SỰ SỐNG LẠI CỦA CHÚA KITÔ
Hay Là Cuộc Song Đấu Giữa Sự Sống Và Sự Chết
J. Trần Đức Anh, O.P. chuyển ư.
Jean Milet là giáo sư thần học tại Institut Catholique de Paris. Bài viết này trích từ tập chí Esprit et Vie, 1988, trang 97-104, 121-124, 133-139. Chúng tôi ghi ơn tạp chí Esprit et Vie đă cho phép dịch và in bài này.
Trong bài này chúng ta sẽ đề cập đến một vấn đề rất phức tạp là sự sống lại của Đức Kitô: sau khi chịu chết trên thập giá như một cử chỉ yêu thương hoàn toàn để làm chứng cho sứ mạng của ngài, Đức Kitô đă không bị rơi vào ách của sự Chết một cách vĩnh viễn (v́ nếu không, sứ mạng của ngài sẽ là một thất bại). Chúng ta nghe nói: ngày thứ ba, sau khi chịu khổ h́nh, ngài đă sống lại và ra khỏi mồ. Những điều này có ư nghĩa ǵ ? Đó là điều chúng ta cố gắng suy tư dưới đây.
…..(Tạm bỏ 4 đọan đầu …)
V. Ư NGHĨA CHIẾN THẮNG CỦA SỰ SỐNG TRÊN SỰ CHẾT...
VỚI CHÚA KITÔ PHỤC SINH.
Thường thường sự sống vẫn là điều được người ta ca ngợi. Nhưng cũng có một số người cảm thấy sự sống không phải là điều hữu ích, và trong giới khoa học ngày nay, danh từ sự sống bao hàm nhiều ư niệm hỗn độn, mơ hồ. V́ thế, ở đây chúng ta cần t́m hiểu xem có phải sự sống thực sự tự nó là một giá trị từ cao hay không? Đâu là ư nghĩa của sự sống?
1. Sự Sống, Vinh Quang Của Công Tŕnh Sáng Tạo
Đối với đại đa số người Tây phương, sự sống là một điều phúc lợi từ Trời xuống. Nhưng Đối với nhiếu người Đông phương, nhất là những người chịu ảnh hưởng của truyền thống Veda và Vedanta, đặc biệt là ảnh hưởng của Phật giáo, th́ cuộc sống này được coi là điều bất hạnh, đời là bể khổ. Mọi khổ đau bất hạnh chúng ta gặp phải đều phát sinh từ ḷng ham sống tiềm ẩn trong mọi sinh vật. Ham muốn đưa tới lầm than nhiều hơn là tới hạnh phúc. Tại Tây phương, vào thế kỷ 19, triết gia Schopenhauer, cũng đă khai triển đề tài này dựa trên triết học Đông phương, và tư tưởng của ông vẫn c̣n thu hút được một số người tây phương. Schopenhauer nói rằng: "Sống là hành động; hành động là cố gắng; cố gắng là đau khổ; vậy sống tức là đau khổ. Triết gia này đi xa tới độ khuyên người ta tự tử như là một cách hành động khôn ngoan: Người khôn ngoan phải biết thoát ra khỏi cuộc sống như thoát ra khỏi căn pḥng đầy khói.
Những quan niệm trên đây về cuộc sống vẫn c̣n thịnh hành nơi một số đông người Á châu (và nơi một thiểu số người tây phương). Đó cũng là một trong những lư do giải thích tại sao có một hàng rào ngăn cản sự cảm thông giữa những nhà truyền giáo đến từ tây phương với đại đa số dân Á châu. Các dân tộc Á châu này không hề ca ngợi sự sống, v́ làm như vậy có nghĩa là hứa dẫn đưa người ta tới lầm than khổ sở (Xem bài giảng của Đức Phật ở Benarès: Đời là bể khổ...). Nhiều khi người ta không để ư tới những hàng rào ngăn cách sự thông cảm đó giữa đại đa số dân Á châu với Đức tin Kitô giáo. Giữa hai bên có sự hiểu lầm không thể giải trừ được. Đặc biệt khi nhà truyền giáo rao giảng rằng khi sống lại, Đức Kitô đă biểu lộ chiến thắng chung cục của Sự Sống trên sự chết, họ thường gặp thái độ ngỡ ngàng của dân Á châu.
Làm sao chúng ta có thể nói được rằng sự sống tự nó là một cuộc chiến thắng và là một điều tốt đẹp? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta có thể nhờ tới khoa học, nhất là khoa cổ sinh vật học. Theo sự hiểu biết của chúng ta hiện nay trong lănh vực này, th́ lịch sử sự sống đă bắt đầu cách đây hai tỷ rưỡi năm trên trái đất của chúng ta. Hiện tượng này là một thứ phi phàm huyền bí. Sự sống đă và vẫn luôn là một tiến tŕnh tự phát và nội tại, chiếm hữu lấy vật chất ở trong t́nh trạng bất động, như kiểu nói của một trẻ em: bất th́nh ĺnh hạt cát bắt đầu động đậy. Một kích lực nội tại đột nhiên được biểu lộ trong một hữu thể, và vật đó hoàn thành một cái ǵ đó có một ư nghĩa. Hiện tượng này thật là kỳ diệu, kỳ diệu đến độ tất cả các quan sát viên từ Jean Rostand cho đến Teilhard de Chardin và Huxley đă phải kinh ngạc thốt lên lời ngưỡng mộ trước phép lạ sự sống đó. Có hai phép lạ chưa được giải thích và dường như không giải thích được, đă xảy ra trong lịch sử hành tinh của chúng ta: đó là sự xuất hiện của sự sống cách đây khoảng hai tỷ rưỡi năm; tiếp đến là sự xuất hiện của tư tưởng, cách đây Lối hai, ba triệu năm. Đây là hai giai đoạn lớn trong lịch sử hành tinh của chúng ta. Ở đây, chúng ta không muốn chú giải, b́nh luận về những biến cố lớn lao đó, nhưng chỉ muốn t́m hiểu: đâu là chiến thắng của sự sống ? Tại sao khi chiến thắng sự chết và sống lại, Đức Kitô là đại sinh vật, là đấng hằng sống, và ngài hiển trị măi măi ?
2. Sự Sống, Trung Tâm Mầu Nhiệm Vạn Vật
Sự xuất hiện của sự sống đánh dấu một giai đoạn thiết yếu trong hoạt động của Ngôi Lời Tạo hóa (trong khi chờ đợi sự xuất hiện của Tư tưởng). Chúng ta nên dừng lại trước sự huy hoàng của mầu nhiệm này. Suy nghĩ cho cùng, chúng ta thấy sự sống tự nó là một hiện tượng huyền diệu, lạ lùng. V́ từ một Đối tượng vật thể đột nhiên nó trở thành chủ thể độc lập: nó hướng về một mục đích nào đó. Nó xác định hành động của ḿnh. Các triết gia vẫn cố gắng t́m hiểu xem ai là người hướng dẫn hoạt động của các sinh vật đó, nhưng họ chỉ nêu lên được vấn đề mà không giải quyết được. Triết gia Aristotê xưa kia đă nói: Sự sống là một chuyển động tự phát và nội tại. Từ đó đến nay, người ta vẫn chưa nói hơn được, tuy rằng người ta đă mặc cho câu nói này những sắc thái khác nhau. Người ta cũng không hoàn toàn giải thích được nó. Và, như Bichat đă nói trên đây, khi chúng ta quả quyết: Sự sống là toàn thể những chức năng chống lại sự chết, nói như thế, là chúng ta chỉ đưa ra một nhận xét thực tế, chứ chúng ta không giải thích ǵ cả. Chúng ta chỉ ghi nhận rằng sự sống luôn luôn chống lại quán tính (về phương diện nhiệt động, lư hóa và năng lưọng), mà không giải thích hoàn toàn được hiện tượng huyền bí đó.
Ở đây, để tôn trọng hoàn toàn sự khách quan, chúng ta cũng phải đề cập đến những cố gắng gần đây của những nhà bác học, nhằm giải quyết mầu nhiệm sự sống. Ví dụ như những phân tích nổi danh do nhà vi sinh vật học (microbiologiste) Jacques Monod đưa ra vào năm 1971, trong cuốn sách nổi tiếng của ông, tên là Le hasard et la nécessité. Sự sống chỉ là cái phát sinh từ sự kết hợp của hàng tỷ tỷ những nhân tố theo hàng tỷ tỷ những phù hợp khác nhau, và sự sống phát triển một cách t́nh cờ. Xét v́ có vô vàn những phân tử được kết hợp với nhau, nên chúng nhất thiết phát sinh ra những hữu thể có một hướng đích nào đó.
Luận đề trên đây đă có thời được coi là thành công. Nhưng ít lâu sau, cũng vào năm 1971, một nhà vi sinh vật học khác, (Francois Jacob) cũng từng được giải Nobel (với giáo sư Lwoff), đă vạch rơ những giới hạn và khuyết điểm trong luận đề của ông Monod. Trong cuốn La logique du vivant, cũng nổi danh như cuốn của Monod, F. Jacob minh chứng rằng nêu lên sự t́nh cờ để giải thích nguồn gốc sự sống là điều vô ích. V́ sự sống không phải chỉ là một kích động thuần tuư của các phần tử. V́ ngay trong các phân tử, người ta đă thấy có trật tự rồi (như cái gọi là intégron), chứ không phải là t́nh cờ. Ở đây có một thứ hướng đích (télénomie). V́ thế, sự sống là một dự án, là một ư muốn hiện hữu và hiện hữu tốt đẹp hơn, chứ không phải là kết quả của sự t́nh cờ.
Dựa trên những dữ kiện trên đây, chúng ta suy tư về ư nghĩa của sự Sống lại, dưới khía cạnh triết lư. Ở đây, Đức Kitô xuất hiện như một đại sinh vật. Hơn nữa, như ngài đă nói nhiều lần, ngài đến để mang lại sự sống: Ta đến để họ được sống, và được sự sống dồi dào (Gioan 10, 10). Do đó, Sự Sống lại phải được chúng ta quan niệm như một cuộc tuyên dương sự sống. Nhưng sự tuyên dương này xảy ra theo nghĩa nào ?
3. Tuyên Dương Sự Sống... Trong Sự Sống Lại
Trong tư tưởng và hành động của Đức Kitô người ta không hề thấy dấu vết bi quan nào, như trong tư tưởng Phật giáo. Ngài không ngừng tuyên dương sự sống: sự sống của chim trời, của súc vật ngoài đồng; sự sống của những người hoạt động ở Galilêa hay ở Giudêa: những người chài lưới, những bách quân quan, những công chức; sự sống của những người sắp chết cần hồi sinh, hoặc những người đă chết cần cho sống lại. Ngài tuyên dương t́nh yêu và vợ chồng mắn con. Ngài coi sự chết là một thất bại: v́ thế chiến thắng là làm cho đứa con trai bà góa được phục sinh và giao lại cho bà mẹ anh ta, hoặc phục sinh một người thân của ngài như ông Ladarô.
Nhưng ngoài sự sống thể lư ra, Ngài c̣n nhắm đến sự sống của linh hồn nữa. V́, nói theo kiểu của các triết gia, Đức Kitô biết rơ sự sống trí thức là h́nh thức cao nhất của sự sống, vượt lên trên sự sống cảm giác hay sự sống của cây cỏ. Sự sống trí thức có tột đỉnh là sự chiêm niệm và đây là sự sống khẩn trương nhất và đồng thời cũng là sự sống độc lập nhất. V́ linh hồn khi chiêm niệm, nó động viên mọi năng lực của con người và hướng chúng về sự siêu việt của Thiên Chúa.
Đức Kitô đă nói đúng và ngài thường minh chứng rằng Maria là người sống động hơn, so với Martha, tuy rằng Martha làm việc nhiều: Maria đă chọn phần tốt hơn. Thực vậy, chiêm niệm là h́nh thức sống cao hơn mà Đức Kitô sẽ thực hiện sau khi sống lại. Ngài minh chứng rằng những thời kỳ trước đó của cuộc đời chỉ là những giai đoạn để đạt tới t́nh trạng cao độ đó. Ngài đă nói với các môn đệ trên đường làng Emmau: Đức Kitô đă chẳng phải chịu đau khổ để đạt tới vinh quang hay sao?. Đối với tất cả mọi người, sự sống lại của ngài loan báo cho biết Thần trí sẻ đến, Thần trí yêu thương, Thần trí sự thật; Thần trí đó là chính hơi thở của đời sống chiêm niệm.
Luôn luôn kẻ thù vẫn là sự chết: sự chết làm son sẻ, làm cho cứng nhắc và lạnh lẽo, làm cho bất động. Trạng thái đó Đối ngược lại với Sự sống chiêm niệm, v́ sự sống này vốn là ḷng nhiệt thành, nồng hậu và phong phú thiêng liêng. Qua cái chết và sự phục sinh, Đức Kitô đă trả lại mọi quyền lợi cho sự sống, sự sống dưới tất cả mọi h́nh thức, từ h́nh thức thực vật, cảm giác cho đến sự sống trí thức và chiêm niệm. Khi làm như vậy, Đức Kitô trở thành chủ tể của sự sống.
4. Đời Sống Của Chúa Kitô Phục Sinh
Đâu là bản chất sự sống của Đức Kitô phục sinh? Chúng ta cần t́m hiểu vấn đề này, v́ có lẽ sự sống của ngài cũng sẽ là sự sống của chúng ta sau khi được sống lại, như ngài đă hứa cho chúng ta.
Đâu là trạng thái thể lư của Đức Kitô, sau khi ngài sống lại và tái xuất hiện giữa các môn đệ của ngài? Trên đây chúng ta đă nói sự hiện diện của ngài thực sự có tính cách thể lư, chứ không phải là một bóng ma, hoặc một phóng ảnh tưởng tượng nào. Đức Kitô vẫn hiện diện bằng xương bằng thịt giữa các môn đệ của ngài. Tuy nhiên, sự hiện diện của ngài trong hoàn cảnh này có một sắc thái đặc biệt: trọng lực không c̣n giữ vai tṛ quan trọng nữa, sự cản trở của vật chất cũng không c̣n Đối với thân xác ngài. Tuy nhiên, tất cả các đặc tính khác của con người vẫn c̣n đó: ngài hiện diện trước mặt ngưới khác, nói, truyền lệnh, yêu mến, phán đoán và có những khả năng khác như mọi người.
Chúng ta phải nghĩ ǵ về t́nh trạng như vậy ? Ở đây chúng ta có thể gợi lại một số nhận xét về t́nh trạng thể lư của một số nhà thần bí nổi tiếng: ví dụ như thánh Phaolô được cảm thấy như ở tầng trời thứ ba; Thánh Phanxicô Assisi được chịu 5 dấu thánh; Thánh nư Têrêxa Avila và Thánh Gioan Thánh Giá được xuất thần... Những trường hợp như thế vẫn c̣n xảy ra.
Tuy nhiên, chúng ta không nên ngạc nhiên trước những trường hợp lạ như thế. V́ thử hỏi quả thực chúng ta biết ǵ về những tính cách sâu kín của năng lượng và vật chất? Chúng ta chỉ quen nhận diện những trường hợp thông thường của vật chất. Nhưng những trường hợp này rất là tương Đối. Các lư thuyết gia về môn vi vật lư (microphysique) gần đây đă bác bỏ những dữ kiện trước kia vẫn được coi là sự thật hiển nhiên. Người ta không c̣n do dự ǵ nữa khi nói đến những hoạt động từ khoảng cách xa (thần giao cách cảm), về tính cách hoán chuyển được của những nguyên nhân, kể cả thời gian cũng có thể hoán chuyển được.
Trưng dẫn những dư kiện đó ở đây, chúng tôi không muốn đi sâu hơn vào vấn đề này, nhưng chỉ muốn nói rằng những điều chúng ta đă và đang biết về các thực thể vật chất th́ thật ra vô cùng ít ỏi so với những điều chúng ta chưa biết về chúng. Điều mà những người thường coi là không thể xảy ra được, lại là điều mà những nhà đại chuyên môn coi là có thể xảy ra. Có lẽ ở đây nên lập lại câu danh ngôn: Biết ít kiến thức khoa học, người ta xa Thiên Chúa; càng đi sâu vào khoa học, người ta càng đến gần ngài.
Điều mà chúng ta đang biết về cơ thể con người, thật ra rất ít so với những huyền nhiệm c̣n tiềm ẩn trong cơ thể con người. Những tiềm thể của nó thật là bao la so với những điều chúng ta hiểu biết hiện nay. V́ thế chúng ta hăy chấp nhận rằng trong một số hoàn cảnh, cơ thể con người có thể thoát được trọng lực, vượt được sự cản trở của vật chất... Trong thế giới vi vật lư học và vi sinh vật học, người ta nói nhiều đến hiện tượng tâm lư vận động (psychocinèse) và coi đây là điều có thể chấp nhận được. V́ thế chúng ta không nên la lối, phản đối khi người ta nói đến sự tái sinh của thân thể Đức Kitô khi ngài sống lại. Chúng ta không ở trong thế giới ma thuật, nhưng ở trong thế giới siêu kinh nghiệm. Và thế giới này không có giới hạn.
Do đó chúng ta có thể coi t́nh trạng thể lư của Đức Kitô phục sinh ở trong viễn tượng siêu-khoa học (chứ không phải là phi khoa học). Có thể nói được Đức Kitô phục sinh ở trong trạng thái tiền chờ đợi so với toàn thể nhân loại. Về phương diện triết học, khoa học và thần học, chúng ta có thể nói được rằng Đức Kitô phục sinh là mầm mống sự sống lại của chúng ta trong tương lai.
Linh hồn đạt tới mức độ hiện sinh khẩn trương đến nỗi xâm chiếm toàn thể các nhân tố cấu thành thân xác và mang lại cho chúng những đặc tính chưa được biết tới nhưng vẫn đoán được. Chúng ta hăy nghĩ tới hành động của những nhà thần bí (ví dụ như thánh nư Têrêxa Avila, thánh Gioan Thánh Giá, thánh nư Catarina thành Siena, hay thánh Angela de Foligno). Những sự kiện liên quan đến các nhà thần bí đó là những sự kiện lịch sử (như ông Darmester, Shuré, Bergson, v.v. đă chấp nhận), và nó chứng tỏ rằng khi linh hồn xâm chiếm toàn thân xác, th́ có thể xảy ra những hiện tượng lạ thường. Nói tóm lại, chúng ta nhận thực rằng t́nh trạng mà chúng ta thấy trước mắt liên quan đến chất thể, thân xác con người, chỉ là một trạng thái nhất thời, chóng qua. Sự sống đến từ những trạng thái rất thô sơ cách đây hai ba tỷ năm (khoảng thời gian này dài kinh khủng, vượt ra ngoài óc tưởng tượng của trí khôn); nhưng sự sống đó có thể có những trạng thái khác trong khoảng thời gian dài hoặc ngắn hơn thời gian vừa nói. Trong bối cảnh đó, chúng ta có thể quan niệm được sự sống lại của Đức Kitô là một sự báo trước sự sống cao hơn nhiều so với sự sống hiện nay của loài người.
Sức mạnh của tinh thần gia tăng, và vật chất như bị thu hút vào tiến tŕnh tinh thần hóa như vậy. Đức Kitô phục sinh, nói theo kiểu của thánh Phaolô và của Teilhard de Chardin, là plêrôma" (sự sung măn) của nhân loại, là h́nh thức đời sống mai hậu của con người, sau khi công tŕnh cứu độ hoàn toàn kết cục. Đức Kitô phục sinh là h́nh ảnh nhân loại sẽ được vinh quang vào thời đại cánh chung.
B. Đức Kitô Sống Lại Là Mầm Mống Của Mọi Sự Phục Sinh Khác
Tất cả những ǵ chúng ta vừa nói trên đây có liên hệ trước tiên tới Đức Kitô. Nhưng chúng ta có thể coi trường hợp của ngài là mẫu thức sự sống lại mai sau của toàn thể nhân loại. Thực vậy, như chúng ta đă thấy, Đức Kitô phục sinh cũng có một vài đặc tính của thân phận làm người. Trạng thái thân xác như vậy cũng có thể là t́nh trạng thân xác của loài người trong từng ngàn năm sau này. Nhưng ngài c̣n có một thân xác thiêng liêng. Và rất có thể, đó cũng là thân xác của con cái của chúng ta trong tương lai xa vời; giả thuyết này đâu có vô lư.
Thánh Phaolô đă nói: Chúng ta sẽ sống lại với thân xác không hư nát nữa (1 Cr 15,54). Từ kinh nghiệm những ǵ đă xảy ra cho Đức Kitô, chúng ta có thể rút ra được những ư niệm về tương lai của chúng ta. Điều chắc chắn là thân xác thể lư này sẽ không hoàn toàn biến mất; cho nên phải bỏ học thuyết của Platon.
Người ta có thể quả quyết chắc chắn rằng chính nhân vị đích thực và trọn vẹn của chúng ta sẽ sống lại. Thế mà nhân vị chúng ta được cấu thành bằng cả xác lẫn hồn. Chính nhờ thể xác mà chúng ta được một chỗ đứng trong không gian và trong thời gian . Chính nhờ thân xác mà chúng ta đang ở đây và lúc này hic et nunc. Sự có một chỗ đứng trong không gian và thời gian như vậy là đặc điểm riêng của mỗi người chúng ta. Nhân vị của chúng ta nhất thiết vừa có xác vừa có hồn. Không thể nào tưởng tượng được có sự tách biệt hai nhân tố đó. Trong những điều kiện như vậy, cuộc sống mai hậu của con người vẫn phải bao gồm hai nhân tố xác thể và linh hồn, hay nói theo kiểu triết học Hy lạp, đó là một cuộc sống tâm vật lư (psycho-somatique). Chính v́ thế chúng ta thấy luận đề của Kitô giáo về sự sống lại là điều mà lư trí có thể chấp nhận được, cho dù các triết gia Hy lạp có chế nhạo, như đă chế nhạo Phaolô ở Hội trường thành Athênê xưa kia. Đó là luận đề mà mọi nền triết học lành mạnh và cả khoa học nữa cũng có thể chấp nhận được. Tất cả đều góp phần biện minh cho sự sống lại của thân xác.
V́ thế chúng ta có thể nói được rằng sau khi sống lại, Đức Kitô đă xuất hiện như người vừa có xác lẫn hồn; làm như vậy ngài cho chúng ta biết đó cũng là t́nh trạng của bất cứ sự sống lại nào. Chúng ta có thể chiêm ngưỡng nơi ngài mẫu thức cuộc sống lại mai sau của chúng ta. Ngài cũng chứng tỏ rằng cả chúng ta nữa cũng có thể chiến thắng được sự chết, vốn là kẻ thù truyền kiếp của loài người và mọi sinh vật. Như vậy, Đức Kitô phục sinh chính là bảo chứng và kiểu mẫu của sự sống lại mai sau của chúng ta. Chúng ta cũng sẽ được sống lại như ngài. Chúng ta cũng sẽ được một h́nh thức sống mới và chúng ta sẽ sống măi măi như ngài.
VI. LINH ĐẠO PHỤC SINH
Qua những phân tích trên đây, để giúp nhận định cho dễ chúng ta đă phải tŕnh bày sự sống lại của Chúa Kitô như một sự kiện quá khứ, và sự sống lại của chúng ta như một điều sẽ xảy ra mai sau. Nhưng thực tế không phải như vậy. Tất cả những hiện tượng mà chúng ta đă nghiên cứu trên đây, đều ở ngoài thời gian, vượt ra ngoài những bó buộc của thời gian và không gian. Do đó, chúng ta có thể nói được rằng sự sống lại của Đức Kitô và của chúng ta là cùng thời với nhau, nghĩa là giữa hai hiện tượng đó không có khoảng cách.
V́ thế, chúng ta có thể nói về sự sống lại của chúng ta như một hiện tượng ngay từ bây giờ đang hiện diện nơi thẳm sâu của con người chúng ta. Nhờ sự sống lại của Đức Kitô, chúng ta được mang trong ḿnh mọi tiềm năng của sự sống lại mai hậu rồi. Dưới đây chúng tôi nói rơ hơn về điểm này.
1. Chúa Kitô, Bảo Chứng Chắc Chắn Chúng Ta Sẽ Sống Lại
Tất cả những dấu chỉ liên quan đến cuộc sống lại của chúng ta đă được ghi trong sự sống lại của Đức Kitô rồi. Đức Kitô đă từng tuyên bố ngài là Sự sống và ngài đến để cho nhân loại được sống sung măn. V́ thế, nơi ngài đă chứa đựng mọi năng lực để chiến thắng sự chết. Sống với Chúa và bởi Chúa, tức là bước vào trong nguồn mạch sự sống.
Ngoài ra, cần phải nói thêm rằng trong sâu thẳm của mỗi người chúng ta đă có tiềm ẩn những nguyên lư của sự sống lại. Nguyên lư đó đă được ghi vào trong ơn gọi của mỗi người chúng ta. Và như thế, sự chết của chúng ta có tác dụng thanh tẩy những chất phế thải vô ích và chóng qua, để sau cùng làm tỏ lộ bản sắc sâu xa của chúng ta, biểu lộ lư do hiện hữu của mỗi con người. Điều bị tan biến trong cái chết của chúng ta, đó là cái con người bề ngoài của chúng ta, những nhân tố gắn liền chúng ta vào vị thế địa lư và lịch sử, là những nhân tố phụ thuộc. Sau cái chết, bản chất sâu xa của chúng ta được tỏ hiện. V́ thế sự chết Đối với chúng ta là một sự hoàn tất.
V́ vậy, sự chết không thêm không bớt ǵ. Nó chỉ giúp làm nổi bật một bản sắc sâu xa vốn tiềm ẩn trong mỗi người. Nói tóm lại, đó là ơn gọi riêng của mỗi người. Gioan Maria Vianney không trở nên cha sở họ Ars trong một sớm một chiều. Ngài đă phải loại trừ rất nhiều điều nơi ngài, ngay từ khi c̣n nhỏ. Trong mỗi giai đoạn của tiến tŕnh thanh tẩy như vậy, ơn gọi của ngài được củng cố thêm. Đối với các vị thánh khác cũng thế. Chúng ta cũng có thể nói như vậy được Đối với mọi người: trong mỗi giai đoạn của cuộc đời, chúng ta đều đang phác họa cuộc sống lại mai sau của chúng ta. Chúng ta đang tiến đến sự sống lại. Đây cũng là ư tưởng ṇng cốt chúng ta thấy diễn tả trong Kinh thánh. Sự sống lại đang hiện diện trong chúng ta ở trạng thái khởi đầu quaedam inchoata vita, một cuộc sống đă được bắt đầu một cách nào đó.
2. Những Mầm Mống Sự Sống Lại Của Chúng Ta Ở Đâu?
Nhưng làm sao để khám phá ra những mầm mống sự sống lại của chúng ta? Ở đây chúng ta cần tránh Lối giải thích dễ dàng của chủ thuyết Platon. Chúng ta đừng tưởng rằng ḿnh phải đi t́m cái ǵ có vẻ là bất tử trong con người chúng ta. V́ làm như thế chúng ta sẽ đi tới chỗ chọn lựa những đặc tính như tư tưởng, luận lư, kiến thức trừu tượng, là những đặc tính chung chung của mọi người, nhưng không phải là đặc tính riêng của riêng từng người chúng ta. Điều sẽ sống lại nơi chúng ta không phải là trí tuệ, hiểu theo nghĩa một cơ năng; nhưng là nội dung của trí tuệ với h́nh dạng chúng ta đă nắn nót nên. Nói khác đi, chính chủ thể tư duy, hành động trong chúng ta một cách không ai có thể bắt chước, chính cái tôi đặc thù một không hai: ấy là bản ngă sẽ sống lại.
Chính v́ thế, chúng ta phải đi t́m cái dự án tiên khởi trong chúng ta, ở sâu thẳm nhất trong chúng ta. Theo ư nghĩa này, th́ câu nói của Socratê: Hỡi người, hăy tự biết ḿnh đi, là câu nói rất thích hợp ở đây. Nói khác đi, chúng ta hăy trở thành những người duy sáng tạo: bạn đă được tạo dựng để mang những dấu vết riêng trong bản hợp ca bao gồm ơn gọi của toàn thể mọi người, để ca ngợi Thiên Chúa, huy hoàng hơn những v́ sao.
Nói cho cùng chính những sắc thái phong phú của các ơn gọi khác nhau đó biểu dương vinh quang khôn lường của Thiên Chúa. Đồng điệu là nghèo nàn, c̣n khác biệt thiên h́nh vạn trạng là phong phú. Và mỗi người trong chúng ta, dù hèn mọn đến đâu đi nữa, đều mang lại một tia sáng mới đặc biệt góp vào trong vinh quang sáng ngời của Thiên Chúa.
Để t́m lại bản sắc riêng của mỗi người, cần phải thanh tẩy, xua đuổi bóng đêm và mọi mây mù che phủ không cho chúng ta nhận thấy được ngọn lửa tí hon ấy. Đó là cách thức t́m ra những mầm mưng sự sống lại của chúng ta. Để thi hành điều đó, cần phải b́nh tĩnh, thinh lặng, thanh thản, suy tư.. và cầu nguyện. Cũng cần phải có thời gian nữa. Thánh Augutinô đă t́m kiếm lâu năm. Pascal cũng vậy. Charles de Foucauld t́m kiếm c̣n lâu hơn nữa. Nhưng sau cùng họ đă thấy. Chúng ta hy vọng không phải đợi lâu như vậy. T́m ra rồi c̣n phải trung thành nữa, v́ đó là công tŕnh của suốt cả cuộc đời.
3. Sống Như Người Đă Phục Sinh
Nếu ngọn lửa tí hon nội tâm ấy là ơn gọi chúng ta tiến về vĩnh cửu, ắt chúng ta phải dồn hết ư chí về với nó. đó chính là lư do hiện hữu của chúng ta. Mục tiêu cao cả đó cũng phải là nguồn mạch phát sinh mọi tư tưởng và hành động của chúng ta. Nói khác đi sự sống lại đă tiềm ẩn nơi mỗi người chúng ta và chúng ta được mời gọi phát huy ơn gọi sống lại này. Ở đây thiết tưởng cũng nên lập lại câu danh ngôn của Hêsiôdô: Bạn hăy trở thành cái bạn đang là. Nghĩa là chúng ta phải chu toàn trong suốt cả cuộc đời chúng ta mục đích bẩm phú của chúng ta. Thiên Chúa muốn ban sự ấy cho ta. Đó là ư nghĩa của mọi cuộc sống; thiết tưởng từ đấy cũng lộ ra khá rơ ư nghĩa của cả sự chết nữa. Chính khi chết là lúc chúng ta đạt tới sự sung măn của chính ḿnh. Có thể sự sung măn này rất giới hạn; có lẽ tôi nhỏ bé, nhưng là chính tôi thật. Chúng ta biết câu nói của thánh nữ Têrêxa thành Lisieux: ở đời sau, chắc hẳn là chúng ta sẽ khác biệt nhau. Chúng ta sẽ như những cái ly cần phải đổ đầy: có ly to ly nhỏ, nhưng tất cả đều được đầy tràn. Chúng ta sẽ được hoàn toàn sung măn theo khả năng tinh thần của chúng ta. H́nh ảnh này thật thích hợp. Sự chết sẽ là sự hoàn tất tất cả mọi khả năng của chúng ta, cho dù nó bé nhỏ tới đâu đi nữa, trừ khi có sự can dự của thất bại là tội lỗi.
V́ vậy, chúng ta cần xóa bỏ khoảng cách giữa sự sống và sự chết. Chúng ta không biến tan, chúng ta bước vào một cuộc sống mới. Vita mutatur, non tollitur: Đời sống thay đổi, chứ không bị tiêu diệt. Chúng ta đạt tới sự sung măn của cuộc sống. Chính theo nghĩa đó mà thánh Phaolô đă nói: Quotidie morior, mỗi ngày tôi chết dần. Mỗi ngày cái chết đến gần nghĩa là những ǵ cũ kỹ trong tôi dần dần tan biến, để nhường chỗ cho bản sắc thật của con người tôi được tỏ hiện, để cho mầm mống sự sống lại trong tôi được hoàn toàn triển nở.
Đức Kitô đă sống lại, ngài không chết nữa. Kinh thánh quả quyết như vậy. Sự sống lại của Ngài báo trước và mở đường cho sự sống lại của chúng ta. V́ thế chúng ta hăy sống như những người đang mang trong ḿnh những mầm mống của sự sống lại: nghĩa là ngay từ dưới thế này, chúng ta hăy sống như những người đă sống lại.