Chúa được ca tụng, nhưng là một Thiên Chúa yêu thương con người đến cùng. Thánh Irênê đă diễn tả điều ấy cách tuyệt hảo : Vinh quang Thiên Chúa là con người được sống. Chúng ta thấy rơ Chúa Giêsu thể hiện sứ mệnh của Ngài, đồng thời để diễn tả vinh quang Thiên Chúa, theo ư nghĩa như thế, đặc biệt trong Tin Mừng Gioan :
“Khi Giuđa đi rồi, Đức Giêsu nói : Giờ đây, Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người" [Ga 13, 31; Xc. 12,28, 17,1]
Sau bao cuộc tranh luận, để trả lời cho thắc mắc ám ảnh măi của người Do Thái “Ông c̣n để ḷng trí chúng tôi phải thắc mắc cho đến bao giờ ?” [Ga 10,24], luận cứ cuối cùng của Đức Giêsu cũng chỉ là:
“Chiên của tôi th́ nghe tiếng tôi : tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi ban cho chúng sự sống đời đời…” [Ga 10, 27-28].
Lời loan báo Tin Mừng của Đức Giêsu Đức Giêsu không không phải chỉ là một bài học, một bài học luân lư thuần túy mà những người nghèo ước muốn cũng chẳng thể sờ tới được. Tin Mừng ấy không phải là sự thách đố những nỗ lực luân lư. Đạo Chúa không thể nào là con đường khó khăn mà chỉ những người được thừa hưởng một nề nếp giáo dục hoàn hảo, hoặc những người có tư chất tốt mới có thể đi theo được.
Mặc khác, nếu Thiên Chúa chỉ muốn ban cho ta những ơn huệ thông thường như sức khoẻ, may lành, làm ăn phát tài… chắc chắn Ngài không cần cho Con của Ngài xuống thế làm người. Nhưng Thiên Chúa ban cho chúng ta chính Con của Ngài để ở với chúng ta; ư nghĩa đích thực của “món quà” ấy chỉ có thể là : Thiên Chúa muốn trở nên người bạn có thể chia sẻ những vui buồn của cuộc sống với con người. Nẻo đường cứu độ của Thiên Chúa là cho Con của Ngài đến, sống giữa con người, tự hạ để trở nên giống con người, gần gũi để chia sẻ phiền luỵ của đời người. Đó là con đường của mầu nhiệm "tự hủy" chứ không phải con đường khẳng định vi thế vinh quang :
"Nhưng đă hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế" [Xc. Pl 2, 6-7 tt].
Thiên Chúa của nhiệm cục Tân Ước tỏ ḿnh ra là một hài nhi bé bỏng trong hang đá [Xc. Lc 2,1-20]; Ngài hoà ḿnh vào đám tội nhân trong gịng sông Giô-đan [Xc. Mt 3, 13-17]…; và cuối cùng, trong mầu nhiệm thập giá, Ngài thể hiện sứ mệnh cứu độ như một hạt lúa được gieo vào ḷng đất, chấp nhận thối đi để trổ sinh những bông hạt phong phú cho con người [Xc. Ga 12, 24-25].
Tấm ḷng âu yếm đối với những người nghèo hèn không phải chỉ là một con đường, nhưng c̣n là một Người Bạn Đồng Hành trên bước đường đời. Đó là Tin Mừng về sự trợ giúp, nâng đỡ, đồng hành của Thiên Chúa với con người, để giúp con người vượt thắng được tội lỗi, hoá giải được sự hủy hoại của tính ích kỷ, hàn gắn những đổ vỡ do sự ghen ghét gây ra. Chính Tin Mừng về Người Bạn như thế mới thực sự là lời công bố ơn cứu độ của Thiên Chúa, loan báo sức mạnh giải thoát có khả năng giúp con người vượt qua được tội lỗi và vươn đến một đời sống hoàn thiện như Cha trên trời.
Chính cách thức ấy mới có thể đưa ơn cứu độ đến tầm tay những người nghèo hèn, những người đĩ điếm, thu thuế, trộm cướp, tội lỗi. Ngài mời gọi họ tin vào Ngài, thế thôi ! Tin ở đây dĩ nhiên không phải chỉ là một sự chấp nhận của lư trí, nhưng là gắn bó, đi theo, liên đới, hay để cho Thiên Chúa tỏ bày sức mạnh giải thoát của Ngài cho ḿnh. Ngài muốn giơ tay để những ai tin tưởng nơi Ngài có thể “móc nghéo”, “bắt tay” và giao ước với họ trong một giao ước ngôi vị, tạo nên một “cộng đồng ngôi vị”. Với chiều hướng ấy, Thiên Chúa thực sự muốn trở nên một người đồng hành; Ngài tôn trọng phẩm giá của phía đối tác; Ngài không cứu độ con người bằng cách biến họ thành một “lũ ăn mày”[2].
Thực sự, đỉnh cao của nhiệm cục cứu độ không phải chỉ là con người được rỗi linh hồn, theo nghĩa được lên thiên đàng để sung sướng, nhưng là được gia nhập vào gia đ́nh Ba Ngôi để sống hạnh phúc trong t́nh thương. Đỉnh cao của ơn cứu độ chính là Thiên Chúa cho Con của Ngài đến trần gian, đón nhận những người tin như bạn hữu, như anh em, để họ cũng được trở thành con của Thiên Chúa.
“Quả vậy, phàm ai được Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn, đều là con cái Thiên Chúa. V́ Thần Khí mà anh em đă lănh nhận được, đâu phải là tinh thần nô lệ, khiến anh em phải sợ sệt như xưa; nhưng là Thần Khí làm cho anh em nên nghĩa tử, khiến chúng ta được kêu lên : “Áp–ba ! Cha ơi !” [Rm 8, 14-15]
V́ thế, hồng ân lớn lao nhất mà Thiên Chúa ban cho chúng ta, qua Đức Chúa Giêsu Kitô, đó là để “Con của Người làm Trưởng Tử giữa một đàn em đông đúc” [Rm 8, 29b]. Chúa Giêsu muốn gọi các tông đồ là bạn hữu, không phải là nô lệ [Xc. Ga 15,15a], điều đó cho Thấy Chúa Giêsu muốn cùng ta chia sẻ cuộc đời trần gian, muốn cùng bàn bạc, cùng lo toan những vấn đề của cuộc sống chúng ta. Ngài trở nên “Anh Hai”, “Đại ca”. Chính nhờ đó người môn đệ Chúa mới có thể lănh nhận được Thần Khí Nghĩa Tử của Đức Giêsu để có thể kêu lên một cách đúng nghĩa và chân thật “Abba, Cha ơi !” [Rm 8, 14-15]; được thông chia những ǵ thâm sâu nhất trong gia đ́nh Ba Ngôi “tất cả những ǵ Thầy nghe được nơi Cha của Thầy, Thầy đă cho anh em biết" [Ga 15,15b].
Trong khi nhiệm cục cứu độ, nhiệm cục Lời Chúa và nhiệm cục giao ước đều cho thấy Thiên Chúa càng ngày lại đến gần với con người hơn, th́ đời sống trong Giáo Hội lại càng ngày càng tạo ra thêm những khoảng cách. Trong khi Thiên Chúa muốn hoà ḿnh cùng cuộc sống b́nh thường của con người, th́ tâm thức của người tín hữu lại muốn thiết lập thêm nhiều phân cách thứ bậc; trong khi Thiên Chúa càng ngày càng thân t́nh hơn với con người, th́ người tín hữu lại càng ngày càng muốn hiếu kính hơn.
Ta có thể mô tả đời sống đạo sốt sắng của nhiều tín hữu với h́nh ảnh : một gia đ́nh đạo đức, mời cha xứ đến ăn cơm. Trong khi cha xứ đă ngồi vào bàn th́ cả nhà vẫn c̣n ở dưới bếp, đùn đẩy nhau để có được một người “hân hạnh” được ngồi tiếp cha. Chỉ sau khi cha ra về, th́ cả nhà mới ùa lên để cụng ly, ḷng hỉ hả v́ đă thực hiện được một việc hiếu kính, đă thể hiện ḿnh như một đoàn chiên ngoan. Thái độ hiếu kính như thế không phải là xấu nhưng có lẽ đă bỏ mất một điều lớn hơn : cha xứ cần nói chuyện với mọi người trong nhà, để hiểu và chia sẻ nếp sống gia đ́nh hơn là một bữa ăn ngon.
Thái độ hiếu kính như thế thể hiện trong mối tương quan với Thiên Chúa cũng như trong đời sống Giáo Hội.
Với tấm ḷng hiếu kính, người Kitô hữu thường thích đặt Chúa Giêsu lên bàn thờ hơn là t́m thấy nơi Ngài một sự liên đới, đồng hành. Món quà của Thiên Chúa Cha, là Đức Giêsu Kitô được ban như người Anh Cả, người Bạn để cùng liên đới với chúng ta trên bước đường đời, món quà ấy cũng thường bị đẩy lên cao để tôn Ngài làm “cha”. Việc xưng hô với Chúa Giêsu trong ngôn ngữ quá tế nhị của tiếng Việt quả là khó khăn. Ở đây, tôi không muốn nói đến vấn đề ngôn ngữ cho bằng là phẩm chất của mối tương quan. Việc tôn Đức Giêsu là "cha", không phải là chuyện nhỏ, nhưng là bỏ quên điều chính yếu trong nhiệm cục cứu độ của Thiên Chúa. Thái độ ấy chắc chắn kéo theo những hệ quả mục vụ, khiến người Kitô hữu không thể t́m thấy, trong t́nh nghĩa huynh đệ hoặc trong t́nh nghĩa anh em, một người liên đới trách nhiệm là Đức Giêsu Kitô.
Với ḷng hiếu kính như thế, người tín hữu dễ thấy trách nhiệm với Chúa, nhưng khó ḷng thấy được t́nh thương của Ngài; kính phục Ngài chứ ít cảm nhận được sự gắn bó với Ngài; sự hy sinh của Ngài dành cho ḿnh… Thái độ hiếu kính khiến người ta sống đạo theo kiểu nếu ta làm được điều ǵ tốt th́ mang tŕnh với Chúa, c̣n điều ǵ khó khăn th́ ta ráng chịu lấy một ḿnh. Ḷng hiếu kính như thế làm cho đời sống đạo ít khi là niềm vui, mà là nghĩa vụ, là một thái độ có tính cách “kính nhi viễn chi”.
Việc hiếu kính đối với Thiên Chúa, với Đức Giêsu cũng đương nhiên kéo theo thái độ hiếu kính với Đức Mẹ Maria và các thánh, cũng như những người "đại diện cho Chúa". Chính v́ thế, người tín hữu ít sống mầu nhiệm "các thánh cùng thông công", nghĩa là nhận ra những ơn lành Chúa ban cho Đức Mẹ, các thánh chính là những gia sản Chúa ban chung cho Giáo Hội, trong đó có mỗi người chúng ta, để sống sự liên đới trong sứ vụ loan báo Nước Trời. Thay vào đó là thái độ cầu xin những ơn lành như thể những ơn ấy là của riêng các ngài; và cầu xin ơn huệ cho bản thân ḿnh theo kiểu "ăn mày các ơn phúc'.
Chính v́ bỏ quên nhiệm cục cứu độ cứu độ Tân Ước như thế, người Kitô hữu sống đạo cách nặng nề, ́ ạch; không mấy khi t́m thấy niềm vui v́ được Chúa cứu độ mà chỉ thấy an tâm v́ đă chu toàn nghĩa vụ với Chúa. Người Kitô hữu Việt Nam là những Matta...
Ḷng hiếu kính như thế đương nhiên kéo theo và làm gia tăng chiều hướng danh giá trong Giáo Hội. Với Chúa, ta có thể thấy nhiều mầu nhiệm cứu độ được tŕnh bầy theo hướng danh giá, ca tụng vẻ cao sang, siêu vời của Thiên Chúa hơn là biểu lộ nhiệm cục cứu độ[3]; đời sống luân lư đầy những tâm t́nh sợ những tội giông giống với tội "khi quân" trong chế độ phong kiến [chia trí, ngủ gật, …; và ngay cả, một cách nào đó, trong việc phân biệt cứng nhắc về bí tích kẻ sống và bí tích kẻ chết].
Trong sinh hoạt Giáo Hội, thái độ quá tôn kính các "đấng bậc" trong Hội Thánh khiến cho mối tương quan giữa mục tử và đoàn chiên càng ngày càng xa cách. Người linh mục thường sợ người giáo dân "gần chùa gọi bụt bằng anh", hoặc sợ t́nh trạng "cá đối bằng đầu" mà không thấy một t́nh trạng c̣n đáng sợ hơn : giáo dân sợ linh mục. Người giáo dân sợ làm phiền linh mục, sợ làm trái ư linh mục, sợ không dám tiếp chuyện một cách b́nh đẳng với linh mục… T́nh trạng ấy làm cho linh mục dễ trở thành một cán bộ thời bao cấp : ban phát đồng loạt, ban phát theo ư thích của ḿnh chứ không phải theo nhu cầu giáo dân… Ta c̣n có thể thấy nhiều triệu chứng của căn bệnh "danh giá", chẳng hạn những lời xưng hô tréo ngoe [Thiên Chúa được gọi là Cha; giám mục và giáo hoàng th́ lại được gọi là Đức Cha và Đức Thánh Cha...]; việc sáng tạo thêm lễ nghĩa và những lời xưng tụng [Trọng kính Đức Cha…]; đời sống đạo nặng tính cách lễ nghi, thích tổ chức lễ lạc "long trọng"; sáng tạo thêm những lời kinh tiếng hát trong các dịp đại lễ mà chủ yếu chỉ để thêm long trọng chứ không phải nuôi dưỡng đời sống đức Tin của người tín hữu…
Những điều ấy, ít nhiều, lại củng cố thêm t́nh trạng quá hiếu kính trong Kitô giáo và ít thể hiện được nhiệm cục Thiên Chúa ở cùng chúng ta.
***
Ta có thể thấy nét khác biệt nổi bật giữa Cựu Ước và Tân Ước : từ một Thiên Chúa oai phong, đến một Thiên Chúa thân t́nh; từ một Thiên Chúa là vua đến một Thiên Chúa là Cha. Nét khác biệt ấy có lẽ không phải là điều tùy phụ, nhưng là biểu hiện sự tiến triển căn bản của nhiệm cục cứu độ. Như thế, ta có thể nói rằng sự khác biệt của tâm t́nh sống đạo giữa "hiếu kính" và "thân t́nh", có lẽ, cũng không phải là điều tùy phụ nhưng phải là sự thay đổi tâm t́nh căn bản của nhiệm cục Tân Ước.
1. Tâm t́nh hiếu kính với Chúa dĩ nhiên là đáng quí, cũng như thái độ tôn trọng các đấng bậc là một thái độ tốt đẹp; những sinh hoạt, lễ nghi, phẩm trật vẫn luôn có giá trị và lợi ích. Tuy nhiên, trong nhiệm cục Tân Ước, thái độ ấy "cần" nhưng không "đủ". Thái độ hiếu kinh luôn dễ dàng đi quá để rơi vào t́nh trạng "kinh nhi viễn chi", và không theo kịp với nhiệm cục cứu độ của Thiên Chúa. Điều ấy có nguy cơ bỏ mất điều căn bản hơn. Bởi v́, chỉ với tâm t́nh hiếu kính, người tín hữu ít t́m thấy niềm vui chỉ thấy trách nhiệm; chỉ an tâm v́ chu toàn luật lệ mà ít cảm thấy t́nh thương của Chúa; chỉ là nỗ lực thi hành trách nhiệm người Kitô hữu mà không cảm nhận đựơc sức sống từ sự gắn bó với Ngài. Tóm lại, với cách sống đạo hiếu kính, người Kitô hữu dễ an ḷng với những “ân sủng thụ tạo” [những ân huệ của Chúa] mà không khám ra “ân sủng bất thụ tạo” [chính Chúa, chính T́nh Thương hay chính Thánh Thần của Chúa].
2. Mặc khác, ta có thể thấy Thiên Chúa cứu độ con người bằng cách làm triển nở bản tính tự nhiên mà Ngài đă khi khắc trong tâm khảm con người : khi c̣n nhỏ, đứa bé cần cha mẹ, cần người cầm tay dẫn dắt từng bước. Khi lớn lên, con người cần tới t́nh bạn, t́nh bằng hữu và t́nh nghĩa vợ chồng. Do vậy, khi con cái đă lớn, người cha, mẹ lư tưởng chính là người vừa là cha, là mẹ, +vừa là bạn với con cái; t́nh nghĩa vợ chồng cũng thế, lư tưởng nhất là vừa là vợ chồng, vừa là bạn… Thiên Chúa không muốn cứu độ con người bằng cách giữ măi con người trong t́nh trạng trẻ con.
[1] Điển Ngữ Thần Học Thánh Kinh, từ "vinh quang" :
“Trong Thánh Kinh Do Thái, tiếng Kabôd có nghĩa là vinh quang và c̣n bao hàm một ư nghĩa khác là trọng lượng giá trị. Giá trị của một hữu thể trong cuộc sống xác định tầm quan trọng, uy tín và vinh quang của hữu thể ấy. Như thế, đối với tiếng Do thái, khác với tiếng Hy lạp, danh từ vinh quang không nói đến danh tiếng cho bằng nói lên giá trị đích thực, được thẩm định theo trọng lượng”.
[2] Ở đây chỉ muốn nói về một cung cách xin sỏ, không nhằm những người nghèo.
[3] Chẳng hạn trong bí tích Thánh Thể, thay v́ tŕnh bầy một Đức Giêsu "động ḷng trắc ẩn", Ngài không thoả măn với phép lạ hoá bánh ra nhiều, Ngài thiết lập bí tích Thánh Thể để nuôi đời sống dân chúng bằng "bánh" thân thiết và trọn vẹn hơn… người ta lại thường ca tụng sự cao trọng hết sức của bí tích này…