CẢM NGHIỆM

CHÂN LƯ TỐI HẬU

 

Bước Đầu Một Cuộc Đối Thoại Giữa Kitô Giáo Và Phật Giáo

 

Bùi Hữu Thư chuyển ngữ.

 

Lời ṭa soạn: Bài viết này là bản ghi rút ngắn của cuộc nói chuyện của Linh mục Roland Walls với Đại Đức A-Sumedho tại tu viện Phật giáo Amaravati, ở Great Gaddesdon, Hertfordshire, Anh quốc

 

Ø     Đại Đức A-Sumedho đặt vấn đề

Sáng nay, tôi muốn xin cha Roland Walls cho phép tôi tŕnh bày cảm nghĩ riêng của tôi về đời sống tôn giáo, v́ tôi tin rằng hiện nay, rất nhiều người đang bắt đầu lần ṃ đi t́m trở lại một con đường tôn giáo. [1] C̣n các tôn giáo th́ làm như đang bị đóng khung vào trong những lập trường giáo lư cùng truyền thống hiện hành, và như thế tầm nh́n của chúng ta bị cản ngăn, không thể thấy xa hơn được. Vấn đề tôi muốn nêu lên ở đây là: Cái ǵ sẽ xảy tới, nếu không c̣n lời để nói nữa? Và lúc đó, liệu c̣n có kinh nghiệm tôn giáo nữa hay không? Nếu bất thần, tất cả chúng ta đều mất đi khả năng để nói hay để xử dụng các kư hiệu, th́ thử hỏi c̣n có thể có được một kinh nghiệm tôn giáo sung măn và đầy sức soi sáng, vượt ra ngoài biên giới của ngôn từ và kư hiệu hay không?

Tôi được nuôi nấng và dạy dỗ như một người kitô, và tôi nhận thấy rằng đa số chúng ta ở đây đều có kinh nghiệm như thế. Chúng ta đă lớn lên trong một nước theo Kitô giáo, và do đó, không thể nào tránh được sự việc là có một số nhận thức sẽ ảnh hưởng đến lối suy nghĩ của chúng ta, cho dù mức hiểu biết của chúng ta về đạo giáo có ít oi đến mấy đi nữa. Nói cách khác, chúng ta vẫn c̣n thừa hưởng kiến thức giáo lư ấy như là một phần trong di sản văn hóa của chúng ta. Điều này ảnh hưởng đến cách chúng ta suy nghĩ và nh́n về cuộc sống.

Giữa các tín đồ Phật giáo ở Âu châu và Mỹ châu, đôi khi tôi thấy có những người gạt bỏ hẳn Kitô giáo và đă đi t́m chân lư cùng những giải đáp về tôn giáo ở trong Phật giáo, và tôi cũng nhận thấy là họ đau khổ v́ nuôi một thứ thành kiến hay ác cảm đối với Kitô giáo. Như thế là v́ họ thấy những ǵ họ được dạy vẽ về Kitô giáo, đều như thể là không đúng với thực tế và với sự thật. Khi nói chuyện với cha Roland, tôi cảm thấy rằng lời nói, từ vựng và kư hiệu không phải là vấn đề thực sự cần được đặt ra. Như thế là v́ nếu có người thật sự quyết tâm thực hành một h́nh thức đạo giáo, th́ khi ấy, mức độ cảm nghiệm sẽ hết sức sâu thẳm và vượt quá hẳn những quy ước đă được định rơ của tôn giáo. Ngay cả khi chúng ta cố dùng ngôn từ và kư hiệu đặc biệt mà mô tả cho được nó, th́ cảm nghiệm ấy vẫn là một kinh nghiệm khôn tả. Nhưng trong thực tế, c̣n biết làm ǵ hay hơn là dùng ngôn ngữ quy ước hiện có của tôn giáo.

 

v    Linh Mục Roland Walls chia sẻ niềm thao thức: Con Đường nào?

Có một thời, tôi rất thích t́m hiểu về hết mọi h́nh thức của đời sống chiêm niệm, cho dù các h́nh thức ấy có Kitô hay không, và đặc biệt là t́m hiểu các h́nh thức suy niệm của Phật giáo. Kiến thức tôi có về Phật giáo không phải là thuộc loại chuyên môn. Kiến thức này, tôi đă thâu lượm được nhờ có dịp tiếp xúc cá nhân với nhiều người; trong số những người này, có một vị ưu việt nhất mà mới đây tôi được hân hạnh tiếp xúc, đó là Đại đức Sumedho; và cuộc gặp gỡ này đă giúp tôi sống lại mối thịnh t́nh lâu dài mà tôi ấp ủ đối với Phật giáo, cũng như đối với con đường quang khải (the way of enlightenment). Tôi hài ḷng với đề tài chúng ta đang bàn tới, nói về kinh nghiệm cá nhân, v́ như Đại đức đă phát biểu trên đây, cần phải ra sức tránh xa lối trao đổi tư tưởng mà chỉ đứng trên một b́nh diện thuần túy suy lư; bởi lẽ thông thường th́ các tư tưởng chỉ đóng một vai đơn thuần là mở đường hướng đến mức thấu hiểu thực sự. C̣n khi chúng ta nói chuyện với nhau một cách thân t́nh và tự phát, về những ǵ hiện đang xảy ra cho chúng ta, th́ chúng ta sẽ nhận ra là chúng ta đang ở trên những con đường có thể đồng quy về một điểm, và chắc chắn là có thể tương hợp với nhau được.

Ngay cả những tư tưởng suy lư mà thường khi chỉ dẫn đến kết cục là đối chọi, cũng có thể nhường bước trước một cách thức trao đổi kinh nghiệm như thế. V́ vậy, theo cách nghèo nàn của riêng tôi, tôi xin tŕnh bày cùng quư vị về con đường (đạo là đường) trong đó, tôi đă được dẫn dắt đi. Qua cuộc phát biểu này, chúng ta sẽ khám phá ra cách thức một người kitô cảm nghiệm về hai chân lư cuối trong con đường tám lối cao quư của nhà Phật; đó là: chiêm niệm đúng (chính niệm) và chú tâm đúng (chính tỉnh).

Năm 1965, tôi nghe được một tiếng gọi từ trong nội tâm, thối thúc tôi tham gia trào lưu canh tân phục hồi lối sống đạo theo khuôn mẫu và tinh thần b́nh dị của các tu phụ sống trong sa mạc vào các thế kỷ thứ ba, thứ tư và thứ năm của kỷ nguyên kitô. Như quư vị thừa biết, trong quá khứ, đă từng có một t́nh trạng ảnh hưởng hổ tương về mặt văn hóa giữa Kitô giáo bên Đông phương, tức là Chính Thống giáo Đông phương, và truyền thống Tây phương mà phần lớn là do những người Nga di dân sang Paris mang tới, trong thế kỷ này kể từ sau thời Cách mạng.

Năm 1965, cùng với một nhóm nhỏ, tôi lo sửa soạn để lập một skete, tức là một loại tu viện nhỏ, chỉ gồm hai, ba, bốn hoặc năm người; và không bao giờ được quá năm người, v́ tu viện phải sống ẩn danh ẩn dật làm sao để tránh cái cảm tưởng là ḿnh đang làm một điều ǵ đó có tầm ảnh hưởng lớn. Nếu không, chúng tôi lại bị rơi vào trong ṿng ảo tưởng cho ḿnh là quan trọng.

Ngay từ lúc đầu, chúng tôi đă nhận thấy ngay là ḿnh đang đồng nhất hóa với truyền thống nhà Phật, nghĩa là qua các kinh nghiệm riêng của ḿnh, chúng tôi được trao ban cho một khốtàng ba mặt (xin thú thật là tôi cần được Đại đức dẫn giải thêm cho để có thể hiểu biết nhiều hơn về kho tàng vừa nói); ba mặt đó là: vị sư phụ, sangha (Tăng chúng) hay là cộng đoàn, và giáo huấn. Đó là ba trụ cột của cuộc sống chúng tôi.

Có thể nói rằng vị sư phụ là Đức Kitô, Ngài đến với chúng tôi qua trung gian của các người chỉ đạo đă thấu suốt truyền thống và đă dùng hoặc là văn bản hoặc là sự hiện diện trực tiếp mà chuyển đạt đến tận chúng tôi.

Sangha hay là cộng đoàn giúp cho chúng tôi có được ổn định: t́nh trạng ổn định này sẽ tạo tin tưởng cho cá nhân mỗi đan sĩ để biết vững dạ xác tín rằng anh em bên cạnh ḿnh có thể nâng đỡ ḿnh trong những giây phút yếu đuối và không thể thấy rơ được như b́nh thường, hay trong những lúc ḿnh mất hết sốt sắng hăng say và ánh sáng soi dẫn. Sự hiện diện của sangha là một môi trường hỗ trợ mạnh cho bước tiến của mỗi cá nhân.

C̣n lời giáo huấn th́ được chuyển đến cho chúng tôi qua một bộ văn bản gọi là Philokalia. [2] Tôi nhận thấy rằng văn bộ này có rất nhiều điểm tương đồng với truyền thống nhà Phật, đến độ làm như giữa chúng, có một mối liên hệ văn chương nối kết. Philokalia là một tuyển tập các văn bản của các giáo phụ Đông phương kể từ thế kỷ thứ ba cho đến thế kỷ thứ mười ba kỷ nguyên kitô; lúc đầu, văn bộ này chỉ được thu thập theo h́nh thức truyền khẩu, rồi vào cuối thế kỷ thứ mười tám đă được mang sang Nga, và từ đó, đă được phổ biến trong khắp thế giới nhờ các bản dịch qua nhiều thứ tiếng khác nhau.

 

Bây giờ, tôi xin phép được mô tả sơ qua về cộng đoàn của chúng tôi.

 

Chúng tôi đă tậu được Viện Thợ mỏ với giá 800 đồng tiền Anh. Làm bằng tôn dợn sóng, Viện này đă được người địa phương đặt cho cái tên là Nhà Tạm bằng thiếc. Chúng tôi đă t́m được một vị hướng dẫn mà chúng tôi gọi là cha linh hướng, đó là cha Columban Mulcahy, làm viện phụ của một Đan viện Xitô ở cách xa chỗ chúng tôi hai mươi dặm: ngài là một bậc tu hành thánh thiện, đă giúp hướng dẫn chúng tôi trong những năm đầu cho tới lúc qua đời vào năm 1972. Bây giờ, người hướng dẫn của chúng tôi là một nữ tu ḍng kín Anh giáo: Mẹ Mary Clare ở Fairacres, Oxford. Sau khi mua ngôi nhà nói trên, chúng tôi thấy cần phải có một hàng rào im lặng. Thế là chúng tôi đă dựng lên năm cái lều rộng sáu bộ, dài tám tám bộ, ở bên trong khu vườn nhỏ. Không ai có thể sống được trong một diện tích nhỏ hẹp như thế: chỉ có những chiếc quan tài th́ mới nhỏ hẹp hơn thế mà thôi! Ở giữa các chiếc lều kia, chúng tôi dựng lên một ngôi nhà nguyện nhỏ: Chúa được ở trong một lều lớn hơn một tí, rộng tám bộ, dài hai mươi bộ; nhà nguyện rất xinh, nhất là phiá bên trong. Vậy là cả thảy gồm có năm chiếc lều, ngôi nhà nguyện và khoảnh vườn. Ai đă bước vào phía trong hàng rào , th́ cũng đều biết ḿnh đi vào đó để làm ǵ: để suy niệm, để t́m thinh lặng, để tiếp tục tiến bước trên con đường. Ngôi nhà được xử dụng cho cộng đoàn, và cộng đoàn không phải khi nào cũng chỉ gồm có chúng tôi mà thôi, nhưng c̣n gồm cả những ai đến đây nữa. Những lần Đại đức Sumedho cùng với hai người bạn lưu ngụ tại đây: các vị cũng là thành phần trong cộng đoàn chúng tôi. Bởi thế, đă có sẵn, nhưng cộng đoàn cũng vẫn măi măi ở trên đường thành h́nh. Nó có đó khi bạn gia nhập nó, nhưng nó cũng là một thực thể đầy sức sáng tạo; măi măi nó vẫn là món quà bạn đang tiếp nhận, và măi măi nó mang lại nhiều bất ngờ. Không bao giờ bạn biết được cộng đoàn sẽ biến đổi ra sao và ai sẽ gia nhập.

Người nghèo cũng tham gia cộng đoàn. Tôi không nghĩ rằng chúng tôi có thể sống mà không có người nghèo. Hiện thời, chúng tôi có hai người già đang cố gắng để thoát ra cho khỏi cảnh sống lang thang ngoài đường phố: họ đă kéo lê cuộc sống vỉa hè như thế suốt cả đời họ: thoát ra cho khỏi là chuyện rất khó; chỉ có Ban Ngoại chẩn của bệnh viện mới có thể giúp họ làm được việc ấy. V́ vậy, chúng tôi đă nhận hai người già này và để họ sống tại đây cho tới lúc họ được chính quyền địa phương cấp phát nhà cho.

Chúng tôi nhận thấy rằng người nghèo rất cần cho chúng tôi; bởi v́ họ đă sẵn có một sự từ bỏ: đối với họ là bắt buộc, nhưng đối với chúng tôi, đó là một điều tự nguyện cần phải đạt tới cho được. Người nghèo dạy cho chúng tôi biết sống cho giây phút hiện tại, đừng băn khoăn về quá khứ, cũng như đừng lo nghĩ về tương lai, v́ họ không có một tương lai nào cả. V́ thế, họ dạy cho chúng tôi biết tập trung cả tâm trí vào những ǵ đang xảy đến bây giờ đây. Chúng tôi có thể quả quyết rằng việc sống sát cạnh người nghèo là cần cho sự sống c̣n của lối sống chúng tôi đang theo đuổi.

Có thể là khác với truyền thống nhà Phật và cả với phần lớn các truyền thống đan tu kitô, Đức viện phụ Mulcahy đă bảochúng tôi phải lo tự túc ngay từ đầu. Và tôi nghĩ là chúng tôi đă được chỉ giáo rất chư lư đối với hoàn cảnh của chúng tôi. V́ nhờ thế, chúng tôi đă có thể sống ẩn dật trong một làng nhỏ; rồi một người hoặc là một người rưởi có thể làm việc để giúp cho lối sáu người sinh sống, v́ với một phần rưởi lương căn bản cộng với số tiền trợ cấp nho nhỏ của Nhà nước cho tôi, chúng tôi thấy là quá đủ. Như tôi đă tŕnh bày trên kia: chúng tôi là một cộng đoàn nhỏ, và phải tiếp tục nhỏ như thế th́ mới đi đúng với đường lối của truyền thống skete; và phải như thế th́ mới có được yên tỉnh và t́nh người, nghĩa là làm sao mọi người đều thấu hiểu nhau, cũng như nhận ra và tiếp xúc với bất cứ người khách nào đến thăm. Trong một tu viện lớn, có thể có một người khách đến viếng thăm một vài ngày mà nhiều thầy ḍng vẫn không hay biết đến sự hiện diện của người này.

 

Truyền Thống Tĩnh Tọa (Hesychasm)

 

Bây giờ, tôi xin tŕnh bày sơ về truyền thống Philokalia, v́ chính đó là nơi chúng ta có thể hiểu nhau. Truyền thống được gọi là hesychast. Tiếng Hy lạp, hesychia có nghĩa là thinh lặng, không phải chỉ về mặt thể chất mà thôi, và thinh lặng đóng một vai tṛ quan trọng. Truyền thống này xuất hiện kể từ thế kỷ thứ sáu về sau, và có thể đă bắt đầu xưa hơn về trước. Ngôn từ của nó thường giống gần hệt với giọng văn trong các văn bản nhà Phật. Xin trưng dẫn một đoạn trích từ tập Một trăm câu đầu nói về t́nh yêu tức là một trăm câu ngạn ngữ của thánh Maximus Confessor (CE 580-662) [3] :

Bao lâu tâm trí chúng ta chưa mặc lấy thanh trong mà vượt lên trên bản thân của ḿnh cũng như lên trên tất cả những ǵ không phải là Thiên Chúa, th́ bấy lâu chúng ta chưa đạt tới th́ các tư tưởng chỉ đóng một vai đơn thuần là mở đường được mức hoàn hảo thường tồn. Khi nhờ t́nh yêu mà trạng thái cao quư ấy được thiết đặt vào trong chúng ta, th́ chúng ta mới thấu hiểu được sức mạnh của lời hứa. Bởi v́ chúng ta phải tin rằng ở đâu nhờ t́nh yêu mà trí năng chúng ta làm cho sức mạnh của ḿnh đâm rễ vào , th́ ở đó các thánh sẽ t́m thấy được một nơi cư ngụ bất biến. Ai chưa vượt được lên trên chính ḿnh và lên trên tất những ǵ chịu lệ thuộc dưới một h́nh thức nào đó, vào hoạt động của trí năng, cũng như chưa đạt được tới chỗ cư ngụ ở trong trạng thái thinh lặng nằm bên kia giới mức của hoạt động trí năng, th́ người đó không thể nào hoàn toàn thoát cho khỏi t́nh trạng biến dịch được... Giữa muôn vàn sự vật hiện hữu, tất phải có t́nh trạng dị biệt, bất tương đồng và khác nhau. Nhưng trong Thiên Chúa là Đấng tuyệt đối chỉ có một và hiện hữu một ḿnh, th́ chỉ có thể có đồng nhất, đơn nhất và đồng dạng mà thôi.

Và đây, chúng ta có thể đối chiếu những ǵ vừa tŕnh bày với kinh sách nhà Phật. Tôi trưng dẫn đoạn văn trên đây để chứng tỏ cho thấy rằng đó là một điểm có thể bắt gặp chính kinh nghiệm của Đại đức về Phật giáo, kinh nghiệm mà tôi xin Đại đức cho phép được t́m hiểu học hỏi.

Hesychasm - học thuyết tĩnh tọa dựa trên bốn yếu tố chính. Tôi không thể nói là tôi đă có kinh nghiệm về tất cả các yếu tố này đến một độ sâu nào đó đáng kể, nhưng ít ra những ǵ tôi phác thảo ra đây cũng có thể được coi như là một bản họa đồ giúp nhận ra con đường trên đó chúng tôi chỉ mới đi được một vài bước.

 

1.     Trước tiên hesychasm là một cuộc trở về với bản ngă đích thực,

Giữa một thế giới đầy dẫy những lạm dụng, xuyên tạc và ảo tưởng. Trong tập Philokalia, các giáo phụ đă nhắc đi nhắc lại đến điểm này. Ảo tưởng xảy tới khi ta hiểu sai về những ǵ xảy đến cho ta, khi có những nhân tố đưa trí tuệ ta đến chỗ nhận định sai lầm về người khác, về các biến cố và sự vật. Và như thế, rốt cuộc, ta thấy ḿnh đang sống trong một thế giới mà cái ǵ cũng đều bị xuyên tạc và lạm dụng. Tất cả những điều ấy đều do patheia mà ra; patheia là t́nh trạng ham muốn và đam mê đă ăn rễ sâu và có mặt ở khắp nơi. Khi nào chúng ta cũng dựa theo những phản ứng tức thời mà phán đoán về sự vật, về các biến cố và những người khác cả; và như thế chúng ta phán đoán một cách hoàn toàn thiếu óc phê b́nh. Do đó, các phản ứng này dồn ta đến chỗ sống trong những trạng thái tâm hồn như là: ác độc, đầy dự tính đen tối, luyến tiếc, sợ hăi, ham mê, nhục dục và tham lam. Bởi thế, toàn bộ nổ lực luyện tập phải nhắm tới cố gắng kiếm cách để trở về cho được với t́nh trạng apatheia, tức là t́nh trạng không đam mê. Vậy, nếu các kinh thư nhà Phật đă bị những người ngoài Phật giáo giải thích sai, th́ hệt như thế: các văn bản kitô cũng đă bị ngay cả những người kitô chưa thực sự đích thân khám phá, giải thích không đúng. V́ thế mà có chuyện nhiều người quan niệm là chúng ta phải sống theo một lối sống khắc kỷ, cứng đờ như gỗ, và trong khuôn mẫu ấy, chúng ta phải làm cho ḿnh biến thành như là những bức tượng đồng nguyên chất! Thực ra, làm như thế là hoàn toàn đi trái ngược lại với chiều hướng apatheia. V́ apatheia đích thực phải dẫn chúng ta tới t́nh trạng giải phóng, dẫn tới một patheia đích thực. Chỉ có một niềm say mê đích thực độc nhất, đó chính là ḷng say mê của t́nh yêu. Khi đọc kinh sách nhà Phật, tôi đă từng nghe bàn tới một điều gọi là vanapreti. Có thể là tôi nghĩ không đúng, nhưng điều gọi là vanapreti này xem ra đồng nhất với ư niệm về patheia. Từ ngữ nói trên của nhà Phật đă được dịch ra bằng từ ḷng sốt sắng: có lẽ cách dịch này không được chính xác cho lắm. Khi tôi gặp thấy từ này, tôi nghĩ rằng tôi cần phải tra cứu lại các kinh sách nhà Phật mà tôi đă đọc, và tôi đă rất ngạc nhiên khi thấy rằng từ sốt sắng xuất hiện nhiều lần trong các văn bản: sốt sắng theo đuổi con đường đang đi; sốt sắng tỏ ḷng xót thương... Đó là một loại nghị lực, và chắc chắn không phải là thái độ cứng đờ như một khúc gỗ, chỉ biết chống cưỡng lại bất cứ những ǵ là bên ngoài.

Dĩ nhiên, đối với người kitô, bản ngă Đức Kitô chính là sức mạnh nâng đỡ cho toàn bộ cuộc hành tŕnh ḿnh đang thực hiện, và cũng chính là tiêu đích mà cuộc hành tŕnh ấy nhắm tới. Theo nghĩa đen, th́ phải nói rằng có một sự biến h́nh của bản ngă giả tạo, là một bản ngă hời hợt luôn luôn t́m cách can dự vào trong ư thức. Tiêu đích mà trong lúc hướng tới một mẫu người mới, mỗi cá nhân nhắm tới trong đời sống cộng đoàn, là làm chủ cho được bản ngă, là biến h́nh theo mẫu gương của Đức Kitô. Mẫu người mới này được tạc thành h́nh ở nơi Đức Kitô siêu việt, là Đấng đă biến h́nh trên núi, chan ḥa ánh sáng. Ngài là người được soi sáng và cũng là Đấng sáng soi. Thoạt tiên, chúng ta có thể cho rằng điều này không tương hợp với truyền thống nhà Phật; tuy nhiên, trong kinh sách nhà Phật, tôi thấy có ghi lại là trong tư cách là một người được soi sáng, Đức Phật thường được coi như là người soi sáng, là vị thầy hay là vị truyền dạy sự sáng soi. Điều này không đồng nhất hóa với Đức Kitô biến h́nh. Tôi nghĩ rằng có một sự khác biệt rơ rệt giữa tính chất đồng nhất nơi Đức Kitô và t́nh trạng mất đồng nhất tính nơi Đức Phật. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng tiêu đích người kitô nhắm tới, là đạt cho được con đường sáng, nơi đó ánh sáng trở thành ánh sáng thực sự, và ánh sáng th́ trở thành bản ngă. Nếu tôi phải định nghĩa tiêu đích mà tôi mong đạt tới và con đường mà tôi đang đi, th́ tôi sẽ nói rằng tôi mong ước được thấy chính tôi trở thành ánh sáng với ánh sáng, cũng như được thấy bản sắc của tôi ở trong ánh huy hoàng của sự Biến H́nh. Đó là một trong những lư do tại sao chúng tôi đă chọn Sự Biến H́nh làm tước hiệu cho skete của chúng tôi. Sự Biến H́nh của Đức Kitô không những là mục tiêu mà thôi, nhưng c̣n là một tiến tŕnh đưa dần đến mẫu nhân tính được soi sáng. Một lư do khác đă làm chúng tôi chọn tước hiệu Biến H́nh, đó là v́ đúng hai mươi năm trước chính cái ngày chúng tôi bắt đầu thành lập skete, tức là nhằm vào ngày lễ Biến H́nh năm 1945, bom hạt nhân đă rơi xuống trên thành phố Hiroshima: đó là cả một cuộc biến dạng bóp méo bộ mặt con người, và là một cuộc bừng dậy của tử thần. Tôi nghĩ là có một cuộc đối đầu giữa con đường sáng dẫn đến sự sống, và tia kinh hoàng của tử thần xô đẩy vào tối tăm cùng hủy hoại, vào hư vô cùng chết chóc.

 

2. Việc trở về với bản ngă đích thực th́ gồm hàm cả nổ lực tự làm cho chính ḿnh ra trống rỗng đi nữa. Kỷ cương này giống hệt như của nhà Phật, nghĩa là đ̣i phải có một cách thức luyện tập nghị lực riêng của chính ḿnh. Tôi đă nhận được sự giúp đỡ của Đức Kitô là sự sáng của mọi ánh sáng, tuy nhiên, con đường dẫn đến sự sống cũng phải có một h́nh thức hiệp lực, tức là cần phải hợp tác. Dù có yếu đuối, tôi cũng cần phải dùng kỷ luật mà đi con đường riêng của ḿnh. Nếu không, cả thế giới này có giúp, th́ cũng chỉ công toi mà thôi. Nổ lực tự làm cho ḿnh ra trống rỗng không đồng nghĩa với khổ hạnh để khổ hạnh, nhưng đó là một loại khổ hạnh có mục đích tạo cho có chỗ cho nhau. Tôi không thể sống, nếu bạn không cho tôi có đủ chỗ (đang lắng nghe tôi đây là quư vị đang dành chỗ cho tôi vậy). Bạn đang làm cho ḿnh ra trống rỗng đi để tôi có thể sống trong kẻ khác. Bởi v́, tôi không thể sống tự riêng một ḿnh tôi. Tôi cũng phải dành chỗ cho bạn bằng cách chú ư đến thái độ đáp trả của bạn. Tạo cho có chỗ, làm cho ra trống rỗng, trở thành hư không: những điều ấy chính là cuộc sống của tôi. Đó không phải là một cảnh tiêu điều ghê gớm, mà là một khoảng trống có chủ đích.

 

3. Tôi cần phải tỉnh táo mà chú ư tới những ǵ đang xảy ra ở trong trí năng lư tính của tôi. Thường xuyên có đủ thứ chuyện xảy tới, và dường như là tôi không kiểm soát được chúng. Tuy nhiên, cũng có cách để trở thành tỉnh táo đối với những ǵ đang xảy ra. Có một cái tôi sâu thẳm hơn nằm bên dưới cái tôi bên ngoài, và cái tôi sâu thẳm ấy có thể nói không.

Bên trong tiềm thức của tôi, có nhiều điều thoáng hiện lên, và bao lâu chúng chưa trở thành ư thức, th́ tôi không hiểu được chúng. Bởi thế, tôi cần phải thường xuyên tỉnh táo. Tôi không được phép sợ hăi, nhưng phải cảnh giác để không có một điều ǵ xảy ra mà không được ghi nhận lại ở trong tôi. Việc tập trung tư tưởng, việc ư thức và tỉnh táo như thế sẽ t́m được một nguồn trợ lực hữu hiệu ở nơi bầu khư thinh lặng có được nhờ một số điều kiện thể chất bên ngoài, như là: ánh sáng mờ dịu, các tư thế của thân ḿnh, tượng ảnh chẳng hạn một mẫu ảnh Chúa Kitô, đối với người kitô , một ngọn đèn nhỏ, hoặc là một tấm thảm màu nhạt...

Và cả điểm này nữa cũng c̣n cho thấy một nét tương đồng khác đối với Phật giáo, v́ một lần nữa, truyền thống nhà Phật lại dạy cho người kitô biết ư thức nhiều hơn về vai tṛ sinh tử của thân xác. Thân xác cũng khát mong được dự phần vào trong cuộc hành tŕnh của con người. Chúng tôi không dám coi thường hoặc bỏ quên những phương thức truyền thống thường được dùng tới để giúp tạo thinh lặng, nhập định và chú ư trong nội tâm, bởi một lư do rất đơn giản là v́ chúng đă được truyền thống giữ lại!

 

4. Cuối cùng, trong skete của chúng tôi đây, chúng tôi chú trọng rất nhiều đến danh xưng độc từ (monologistic), tức là việc lặp đi lặp lại một tên gọi rất giống với danh xưng nam mô bổn sư của nhà Phật. Trong khi lặp đi lặp lại như thế, tên gọi sẽ trở thành điểm tụ cho việc tập trung tư tưởng, và sẽ tạo ra được một khoảng trống bằng cách trừ bỏ mọi h́nh thức phức tạp và phân hóa có thể xảy tới cho hoạt động của tâm trí. Chính cái tên gọi đọc lên như thế sẽ có sức giúp cho cái bản ngă hời hợt khỏi bị lôi kéo chạy lang lang theo những con đường ngông cuồng. Việc đọc tên thường phải được một cố gắng tập thở ra hít vào đi kèm theo: qua lối thực tập nầy, chính hơi thở, và việc cần phải thở cũng như tính cách vô thức của việc thở sẽ trở thành có ư thức. Dính liền với tên gọi, sẽ có động tác hít danh xưng vào và thở danh xưng ra. Và như thế, tên gọi sẽ làm cho những khuấy động bên trong cũng như bên ngoài lắng dịu xuống, và đưa chúng ta đến với b́nh an cùng giải thoát. Danh thánh Chúa có một sức mạnh thực sự.

Kinh nghiệm cho tôi thấy rằng sau một hồi lặp đi lặp lại tên Giêsu, tôi từ từ di chuyển từ tên Giêsu sang danh xưng Abba (Cha ơi!). Rốt cuộc, "từ ngữ lặp đi lặp lại" (mantra) trong h́nh thức cầu nguyện độc từ này chính là danh xưng Abba.

Dĩ nhiên là không thuộc truyền thống này, nhưng thánh Gioan Thánh giá cũng đă chỉ vẽ giúp cho chúng tôi hiểu rơ về cách thức chiêm niệm theo truyền thống bên Tây phương là nơi thánh nhân c̣n có ảnh hưởng rất lớn. Ngài tóm lược phần lớn những ǵ tôi đă cố miêu tả trên đây bằng từ nada, tức là hư không. Chúng ta đang đi về cơi hư không. Chính con người của tôi phải trở thành hư không: không ǵ khác hơn là khoảng không mà thôi. Và nhờ thế mà ở trong chính khoảng không ấy, tôi trở thành todo: tất cả. Và đây, chúng ta sắp phải bàn đến một vấn đề có tính cách suy luận, đă được bàn căi nhiều mà vẫn chưa t́m ra nổi một câu trả lời cho êm đẹp. Tuy nhiên các Phật tử và người kitô có thể đem so sánh những ghi nhận về kinh nghiệm đối với điều mà thỉnh thoảng chúng ta có thoáng nh́n thấy, nhưng vẫn ở rất xa. Cái ǵ là mục tiêu?

Một cơi hư vô? Phải, v́ đó là nada, là hư không. Vậy mà, ngược đời thay, đó lại là ánh sáng; không phải là hư vô. Trong một tuyển tập các văn bản, [4] tôi đă được đọc biết một Phật tử người Nhật, tên là Honen. Ông sống vào khoảng thế kỷ thứ mười hai. Nếu tôi nhớ không sai, th́ ông ta đă nói đại để như thế này: Hư vô, nhưng không thành phần nào của nó là hư vô cả. Diễn tả theo kiểu tiêu cực, th́ phải nói rằng đó là hư không bởi v́ nó không giống với một cái ǵ trên trái đất này cả. V́ thế, không thể bàn về nó. Nói theo kiểu tích cực, th́ v́ cần nên phải ấp úng thốt lên một điều ǵ đó! Nó là hư vô mà cũng không phải là hư vô. Tôi thiết tưởng rằng cái nada này c̣n gần với nirvana (niết bàn) thực sự hơn là với cái niết bàn hiểu theo lối nhiều người kitô thường hay giải thích sai lầm, coi đó là một cơi hư vô thật sự. Liên quan đến đề tài này, c̣n có cả một rừng vấn đề rộng lớn cần được nghiên cứu, nhưng đó là công tác khó khăn, bởi v́ thỉnh thoảng tôi mới t́nh cờ có được một vài tia sáng trực giác về ư nghĩa của nó.

 

Một Người Thuộc Bản Đồ

 

Kinh nghiệm mà tôi kể lại trên đây, thực sự đă diễn tiến như thế nào trong thực tế? Trước hết, đó là một kinh nghiệm nguy hiểm! Cần phải có sự giúp đỡ của sangha (Tăng chúng), của cộng đoàn, cũng như cần phải có một vị linh hướng, tức là một abba hay staretz. Cần có một người thuộc bản đồ để bằng mọi giá, phải nhận cho ra lộ tŕnh của chuyến đi, và cũng c̣n cần đến một người cũng đi cùng đường, nhưng đă tiến xa hơn một chút và sẵn sàng bước lùi lại đằng sau để giúp đỡ một người anh em. Bởi v́ bản ngă ảo tưởng chính là kẻ thù nằm vùng ở trong mỗi cá nhân.

Nguy hiểm là v́, trên đường tiến đến giải thoát, chúng ta phải đi qua giữa những tư tưởng và năng lực đă từng bị dồn nén vào trong bản ngă ngày trước của ḿnh. Sở dĩ bản ngă cũ này ưa dồn nén, là v́ nó muốn gây cho ḿnh có cảm tưởng là ḿnh cũng tốt. Suốt ngày dài, nếu tôi không cảnh giác, th́ tôi sẽ dồn nén nhiều điều, và, hệt như xưa kia, tôi sẽ cố đậy chiếc nắp trở lại lên trên miệng cái tôi thùng rác của ḿnh! Thế là v́ tôi không ưa coi ḿnh như là thùng rác chỉ chứa có hai phần ba dung tích. Tuy nhiên, việc cố đậy nắp lại như thế có khi cũng làm cho tất cả nổ tung lên. Con đường đưa đến quang khải phải hàm xúc cả sự việc này nữa: là bản ngă đích thực hiện c̣n nằm trong tiến tŕnh hướng tới t́nh trạng một bên là được giải thoát ra khỏi cái đ̣i hỏi buộc phải dồn nén, và bên kia là được giải thoát để trở thành tỉnh táo mà ư thức về các h́nh thức dồn nén kia. Trong nổ lực giải thoát hai chiều này tức là giải thoát cho khỏi nhu cầu dồn nén và giải thoát ngơ hầu trở thành sáng suốt đối với ư nghĩa thật sự của các sự vật, có một mối nguy hằng ŕnh chực, đó là các cá nhân nếu để riêng rẽ một ḿnh, th́ có thể bị lung lạc sâu rộng đến tận gốc rễ. Chúng tôi đă nhận thấy điều ấy ở nơi các tập sinh của chúng tôi. Trước đây, chúng tôi đă có năm người đến sống với cộng đoàn chúng tôi, nhưng họ đă từ giă để đi lập gia đ́nh hoặc để theo đuổi một h́nh thức tu tŕ khác. Một vài người trong họ lúc ra đi, đă tỏ ra phân vân bất định hơn lúc mới đến nhập viện. V́ nếu một người phải ở trong một chiếc lều nhỏ chỉ rộng sáu bộ dài tám bộ, và không có một sinh hoạt nào trong nhà cả, hay là không phải đi làm để sinh sống, th́ đó là một điều rất nguy hiểm; chẳng khác chi cảnh loại nồi hầm nhuyễn thức ăn. Đâu có phải là một cơi lúc nào cũng vui thú! Thỉnh thoảng, có người đến nói là họ rất thèm cuộc sống thanh thản của chúng tôi! Tôi hiểu ư họ, v́ thực sự chúng tôi có được khả năng cũng như những phương tiện để có thể đạt tới một mức độ thanh thản nào đó. Tuy nhiên, con đường dẫn tới thanh thản không nhất thiết phải là một lối đi lúc nào cũng dễ chịu.

Có một điều thứ hai chúng tôi nhận ra khi càng tiến tới trên con đường này, đó là chúng tôi bắt đầu thấy rằng đối với các sự vật, đối với người khác và ngay cả đối với côn trùng, ḿnh không c̣n có một mối quyến luyến nào nữa, mà chỉ có một ḷng xót thương thôi! Việc đầu tiên làm tôi để ư tới sau một thời gian lâu sống trong chiếc lều riêng của ḿnh, là: chiếc lều bị đầy dẫy những mối mọt phá hại ở phía trên mái, và chúng c̣n rơi ngổn ngang trên mọi thứ đồ đạc nữa. Lúc đầu, tôi bực ḿnh và thầm nghĩ sao chúng dám làm thế!. Sau đó, tôi mới ư thức rằng cũng như tôi, chúng có quyền sống trong chiếc lều này. Do đó, tôi đă làm bạn với chúng và c̣n nói chuyện với chúng nữa. Tôi bảo chúng rằng chúng mày cứ ở bên phía chúng mày, c̣n tao ở phía của tao. Nói chung th́ chúng đă giữ đúng như vậy. Một ít năm sau, chúng đă di chuyển đi nơi khác, có lẽ là dời qua một căn lều nào khác, chỉ c̣n một vài con nằm lại để thỉnh thoảng thoảng lại chui ra ḍm tôi! Bây giờ, loại lưu tâm kiểu đó đối với một chi tiết bé nhất của cuộc đời, lại trở thành một món quà đặt trên con đường đang đi, và như chúng ta đều rơ, đó là một món quà hết sức quư giá. Quư giá v́ nó giúp cho vượt thắng được cảm giác ghê tởm đối với nhện chẳng hạn, và cho thấy cảm giác này tan biến, nhường chỗ cho những bước đầu chớm hiểu thế nào là thân phận của một con nhện. Đó là một món quà mà tôi đánh giá rất cao.

Tôi c̣n cũng muốn được nói lên ở đây một kinh nghiệm khác: kinh nghiệm về tự do. Tự do làm cho thoát khỏi mọi lo âu. Cho tới khi vào tu viện, tôi đă từng sống một cuộc sống thật bề bộn. Hồi đó, tôi chỉ biết lo tiếc nuối những ǵ ḿnh đă làm trong quá khứ, hoặc là ước mong cho có một cái ǵ xảy tới, tốt đẹp hơn. Hoặc là lo đến tương lai: coi tôi sẽ phải làm ǵ đây, và làm sao để tiến hành mọi việc cho tốt đẹp. Tôi đă không thực sự sống cho hiện tại. Bây giờ, kinh nghiệm sống trong đường lối tu tŕ này đă dạy cho tôi biết rằng hiện tại là gồm tất cả những ǵ ḿnh đang có đây, và nó có một giá trị hết sức quư báu. Sự thật là thế, không ai chối căi được. Nó nằm ngoài giới mức của đo lường, và không ai có thể nắm giữ nó lại được. Hiện tại qua mất đi trước khi có ai có thể bàn về nó. V́ thế, sống giây phút hiện tại là được tự do. Người kitô sẽ thêm rằng: tự do cho Chúa, tự do cho sự sống, tự do cho ánh sáng.

Cuối cùng, c̣n có sự trợ giúp của cộng đoàn nữa. Các bạn tu sĩ nam và nữ, các bạn đă biết sức mạnh của cộng đoàn lạ lùng đến thế nào rồi. Nó chống đỡ cho chúng ta đứng vững cho dù có yếu đuối. Chúng ta không thể sống mà không có nó dưới một h́nh thức nào đó được. Có lỏng lẻo đến mức nào đi nữa, th́ nó cũng vẫn đem lại sức mạnh hơn tất cả ǵ khác. Thật là tuyệt diệu đời sống cộng đoàn trong đó các bạn đang cùng sống với nhau. C̣n phụng vụ giờ kinh của cộng đoàn, puja, tức là việc ngâm các thánh vịnh và các đoạn Kinh thánh khác theo một giọng trầm dịu, th́ ai trong chúng ta lại không thể hăng hái tham dự suốt hàng giờ cũng được. Các bạn bước vào trong một bầu khư đă có sẵn, để cùng hưởng b́nh an và thanh thản chung với cộng đoàn. Mỗi ngày bốn bận, chúng tôi đến nhà nguyện nhỏ của chúng tôi để nguyện kinh như thế. Tôi không biết điều này có giống ở một điểm nào với bên nhà Phật không, v́ đối với chúng tôi, Thánh Thể với những biểu tượng đơn sơ của việc ăn và uống, là một cuộc "tập trung thánh" trong một cách thức đặc biệt. Chúng tôi được hấp thụ bởi cái mà chúng tôi hấp thụ, một cách mầu nhiệm. V́ một mầu nhiệm chính là điều trái ngược lại với vấn đề. Vấn đề là cái bạn làm chủ được. C̣n mầu nhiệm là cái làm chủ bạn. Như thế, đối với chúng tôi, Thánh Thể là mầu nhiệm trung tâm, là cuộc tập trung và là trạng thái chú tâm hằng ngày. Rồi c̣n có sự trợ giúp của các lời thệ nguyện nữa. Tất nhiên là không nên biến các lời thệ nguyện này thành một hành động nặc mùi pháp lư ghê gớm, một thứ thủ tục cứng nhắc, chỉ có tính cách bó buộc và tiêu cực. Sống khó nghèo, sống từ bỏ và sống tùng phục là sống đượm đầy nhiệt t́nh và ánh sáng. Đó là đường đưa tới tự do.

 

v    Linh Mục Roland Walls đặt vấn đề

Tôi đă cố thực thi điều thánh Tôma Aquinô nói: món quà cao quư nhất của t́nh yêu là chia sẻ ơn huệ của Thánh Linh, bằng cách chia sẻ với các bạn một chút kinh nghiệm về những ǵ đă xảy đến cho tôi trên con đường tôi đang đi. Và từ tất cả những ǵ tŕnh bày trên đây, tôi xin rút ra ba câu hỏi như sau:

1. Cảm nghiệm trên đây tương ứng tới mức nào với hai điểm cuối trong con đường cao quư của nhà Phật?

2. Có thể so sánh cơi hư vô hay nirvana với nada-todo của đường hướng tu đức kitô hay không

3. Xét cho cùng và cho thực tế, th́ đến bao giờ mới có thể có được một cuộc trao đổi hữu hiệu giữa các giới tu tŕ Phật giáo và Kitô?

 

Ø     Đại Đức A-Sumedho chia sẻ

 

1. Tất cả những ǵ một người có thể nói về kinh nghiệm tôn giáo, đều gồm tóm ở trong điều này là kinh nghiệm ấy mang tính chất hết sức cá biệt và chủ quan, nhưng đồng thời cũng phổ quát. Bởi luôn luôn được miêu tả dựa theo cách suy nghĩ và truyền thống riêng của chúng ta, cho nên đôi lúc kinh nghiệm ấy bị hiểu sai, v́ không có ngôn từ cho thích đáng. Do đó, khi hỏi là kinh nghiệm của tín đồ Phật giáo và tín hữu kitô có giống nhau hay không, chúng ta chỉ có thể nói một điều một là nếu thực sự chúng ta có kinh nghiệm về cả hai, th́ lúc đó chúng ta mới biết được. Làm sao tôi có thể biết được cái cảm nghiệm của người khác? Tôi chỉ có thể tin vào những ǵ người ấy nói, và cố gắng san bằng những giới hạn của ngôn ngữ và kư hiệu để mà hiểu. Theo trực giác riêng của ḿnh, tôi thiết tưởng kinh nghiệm ấy không thể nào lại không giống nhau, v́ chân lư tối hậu chỉ có một. Chân lư ấy nhất thiết phải là khôn tả, v́ không có ngôn từ nào , kư hiệu nào thích hợp cho nó cả. Điều này muốn nói rằng chân lư ấy không thể là cái ǵ khác ngoài nơi mà tất cả mọi sự đều chấm dứt, nơi mà các kư hiệu không c̣n có khả năng mang lại được một ư nghĩa nào nữa. Dù chúng ta có miêu tả nó dưới một h́nh thức nào đó hay không, dù chúng ta có gọi tên nó là kinh nghiệm Phật giáo hay Kitô giáo, th́ cũng không có ǵ là khác cả. Đó chỉ là những kiểu diễn tả của loài người. Có lẽ mẫu số chung nằm ở nơi sự kiện này là một thứ kinh nghiệm như thế vượt sang bên kia: bên kia ḷng ích kỷ, bên kia thói ham muốn, bên kia bất cứ loại sợ hăi hay ảo tưởng nào. V́ ánh sáng, trực kiến, quán triệt sự thật chính là nó.

Phương thức tiến hành của nhà Phật là một đường lối tâm lư rất khéo léo; nó hệ tại ở chỗ này, là cứ để cho sự vật cứ rơi rụng đi. Điều này sẽ xảy tới nhờ biết xem xét và khảo sát. Và như thế, các ư niệm về bản ngă không c̣n được coi như là điều chúng ta đă cầm chắc trong tâm năo, mà là điều c̣n cần phải được xét lại. Bản ngă là ǵ? Một khi chúng ta đă để cho tất cả những ǵ ràng buộc trí tuệ rơi rụng đi, th́ cái c̣n lại chính là trí tuệ tinh ṛng. Không thể miêu tả được nó, nhưng nó không hẵn là giống như một chỗ để trống (a blank). Nó sung măn và vẹn toàn. Làm như thế không có nghĩa là vứt bỏ hay là giấu giếm đi một cái ǵ cả. Thực ra, đó là cách thế giúp cho tâm trí khỏi bị những vẻ ngoài hay những điều kiện ràng buộc trí tuệ, lừa bịp.

Trong trường phái Phật giáo Tiểu thừa của chúng tôi, thực sự không có một lối giải thích siêu h́nh học nào cả. Điều này thường bị hiểu lầm, nhất là bởi những truyền thống có giáo huấn nhấn mạnh nhiều về siêu h́nh. Đối với họ, loại Phật giáo này có vẻ như là đi đến với trí tuệ qua con đường lạnh giá của bệnh viện, để hư vô hóa mọi sự ở trong đó cho đến lúc không c̣n ǵ nữa. Không c̣n cảm giác, không c̣n t́nh yêu, hơi ấm cũng không c̣n. Nhưng đó không phải điều sẽ xảy ra. Chính khi từ bỏ sở thích và đ̣i hỏi cá nhân, là lúc chúng ta cư ngụ thật ở giữa ḷng trí tuệ. Ở đó có thuần khiết cùng ánh quang rực rỡ, và chính đó mới là nơi chúng ta bắt đầu cảm nghiệm được những thực tại như t́nh yêu, niềm vui, đam mê cũng như niềm an b́nh đích thực. Hễ càng cố sức bao nhiêu để tạo cho được những điều kiện như thế, th́ chúng ta càng trở thành ích kỷ và nhầm lẫn bấy nhiêu. Chỉ khi biết hoàn toàn từ bỏ mọi ham muốn và mọi chờ mong, th́ chúng ta mới đạt tới được những thực tại kia: trong tinh thần tự hiến và tùng phục trọn vẹn. V́ vậy, nếu chúng ta có gọi điều đó là trống không, th́ nó cũng vẫn là sung măn và vẹn toàn. Nó trống rỗng không phải như là một khoảng chân không, nhưng như là một t́nh trạng không c̣n một bóng ảo tưởng nào nữa. Đó là t́nh trạng của một trí tuệ đang mở rộng ra cho mọi sự. Một trí tuệ c̣n đầy ắp những ư kiến và quan niệm, th́ không thể nào cởi mở được. Chúng ta thường dựa theo thiên kiến riêng mà giải thích mọi việc liên hệ đến cuộc sống chúng ta. Đă chứa đầy ham muốn và sợ hăi, th́ trí tuệ chỉ biết phản ứng lại, chứ không biết ôm choàng hay đón nhận lấy sự sống.

 

2. Có thể so sánh ư niệm nada theo Gioan Thánh giá với nirvana hay không? Tôi không muốn liên hệ nirvana với Thượng Đế. Đôi lúc nirvana được dịch bằng từ tiêu vong (extinction). Hiểu như thế là biến Phật giáo thành học thuyết tịch diệt. Nhưng chúng ta tự hỏi: cái ǵ đă tiêu vong? Ấy chính là ḷng vị kỷ, ảo giác và khổ đau. Để nói về kinh nghiệm của ḿnh, người kitô thường có khuynh hướng dùng đến những biểu tượng có tính cách cá nhân và mănh liệt hơn nhiều.

Bởi thế, hiểu cho được đường lối phủ định (negation) không phải là chuyện dễ như người ta tưởng. Vậy, trong đường lối ấy, chúng ta sẽ chận đứng không để cho trí tuệ theo đà suy nghĩ mông lung. Khi chúng ta phủ định hoặc là nói không, hay nói không phải điều này, không phải điều kia, th́ hành động ấy cũng giúp trí tuệ biết dừng lại không suy nghĩ dài ḍng vô bổ, không bày chuyện và không bành trướng vô trật tự. Cho dù chúng có sức gợi hứng cho trí tuệ, th́ biểu tượng cũng vẫn không tránh khỏi cái bất tiện này là tạo cho người ta có khuynh hướng dính chặt vào với chính nguồn cảm hứng. Chúng có thể giúp ích được nhiều, nhưng là chỉ để làm đà cho bước sơ khởi đi vào đường hướng đúng mà thôi; chứ chúng không một sức năng nào để trợ lực lâu dài cả.

Đằng khác, miêu tả Thượng Đế như là vô sự vật (nothing) th́ có vẻ như là nói rằng không có Thượng Đế. Tuy nhiên, đối với một Phật tử, điều đó muốn nói rằng chân lư tối hậu không phải là một sự vật, hiểu theo nghĩa đen của từ này. Sự vật là những trạng thái: chúng hiện hiện ẩn ẩn, hợp rồi tan; chúng không có thực thể thật sự, và luôn tùy thuộc vào các sự vật khác.

Nếu là một sự vật, th́ Thượng Đế phải là một ảo ảnh. Nhưng nếu chúng ta nói rằng Thượng Đế là vô sự vật, điều đó muốn nói rằng chúng ta vứt bỏ hết đi các định nghĩa và mọi sự vật cũng như mọi trạng thái bất toàn bất hảo. Nếu là người kitô, th́ tôi sẽ nghĩ về Thượng Đế như là vô sự vật, v́ quan niệm như thế th́ hữu ích hơn là cứ khăng khăng nh́n Thượng Đế qua h́nh ảnh của một Đấng Thượng Phụ - Người Cha nhân lành – hiểu chết cứng vào một h́nh ảnh người đàn ông – như một ông bố tr6àn gian với tâm t́nh yêu, giận, ghét!!!

 

3. Hiện đang có một mối quan tâm ngày càng gia tăng, đối với việc đối thoại giữa người kitô và tín đồ Phật giáo, đặt biệt là tại Anh quốc và Hoa kỳ, và nhất là giữa các giới tu sĩ nam nữ. V́ trong đời tu tŕ, chúng ta cùng cảm thấy có một sự dấn thân chung. Tôi cảm thấy rằng đây đúng là lúc cần phải mở cuộc đối thoại về tôn giáo, v́ chúng ta đang có nhu cầu t́m hiểu lại các h́nh thức tôn giáo cố cựu để kiếm cách mà tự cải tân chính ḿnh, cũng như để nhờ đó mà thấu hiểu rơ ràng hơn về kinh nghiệm tôn giáo theo chiều kích đại đồng phổ quát, chứ không phải là theo kiểu nh́n tôn phái hẹp ḥi.

Đầu óc bè phái là điều rất xấu. Mọi thái độ tiếp tay cho những lập trường chia rẽ th́ đều là sai quấy. C̣n t́nh yêu thương là một kinh nghiệm làm cho đoàn kết nên một, và là sở hữu chung của tất cả chúng ta. Dù đó là t́nh yêu đối với Thượng Đế, hay đối với một người nào đó, hoặc là đối với mọi sự vật, th́ vẻ đẹp của nó cũng vẫn là ở chỗ không mảy may kỳ thị. 

 

Chú thích

[1] Đây là bài viết trích từ tạp chí THE WAY, (1987) tt. 88-100. Bài viết này là bản ghi rút ngắn của cuộc nói chuyện của Linh mục Roland Walls tại tu viện Phật giáo Amaravati, ở Great Gaddesdon, Hertfordshire, Anh quốc. Cha Roland Walls đă từng làm giáo sư lâu năm tại các đại học Cambridge và Edinburg, Anh quốc. Sau 41 năm làm linh mục Anh giáo, năm 1981, ngài đă được đón nhận vào trong Giáo hội Công giáo, và năm 1983 th́ được thụ phong linh mục công giáo. Từ năm 1965 đến nay, ngài là thành viên trong Cộng đoàn đại kết Biến H́nh tại Roslin. Lời mở đầu và phần đáp từ là của Đại đức Sumedho, tu viện trưởng Tu viện Phật giáo Tiểu thừa tại Hertfordshire.

[2] Palmer, G.E.H. et al, eds, THE PHILOKALIA, cuốn 1, (London, 1979).

[3] Palmer, G.E.H. et al, eds, THE PHILOKALIA, cuốn 2, (London, 1981) tt. 81 và 83.

[4] Foy, Whitfield: MAN'S RELIGIOUS QUEST (London, 1978), tt. 234 và các tt. sau.