THÁNH KINH
TỔNG LUẬN NHẬP MÔN
Người dịch : Lm Tanila Hoàng Đắc Ánh
CHƯƠNG I
LỜI CHÚA THÀNH VĂN
NHẬP ĐỀ :
1. Tên theo h́nh thức
Chúng ta có thể định nghĩa Thánh Kinh như làtuyển tập một số những tác phẩm mà Giáo Hội coi là được linh hứng. Trong ngoại ngữ, nó mang nhiều tên khác (1). Việt ngữ hiện giờ chỉ dùng hai chữ là Thánh Kinh hoặc Sách Thánh.
Theo một nghĩa nào đó, chúng ta phải coi Thánh Kinh như là một tác phẩm của một tác giả mà thôi : đó là Thiên Chúa. Nhưng, trên b́nh diện nhân loại, Thánh Kinh không phải là một cuốn sách, cũng không phải là cuốn sách. Nó là một thư viện hoặc, nói đúng hơn, một nền văn chương của một dân tộc, của dân được tuyển, của dân Thiên Chúa. Đây là một nhận xét chủ yếu, một sự việc có tầm quan trọng cần phải biết để hiểu được Thánh Kinh.
2. Tên theo nội dung : bản Giao ước
Tiên vàn, Thánh Kinh được chia làm hai phần khác nhau rơ rệt : Cưụ Ước và Tân Ước, nghĩa là Giao ước cũ và Giao ước mới. “Giao ước” là phỏng theo Hy ngữ diatheke, một từ vừa chỉ chúc thư vừa chỉ giao ước. Vậy, theo nội dung, Thánh kinh là cuốn sách ghi lại đậm nét một trong những điểm nền tảng của Măc khải. Điểm ấy là Giao ước thiên Chúa đă thiết lập với dân Người, tức là dân Ít-ra-en, một Giao ước được lặp đi lặp lại nhiều lần. Gọi là Giao ươc v́, về phía ḿnh, dân chấp nhận một sô điều kiện nào đó, đặc biệt là phải trung thành với Thiên Chúa độc nhất và chân thật. Cưu ước là lịch sử của Dân đó được viết theo ánh sáng của Giao ước ấy và lịch sử ấy chỉ là một chuỗi dài những bất trung và h́nh phạt ; c̣n về phía Thiên Chúa, Cựu ước là lịch sử của một sự trung thành không lay chuyển.
Thiên Chúa có ư định cứu chuộc loài người. Và ư định ấy phải được thực hiện bằng cách sai Con Một Người xuống trần gian là khởi đầu một kỷ nguyên mới. Bấy giờ, Thiên Chúa đă thiết lập một Giao Ước mới, được đóng ấn bằng máu Đức Kitô, thiết lập với một Dân mới trực tiếp xuất thân từ Dân cũ. Dân mới đó chính là Giáo hội.
1. CÁC SÁCH CẤU THÀNH NÊN THÁNH KINH
Người Do-thái đă khôn ngoan chia Thánh kinh của họ theo một lược đề co dăn. Họ phân chia các sách dưới ba nhan đề : Lề luật, Ngôn sứ và Văn phẩm. Dưới mắt họ, Lề luật chiếm một vị trí hàng đầu, gồm năm cuốn sách của Ông Mô-sê mà chúng ta gọi chung là Ngũ Kinh. Trong loại Ngôn sứ, họ xếp chẳng những các sách mà ngày nay chúng ta gọi là Ngôn sứ, mà c̣n cả các sách Giô-suê, Thủ Lănh, hai sách Sa-mu-en và hai sách Các Vua mà họ gọi là Các Ngôn sứ Tiền. Một điều độc đáo là họ không kể sách Đa-ni-en vào loại Ngôn sứ : đối với họ sách Đa-ni-en thuộc loại Văn phẩm
Cách chia làm ba loại như thế có lợi không ít, chẳng hạn tránh được mối nguy của cách chia loại quá chật hẹp và quá câu nệ hệ thống. Bản dưới đây sẽ cho thấy chi tiết của các cách chia loại ấy.
- Lề Luật (Thora) : Ngũ kinh.
- Các Ngôn sứ (Nơviym) :
1. Ngôn sứ Tiền : Giô-suê, Thủ lănh, Sa-mu-en, Các Vua.
2. Ngôn sứ hậu : I-sai-a, Giê-rê-mi-a, E-dê-ki-en và Mười hai Ngôn sứ nhỏ.
- Các Văn phẩm (Kơthuvym) :
1. Thánh vịnh, Châm ngôn, Gióp (là ba đại Văn phẩm)
2. Diễm ca, Rút, Ai-ca, Giảng viên, Ét-te (là những cuốn sách).
3. Đa-ni-en, Ét-ra, Nơ-khe-mi-a và sử kư.
Từ thế kỷ XIII, Giáo Hội Công Giáo đă chia Cựu ước theo một cách khác, làm thành ba loại : Lịch sử, Giáo huấn và Sứ ngôn. Nh́n tổng quát cách chia này khá tốt, v́ nêu lên được tính cách tổng quát của mỗi sách. Tuy nhiên, không nên nhấn mạnh thái quá ư nghĩa đó, v́ trong vài trường hợp cách chia đó có thể đưa tới nhiều cách chú giải không đúng. Đây là cách các sách được chia loại trong khuôn khổ vừa nói.
1. Loại sách Lịch sử :
Ngũ Kinh (Sách Sáng thế, Xuất hành, Lê-vi, Dân số, Đệ nhị luật), Gio-suê, Thủ lănh, Rút , Sa-mu-en, Các Vua, Sử kư, Ét-ra, Nơ-khe-mi-a, Tô-bi-a, Giu-đi-tha, Ét-te vàMa-ca-bê.
Trong bản dịch La Tinh gọi là bản phổ thông (Vulgata), có ba điều nên chú ư: thứ nhất, hai sách Sa-mu-en được gọi là sách Các Vua, quyển thứ nhất và quyển thứ hai và, do đó, Sách Các Vua quyển thứ nhất và quyển thứ hai thành sách Các Vua quyển thứ ba và quyển thứ tư. Thứ hai, các sách Sử Kư được đổi thành sách “những sự việc đă bỏ qua” (paralipomena, phiên âm từ paralêipômêna của Hy ngữ bộ Hy-lạp). Thứ ba, sách Nơ-khe-mi-a mang tên là sách Ét-ra quyển thứ hai.
2. Loại sách giáo huấn (và thi ca) :
Gióp, Thánh vịnh, Châm ngôn, Giảng viên, Diễm ca, Khôn ngoan và Huấn ca.
3. Loại Ngôn sứ :
- Bốn Ngôn sứ lớn : I-sai-a, Giê-mê-ri-a (cộng thêm Ai-ca và Ba-rúc), Ê-dê-ki-en và Đa-ni-en.
- Mười hai ngôn sứ nhỏ : Hô-sê, Gio-en, A-mốt, Ô-va-đi-a, Gio-na, Mi-ka, Na-khum, Kha-ba-cúc, Xô-phô-ni-a, Khác-gai, Da-ka-ri-a và Ma-la-khi.
Tân ước đôi khi cũng chia theo lược đồ trên :
1. Loại sách Lịch sử : Các sách Tin Mừng và sách Công Vụ Tông Đồ.
2. Loại sách Giáo huấn : Các thư Thánh Phaolô gởi cho tín hữu Rô- ma, Cô-rin-tô I và II, Ga-lát, Ê-phê-xô, Phi-líp-phê, Cô-lô-xê, Thê-xa-lô-ni-ca I và II, cũng như gởi cho ông Ti-tô-thêu I và II, Ti-tô và Phi-lê-mon. Thư gởi cho tín hữu Do thái. Các phổ thế thư của Gia-cô-bê, Phê-rô I và II, Gio-an I, II và III và Giu-đa.
3. Loại ngôn sứ : Sách khải huyền
2. Thánh kinh được h́nh thành
A. Cựu ước
1. Những bước đầu
Việc h́nh thành Cựu ước đă diễn tiến qua nhiều thế kỷ. Lịch sử thánh bắt đầu với việc Thiên Chúa gọi mời ông Áp-ra-ham khoảng thế kỷ thứ XIX tcn, những truyền thống đă được xây dựng chung quanh các Tổ phụ và là nguồn gốc của Cựu ước cũng đều được coi như xuất thân từ tổ phụ Áp-ra-ham (v́ Thiên Chúa đă hứa với ông) và từ những miêu duệ trực tiếp của ông. Nhưng ông Mô-sê mới là nhà lănh tụ và lập pháp. Vào thế kỷ XIII, ông đă từ một đám đông hỗn tạp gồm những người di cư xây dựng thành một Dân tộc. Ông c̣n phát động một phong trào tôn giáo hùng hậu, sáng tác nên những văn phẩm vĩ đại đầu tiên của một công tŕnh văn chương, mà, một ngày kia, phải được coi là một món quà vô sánh của Ít-ra-en và, tựu trung, là của Thiên Chúa ban tặng cho nhân loại.
2. Sự h́nh thành
- Chắc chắn, Ngũ kinh có mang dấu vết của ông Mô-sê, nhưng tác phẩm mà chúng ta được biết ngày nay, chỉ được h́nh thành một cách chung cuộc về sau vào thế kỷVI hoặc, đúng hơn, vào thế kỷ V tcn.
- Nền văn chương Ngôn sứ đă bắt đầu với hai ngôn sứ A-mốt và Hô-sê vào thế kỷ VIII, và kết thúc vào thế kỷ IV với ngôn sứ Gio-en và các chương 9-14 của sách Da-ca-ri-a.
- Các sách lịch sử bắt đầu từ việc kể chuyện ông Gio-suê (gồm những truyền thống cơ bản của thế kỷ XIII) cho tới sách Ma-ca-bê quyển thứ nhất (quyển này được soạn thảo vào đầu thế kỷ I tcn).
- Vào thế kỷ V, có sách Châm ngôn dưới h́nh thức chung cuộc và sách Gióp. Đây là thời đại hoàng kim của nền văn chương khôn ngoan cũng gọi là Minh Triết. Nhưng phong trào minh triết đă bắt đầu dưới thời vua Salômon, vào thế kỷ X tcn, c̣n sách Khôn Ngoan th́ chỉ ra đời vào khoảng 50 tcn.
Như thế, Cựu Ước đă h́nh thành rất chậm và lịch sử của Cựu Ước khá nhiêu khê. Đó là chúng ta chưa nói ǵ đến sự h́nh thành của mỗi quyển.
3. Nguồn gốc.
Mà chúng ta phải lưu ư rằng đa số các sách Cựu ước là tác phẩm của nhiều tác giả, một tác phẩm được thêm dần trong thời gian dài, đến nhiều thế kỷ. Tất cả những người cộng tác, dù là chỉ để thêm một vài chi tiết, cũng được hưởng đặc sủng linh hứng. Đa số trong các tác giả cũng chẳng ư thức về đặc sủng này. Chính v́ thế mà, tạm thời, chúng ta có thể chỉ nghiên cứu Thánh kinh dưới khía cạnh nhân loại mà thôi, chỉ nhắm trong Thánh Kinh kết quả của một cố gắng tập thể hoặc công tŕnh của một dân tộc trải qua nhiều thế kỷ đă ghi vào sách ấy những truyền thống quí giá của ḿnh. Thánh Kinh là nền văn chương của một dân tộc và liên kết với lịch sử dân ấy. Do đó, chúng ta sẽ lược qua sinh hoạt văn chương đă khai sinh bộ Thánh Kinh. Như vậy, chúng ta sẽ có được một ư niệm về Cựu ước để hiểu biết dễ dàng hơn (1).
Một phần lớn các tác phẩm của Cựu ước được xây dựng trên truyền khẩu. Đặc biệt đó là những tác phẩm đầu tiên, những tác phẩm từ sách Sáng thế đến sách Sa-mu-en. Trong các sách ấy, có một số truyền thống liên quan đến các tổ phụ, một số khác chu tuần chung quanh các ông Mô-sê, Thủ lănh, Sa-me-en, Đa-vít và sau này, các ngôn sứ Ê-li-a và Ê-li-sa trong một phần sách Các vua.
Trước khi thành văn, các truyền thống ấy đă cấu thành nền văn chương đúng nghĩa của nó, v́ văn chương cũng chỉ là một h́nh thức nghệ thuật mà chất liệu là các mệnh đề và các câu, c̣n việc viết ra trên giấy hoặc trên da chỉ là phụ. Do đó, tuy các tác phẩm Thánh kinh như chúng ta biết hiện giờ chỉ h́nh thành chung cuộc vào một thời kỳ tương đối muộn màn, nhưng các truyền thống làm chất liệu đă ra đời nhiều thế kỷ trước và, nhiều khi chính trong thời kỳ xa xưa ấy, các truyền thống ấy đă được khai triển đầy đủ. Niên canh mà chúng ta gán cho một quyển sách Thánh Kinh, không phải luôn luôn là niên canh của tư liệu mà quyển sách ấy đă ghi lại, và khi nói “truyền thống” không nhất thiết là chúng ta phủ nhận rằng một số trong các truyền thống ấy có thể (hoặc chắc chắn) đă thành văn rất sớm. Trong thực tế, vào một thời kỳ muộn màn, sinh hoạt văn chương trong Ít-ra-en nhiều lúc chỉ là tái bản các tác phẩm cổ xưa. V́ thế, chúng ta không có ư quên đi hoặc đánh giá thấp công tŕnh đóng góp của các thế kỷ xưa khi cho rằng, theo nghĩa hẹp của nó, nền văn chương Thánh Kinh chỉ bắt đầu vào thời vua Sa-lô-mon.
4. Tác giả qua các thời đại.
- Từ Thủ lănh đến vua Sa-lô-mon.
Vào thế kỷ XI, người Phi-li-tinh tấn công và phá tan liên bang Ít-ra-en, gồm mười hai Thị tộc liên kết trong cùng một Giao ước với Đức Gia-vê. Sự thất bại ấy đă làm nảy sinh một nhu cầu, là tổ chức một chế độ quân chủ. Lúc đầu, Vương quyền của Vua Sao-lô có vẻ đầy hứa hẹn, nhưng đă thất bại. Tuy nhiên, ư tưởng quân chủ vẫn c̣n và được h́nh thành với vua Đa-vít. Vua này đă thành công trong việc xây dựng một Vương quốc biến thành một Đế quốc nho nhỏ ngày càng được củng cố dưới thời Sa-lô-mon.
Trong một quốc gia như thế, cần phải có một số người khả dĩ gánh vác được vai tṛ hành chính. Đó là nguồn gốc của giai cấp kư lục, là những người thông thái soạn thảo những sử kư nhà vua; đồng thời ghi lại những công vụ vào giấy má để rồi, sau hết, giấy tờ ấy được bảo tồn trong các văn khố. Đó là tư liệu mà các văn phẩm lịch sử sẽ sử dụng. Rất sớm, dưới thời đại thái b́nh của vua Sa-lô-mon, một văn sĩ có biệt tài đă trước thuật một kiệt tác bằng văn xuôi của Cựu ước, đó là Truyện về vua Đá-vít (2 Sm 9-20; 1 V 1,2). Một tác giả đồng thời, hơi kém hơn tác giả trước về mặt văn chương, nhưng lại có một tinh thần tế nhị hơn, đă nghiên cứu lại các truyền thống cổ xưa. Ong viết lên một khoa thần học về lịch sử, làm thành một trong bốn tầng lớp chính yếu của bộ Ngũ Kinh, đó là tầng lớp Gia-vít (1). Chính Vua Đa-vít (khoảng 1010-970) mà nhiều truyền thống đă chứng minh ông là một thi sĩ, ông đă biên soạn một số Thánh vịnh làm thành cái nhân của sách Thánh vịnh mà chúng ta có ngày nay. Do đó, người ta gán tất cả bộ Thánh vịnh cho vua Đa-vít. Cũng thế, tất cả nền văn chương minh triết, một ngày kia, đă được tŕnh bày dưới tên người đă khai mào hoặc, ít ra, đă tạo nên một bầu khí thuận lợi cho nền văn chương đó phát sinh : đó là vua Sa-lô-mon.
- Giu-đa và Ít-ra-en.
Sau khi vua Sa-lô-mon băng hà, nền thống nhất chính trị do vua Đa-vít thực hiện bị tan vỡ ra đôi : một bên là Ít-ra-en, Vương quốc Miền Bắc, và bên kia là Giu-đa, Vương quốc Miền Nam. Tôn giáo cũng theo đó mà chia đôi. Một ḿnh Giu-đa chẳng những trung thành với triều đại vua Đa-vít, mà c̣n trung thành với h́nh thức tinh tuyền của một nhóm tôn giáo đích thực. Tại Vương quốc Ít-ra-en, những cuộc đảo chính nối tiếp nhau, và nền phụng tự dành riêng cho Đức Gia-vê trong các thánh điện ly khai tại Bê-then và Đan đă bị những ảnh hưởng ngoại lai đến biến chất. Hai quyển sách các Vua tŕnh bày lịch sử song song của hai Vương quốc dưới khía cạnh tôn giáo.
Chính trong Vương quốc Ít-ra-en, đă xuất hiện hai ngôn sứ Ê-li-a và Ê-li-sa để bênh vực quyền lợi Đức Gia-vê. Chung quanh hai nhân vật ấy, đă kết tinh những truyền thống được ghi lại trong 1 V 17- 2 V 1 (Ê-li-a) và trong 2 V 2,13 (Ê-li-sa). Cũng chính trong Vương quốc Ít-ra-en, dưới thời Gia-róp-am II (783-743), đă xuất hiện những ngôn sứ văn sĩ đầu tiên, là A-mốt và Hô-sê. Nhưng ngôn sứ A-mốt là người Giu-đa.
Cũng vào thời ấy, một tầng lớp văn chương nữa của bộ Ngũ Kinh xuất hiện dưới h́nh thức chung cuộc, đó là truyền thống Ê-lô-hít. Truyền thống này song song với truyền thống đă phát triển ở Miền Giu-đa. Nhưng tác giả của truyền thống đó, v́ thường xuyên đương đầu với những lạm dụng phượng tự rất lan tràn trong Vương quốc Miền Bắc, đă tỏ ra bảo thủ hơn bạn đồng nghiệp Miền Giu-đa nhiều. Đối với ông, tôn giáo lư tưởng là tôn giáo thời kỳ Xuất hành và thời kỳ sa mạc.
Sau hai ngôn sứ A-mốt và Hô-sê, hai ngôn sứ I-sai-a và Mi-kha xuất hiện ở miền Giu-đa, bắt đầu sứ mệnh. Nhưng phải lưu ư, chỉ có phần I của sách I-sai-a (1-39) mới có thể gán cho vị đại ngôn sứ thế kỷ VIII này. Cả trong những chương này, cũng không phải tất cả là của I-sai-a. I-sai-a có nói tới các môn đệ qui tụ quanh ông (Is 8,16). Chính các môn đệ này đă xuất bản các sấm ngôn của ông và những tác giả thụ hứng mà sau này, đă viết thêm vào tác phẩn của ông, vẫn c̣n thuộc cùng trường phái I-sai-a : trường phái này đă tồn tại trong nhiều thế kỷ.
Trong lúc đó, đế quốc Át-sua đă bắt đầu đe dọa xứ Pa-lét-ti-na một cách nặng nề. Những ngày tháng sống c̣n của vương quốc Miền Bắc đếm được trên đầu ngón tay. Sa-ma-ri-a, thủ đô Miền Bắc, rơi vào tay Sác-gon II năm 721. Dân Ít-ra-en bị lưu đày theo đường lối chính trị của Át-sua và nước Ít-ra-en biến mất trên chính trường.
Giu-đa lưu đày và hồi hương.
Trước tấn bi kịch cuối cùng ấy một ít, một số dân Miền Bắc, đă di cư xuống miền Giu-đa, đem theo cả những truyền thống thánh của ḿnh. Như thế là, dưới đời Ê-dê-ki-a (716-687), hai tầng lớp văn chương cổ xưa nhất của bộ Ngũ Kinh đước kết hợp thành một vựng tập duy nhất.
Đồng thời, Giê-ru-sa-lem đă thừa hưởng của Miền Bắc phần lập pháp sách Đệ-Nhị-Luật (bộ Đệ nhị luật, chương 12-26). Về sau tài liệu này rất có ảnh hưởng trên tư tưởng tôn giáo.
Cường quốc chính trị đă tiêu diệt Ít-ra-en cũng đe dọa Giu-đa. Nhưng một phần lớn cũng nhờ cố gắng tận t́nh của ngôn sứ I-sai-a, Vương quốc giu-đa mới sống c̣n. Một thế kỷ sau, đế quốc Át-sua, đang ở tuyệt đỉnh, bỗng nhiên sụp đổ và biến mất một cách vô cùng thê thảm. Trong thời kỳ ngắn ngủi xẩy ra sự sụp đổ nhanh chóng ấy và trước khi Tân đế quốc Ba-bi-lon được củng cố thành công, th́ Vương quốc Giu-đa đă được một thời gian ngắn để lấy hơi. Gio-si-a, một vị vua trẻ và đạo đức (640-609) đă tiến hành được một cuộc cải cách tôn giáo.
Nhà vua bắt đầu trùng tu Đền thờ mà thời đại trước đă bỏ bê đáng buồn. Chính lúc ấy, ông t́m được trong đền thờ “Sách Lề Luật” (2 V 22,8-10). Thực ra, đó là bộ Đệ- nhi-luật mà, một thế kỷ trước đó, các người di cư Miền Bắc đă mang lên Giê-ru-sa-lem. Tuy được giữ trong đền thờ, bộ luật ấy đă không được lưu ư và cuối cùng đă bị quên lăng. May thay, nhờ Đức Gia-vê quan pḥng, bộ luật ấy đă trở lại ánh sáng và trở thành hiến chương của cuộc cải cách. Người ta xuất bản bộ luật ấy trong khung cảnh văn chương của một bài diễn từ của Mô-sê. Lần xuất bản đầu tiên này gồm các chương 5 đến 28 của sách Đệ nhị luật ngày nay. Sau này, trong thời lưu đày, bộ luật ấy được tái bản và hội nhịp vào giữa hai bài diễn từ khác của Mô-sê.
Lần xuất bản đầu tiên bộ Đệ nhị luật đă phát động một phong trào văn chương đại qui mô. Viễn tưởng của tác phảm có tính cách tôn giáo đặc biệt. Tư tưởng khích lệ viễn tưởng có tính cách thống nhất rơ rệt. Tất cả đều được gói ghém trong dữ kiện nguyên tắc này: “Dân tộc c̣n hay mất là tùy ở chỗ có trung thành với Đức Gia-vê và Lề Luật của Người hay không”. Lịch sử của dân Đức Gia-vê tuyển chọn đă được cắt nghĩa dưới ánh sáng của nguyên tắc trên, và người ta t́m thấy trong đó một giải đáp cho các vấn đề khó khăn, cách dung ḥa giữa hai sự kiện xem ra mâu thuẫn : một đằng là những lời Đức Gia-vê hứa không thể vô hiệu quả, đằng khác là những tai họa liên tiếp đổ trên đầu dân tộc. Dưới nhăn giới Đệ nhị luật, th́ rơ ràng những tai họa nói trên là do sự bất trung bất tín của dân. Đó là bài học duy nhất hiển nhiên trong lịch sử của dân. Những tác giả ấy mới xuất bản những truyền thống lịch sử cổ xưa theo một cách khả dĩ minh chứng luận đề của họ, đồng thời tránh né xuyên tạc những văn bản trên. Tất cả những ǵ họ thấy được phép làm, là đưa vào tŕnh thuật cổ xưa một số thay đổi kín đáo hoặc hơn nữa, xếp đặc những tài liệu ấy theo một lược đồ có hệ thống. Trong sách Thủ lănh, chẳng hạn, lịch sử của các vai chính yếu diễn tiến theo một chu kỳ luôn như nhau, là bất trung - h́nh phạt - sám hối - giải thoát. Và chính cách tŕnh bày sự kiện như vậy đă làm nên công tŕnh riêng của các tác giả Đệ nhị luật.
Các sách Gio-suê, Thủ lănh, Sa-mu-en, Các Vua cũng được ra đời dưới thời vua Giô-si-a với những chương 5 đến 28 của sách Đệ nhị luật làm phần nhập đề. Sách Các Vua quyển thứ hai được bổ sung trong thời lưu đày (năm 589-538). Và chính vào đầu thời lưu đày, vựng tập lịch sử từ ông Gio-suê đến Các Vua đă được xuất bản lần thứ hai và cũng là lần sau hết.
Cũng dưới thời vua Giô-si-a, xuất hiện hai ngôn sứ Xô-phô-ni-a và Na-khum. Rồi sau đó một ít, là ngôn sứ Kha-ba-cúc; Hai ngôn sứ sau cùng là đồng nghiệp đồng thời với ngôn sứ Giê-rê-mi-a.
Nhà vua Giô-si-a băng hà bất ưng năm 609 và từ bấy giờ, Vương quốc Giu-đa như lăn xuống hố. Tấn bi kịch của những năm cuối cùng của nhà vua được phản ánh trong đời sống và thân thế của ngôn sứ Giê-rê-mi-a. Lúc sinh thời, lời rao giảng của ông đă không được người ta chú ư, lại c̣n đem tai họa cho ông. Nhưng, sau khi ông qua đời, lời giảng của ông đă có một ảnh hưởng sâu xa. Sứ điệp của ông đă được sưu tập và xuất bản do môn đệ trung thành của ông, là ngôn sứ Ba-rúc.
Năm 587, Giê-ru-sa-lem bị rơi vào tay vua Na-bu-cô-đô-nô-xo đúng như ngôn sứ đă long trọng tuyên báo. Dân cư thánh bị đày đi Ba-bi-lon. Tưởng đây đă xong đời bên đó. Nhưng, theo ư định của Đức Gia-vê, th́ lưu đày phải là ḷ thanh luyện tôn giáo của Người. Và thời kỳ lưu đày này c̣n là thời kỳ quyết định cho việc h́nh thành bộ Thánh Kinh.
Bên cạnh phong trào đệ nhị luật, c̣n có một phong trào khác mà tiêu biểu rơ ràng nhất là bộ luật về sự thánh thiện (Lv 17-26). Khuynh hướng thứ hai này xuất phát từ giai cấp Tư Tế, nhấn mạnh sự thánh thiện của Đức Gia-vê và tŕnh bày dân Chúa như là một dân tư tế mà đời sống phải là một đời sống phụng vụ. Ngôn sứ Ê-dê-ki-en bị đày qua Ba-bi-lon với các người Giu-đa khác ít lâu trước khi Giê-ru-sa-lem bị suy đảo, có lẽ vào năm 598, ông đại diện cho trường phái tư tế, trong lúc ngôn sứ Giê-rê-mi-a người đồng thời với ông, lại theo trường phái Đệ nhị luật.
Trong thời gian lưu đày, các tư tế sống xa đền thờ cùng nền phụng tự Đền thờ, họ quay về các truyền thống cổ xưa, đặc biệt là luật Mô-sê. Họ xuất bản những truyền thống ấy và tŕnh bày với một nhăn quan rơ rệt là tư tế, hầu hết những luật ghi trong sách Sáng thế, Xuất hành, Lê vi và Dân số đều thuộc truyền thống này. Tuy nhiên, truyền thống ấy cũng có những phần tŕnh thuật. Cuối cùng, sau thời lưu đày cũng chính các tư tế đă cho bộ Ngũ Kinh h́nh thức chung cuộc.
Không phải tất cả những người Giu-đa đều bị đày. Những người c̣n ở lại đôi lúc đến khóc trên phế tích Đền thờ. Đó là gốc tích của sách Ai-ca. Bản Thánh Kinh phổ thông (chứ không phải bản Thánh Kinh Híp-ri) đă gán sách Ai-ca cho ngôn sứ Giê-rê-mi-a. Ngày nay, ai cũng thừa nhận sách Ai-ca không phải của ông.
Sách Ba-rúc mà bộ Thánh Kinh xếp sau sách Ai-ca, không biết chắc chắn đă được sáng tác bao giờ.
Tại Ba-bi-lon, những người lưu đày đă được nâng đỡ và an ủi do một vị ngôn sứ vô danh, đến muộn, nhưng đúng là môn đệ của ngôn sứ I-sai-a. Tác phẩm của ông được soạn thảo trước năm 538 lúc mà Ky-rô Cả, sau khi đánh chiếm Ba-bi-lon, đă cho phép người Do Thái trở về Pa-lét-ti-na. Sách ấy cũng mang tên là I-sai-a, gồm các chương 40-55 của sách I-sai-a hiện giờ. Về phương diện thần học cũng như về phẩm chất thi ca, tác phẩm ấy là tột đỉnh trong Cựu ước.
- Thời đại Ba-tư.
Đi đày về được ít lâu, các chương 56-66 được đưa thêm vào sách I-sai-a do các thành viên khác của trường phái. Rồi một số bổ sung khác được đưa thêm vào khoảng thế kỷ V : đó là những chương 34-35, rồi 24-27. Nhưng, với ngôn sứ I-sai-a đệ nhị người ta gọi tác giả chương 40-55 như vậy - phong trào sấm ngôn của Ít-ra-en đạt tới tột đỉnh. Từ đó về sau, phong trạ này bắt đầu suy dần, rồi biến mất vào thế kỷ IV, chờ đợi ngày hoàn tất.
Một nhóm đầu tiên những người đi đày trở về Giê-ru-sa-lem (538) và tức khắc bắt tay vào viện tái thiết Đền thờ và Thủ đô. Công việc tái thiết được cổ vơ và nâng đỡ do hai ngôn sứ Khác-gai và Da-ca-ri-a (trong sách ngôn sứ Da-ca-ri-a chỉ có những chương 1-8 thuộc về thời đại này).
Cũng vào khoảng thời gian này- muộn nhất là đầu thế kỷ V - bộ Tô-ra đă được một h́nh thức chung cuộc. V́ lẽ bổ sung tiểu sử về ông Mô-sê, bộ sách Đệ nhị luật đă được tách khỏi bộ lịch sử vĩ đại từ sách Giô-suê cho tới sách các Vua, và được đặt sau bốn sách đầu tiên của bộ Thánh Kinh (Sáng thế, Xuất hành, Lê vi, Dân số). Và như thế là một tổng thể ra đời dưới danh xưng Ngũ Kinh.
Cuốn sách nhỏ tên là Rút có lẽ được viết ít lâu sau lưu đày. Tuy nhiên, sách ấy cũng có thể là được viết trước đó. Những vị ngôn sứ cuối cùng đă lần lượt xuất hiện vào khoảng hai thế kỷ V và IV. Đó là một hoặc nhiều tác giả I-sai-a 34-35 và 24-27, Ma-la-khi, ô-va-đi-a, Giô-en và cuống cùng là tác giả Da-ca-ri-a 9-14.
Trong cùng một thời đại đó, đặc biệt là thế kỷ V, một loại văn chương khác ra đời. Đó là nền văn chương minh triết. Nền văn chương này không hoàn toàn mới mẻ, v́ dưới thời vua Sa-lô-mon đă có một cách suy tư về vạn vật dưới khía cạnh thực tiễn. Cách suy tư này đă được phô diễn trong những châm ngôn hay phương ngôn có liên quan đến đời sống hằng ngày. Thật vậy, khi nói “khôn ngoan hay minh triết”, chúng ta phải hiểu sự tri thức có tính cách bách khoa, có hệ thống, mà c̣n là sự công thức chính xác tất cả thái độ con người, đặc biệt là nghệ thuật sống của một người hoàn hảo (gentleman, quân tử). Một nghệ thuật như thế rất cần để có một sự nghiệp sáng lạn. Nghệ thuật ấy đă được rèn luyện từ nhiều thế kỷ ở Ai-cập (1).
Tại Ít-ra-en, nghệ thuật này luôn luôn lấy hứng ít nhiều ở niềm tin vào Đức Gia-vê, và khuynh hướng ấy lại càng rơ nét sau thời lưu đày. Ngoại trừ một vài phần đă có từ thời Sa-lô-mon, sách Châm ngôn đă được hoàn tất vào thế kỷ V; và sau đó ít lâu, một kiệt tác thuộc loại thi ca Híp-ri ra đời, đó là sách Gióp.
Tuy nhiên , trong bộ Thánh Kinh, tác phẩm này không phải là duy nhất thuộc loại đó. Trước nó phải kể bộ Thánh vịnh mà một phần chắc là đă do Vua Đa-vít trước tác. Số Thánh vịnh đă từ từ tăng lên. Việc xây cất đền thờ thứ hai và việc tái lập nền phượng tự đă đem lại một hứng mới trong việc sáng tác thi ca phụng vụ và việc thích nghi các Thánh vịnh cũ vào những hoàn cảnh lịch sử mới. Có lẽ sách Thánh vịnh như chúng ta biết hiện giờ đă được hoàn thành vào cuối thế kỷ IV. Sách Diễm ca ra đời cũng vào thời ấy.
Cuộc lưu đày chưa hẳn đă chấm dứt nền văn chương sử học. Cuộc trùng tu do hai nhân vật Ét-ra và Nơ-khe-mi-a cầm đầu, cũng có lịch sử của ḿnh. Hai quyển Sử biên niên, cộng với hai sách Ét-ra và Nơ-khe-mi-a là bốn quyển khác nhau theo các bộ Thánh Kinh ngày nay; nhưng, kỳ thực, chúng chỉ là một tác phẩm của một tác giả vô danh mà người ta quen gọi là sử kư viên. Trong phần thứ nhất của tác phẩm của ḿnh, văn sĩ ấy đă theo khá sát các sách Sa-mu-en và Các vua; trong phần thứ hai ông sử dụng hồi kư của hai ông Ét-ra và Nơ-khe-mi-a cũng như một số văn kiện khác cùng thời đại.
Có những khác biệt rơ rệt giữa các sách Sa-mu-en và Các Vua với, bên kia, là các sách Sử kư. Các nhà biên soạn của loại sách thứ nhất đă viết lên một lịch sử tôn giáo; c̣n nhà Sử biên niên th́ nhằm mục đích biên soạn một nền thần học về lịch sử. Cũng như các nhà viết Đệ nhị luật. Sử kư viên đă rút từ lịch sử của dân ḿnh ra một sứ điệp tôn giáo, nhưng ông đă sử dụng các tư liệu ông có trong tay một cách tự do hơn những nhà viết Đệ nhị luật. Ông đă viết cho người đồng thời và một lần nữa, ông đă t́m cách cho thấy rằng dân tộc có tồn tại hay không là do dân tộc ấy có trung thành với Đức Gia-vê hay không. Người ta có thể coi là ông muốn biến dân ông thành một cộng đoàn thánh, hầu những lời Đức Gia-vê đă hứa cùng vua Đa-vít may ra có thể thực hiện.
Tác phẩm nói trên đă được viết vào thế kỷ IV, trước khi A-lê-xan-đe Cả đến ít lâu. Trước đó, cũng vào thời kỳ công Ét-ra, tác giả sách Gio-na, có một lời văn trào phúng, đă nổi lên chống lại chủ nghĩa dân tộc tôn giáo hẹp ḥi, thiển cận. Ông c̣n nhấn mạnh đặc tính phổ cập của Thiên Chúa quan pḥng. Thiên Chúa quan pḥng hằng ngày can thiệp vào đời sống con người : chính đặc tính quan pḥng ấy cũng đă là chủ đề của sách Tô-bi-a. Sách này gần như đồng thời với sách Gio-na. Xét về thực thể, sách ấy không khác bao nhiên với lối văn mà, ngày nay, chúng ta gọi là tiểu thuyết.
- Thời đại Hy-lạp.
Năm 333, A-lê-xan-đe Cả chinh phục Xy-ri-a và Pa-lét-ti-na. Thế là thời kỳ Hy-lạp bắt đầu ở Giu-đa. Tuy nhiên, những người Do thái, ít ra là những người c̣n trung thành với truyền thống quá khứ, đă không để ḿnh bị lôi cuốn vào quá tŕnh đồng hóa của nền văn hóa Hy-lạp; trái lại, họ đă khước từ chấp nhận phong tục và lối sống do người chiến thắng đem vào. Một bằng chứng của thái độ chống đối là một thể loại văn chương đặc biệt Híp-ri. Đó là thể văn Midrash(1). Thể văn này đă gây ảnh hưởng trên tác phẩm của Sử kư viên; nhưng, vào đầu thời đại Hy-lạp, mới thấy được một cuốn Midrash Thánh Kinh đầu tiên thực sự được xây dựng và phát triển.
Sách Qohelet, tạm dịch là Giảng viên, chắc là đă ra đời cũng vào thời kỳ ấy, nghĩa là giữa thế kỷ III; và vào khoảng năm 180 tcn, sách Huấn ca ra đời.
Người Do thái sắp phải đương đầu với một khủng hoảng thuộc loại quan trọng nhất. Khi vua An-ti-ô-khô IV (175-163) lên ngôi nước Xy-ri-a, ông quyết định dùng vơ lực bắt các thần dân Do thái phải sống theo tập quán Hy-lạp. Do đó mà phát xuất cuộc bách hại tôn giáo và cuộc nổi dậy năm 167 do gia đ́nh Ma-ca-bê cầm đầu. Phần đầu các cuộc xung đột kéo dài ṛng ră ba năm. Trước khi cuộc xung đột chấm dứt ít lâu, tác giả sách ngôn sứ Đa-ni-en xuất bản tác phẩm của ông, nhằm nâng đỡ ḷng can đảm của anh em đồng hương. Những chương 1-6 làm thành một midrash; những chương 7-12 là một thí dụ hoàn hảo về một thể loại văn chương rất thịnh hành vào thời đó : thể văn Khải Huyền. Về sau, tác phẩm c̣n được bổ sung : số 24-90 và chương 3 và hai chương 13 và 14. Đằng khác, sách Ét-te ra đời sau sách Đa-ni-en ít lâu.
Những sách lịch sử cuối cùng của bộ Thánh Kinh nhằm ghi lại tinh thần của thời kỳ hỗn loạn mà chúng ta vừa nói. Quyển thứ nhất của sách Ma-ca-bê được biên soạn vào khoảng năm 100 tcn, c̣n quyển thứ hai ra đời trước một ít (tức là khoảng năm 120 tcn). Quyển thứ hai này tóm lại và thích ứng tác phẩm của một người tên là Gia-xon, người Ky-rê-nê. Sách ghi lại cũng chính những biến cố của sách thứ nhất và, cũng như sách này, đó là một cuốn sách sử kư; nhưng sách có thể văn thuộc loại hùng biện và có khuynh hướng ghi lại chi tiết các sự việc một cách khá tự do.
Về sách Giu-đi-tha, cũng thuộc loại midrash, chúng ta chỉ có thể nói rằng sách đó đă xuất hiện vào đầu thế kỷ I tcn.
- Thời đại Rô-ma.
Nếu những người Do-thái sống tại Pa-lét-ti-na đă thành công trong việc chống lại ư đồ Hy hóa, th́ những người Do thái sống tại A-le-xan-ri-a cũng đă thành công trong việc đồng hóa nền văn hóa Hy-lạp mà không mảy may khước từ di sản cha ông để lại. Chính một người trong hàng ngũ họ đă biên soạn tác phẩm cuối cùng của bộ Cựu ước là sách Khôn ngoan; ông viết bằng tiếng Hy-lạp. Tuy nhiên, về ảnh hưởng do nền văn hóa Hy-lạp tác động trên ông, không nên thổi phồng. Cũng không nên cho tác giả là một triết gia. Đúng hơn, ông là một hiền nhân trong dân Ít-ra-en.
B. TÂN ƯỚC
Tân Ước khác với Cựu Ước dưới nhiều phương diện. Tuy nhiên, Tân Ước cùng có với Cựu Ước điểm chung này là có quan hệ mật thiết với đời sống và sự tăng trưởng của một dân, đó là Dân mới của Thiên Chúa, đó là Giáo hội nguyên thủy. Một điểm chung nữa là, mặc dù đă hoàn tất trước khi thế kỷ I chấm dứt, diễn tiến h́nh thành của Tân ước cũng phức tạp như Cựu ước. Và, thứ ba, người Do thái đă coi sách Luật- nghĩa là sách của ông Mô-sê như là phần đầu tiên quan trọng nhất của bộ Thánh Kinh của họ, th́ người Ki-tô hữu cũng coi bốn sách Tin Mừng như là trung tâm của Tân Ước.
Những sách Tin Mừng này bắt nguồn từ lời rao giảng của các tông đồ. Tuy nhiên, ba sách Tin Mừng đầu tiên, như chúng ta hiện có, đă không ra đời trước thời kỳ của thế hệ Ki-tô hữu thứ hai. Niên canh của sách Tin Mừng Thánh Mác-cô được xác định vào những năm 64-65. Hai sách Mát-thêu và Lu-ca chỉ ra đời trước có lẽ là sau năm 70, là năm thành Giê-ru-sa-lem bị quân Rô-ma công phá. C̣n sách Công vụ Tông đồ, th́ được Thánh Lu-ca biên soạn liền sau khi biên soạn Tin Mừng của Ngài.
Vài năm trước đó, khoảng năm 51-67, Thánh Phao-lô viết các bức thư của Ngài. Những lá thư ấy được gởi cho nhiều giáo đoàn khác nhau, thường bàn đến những vấn đề đặc thù. Khi đọc, chúng ta thấy những bức thư ấy bắt đầu và khai triển bước đầu của khoa Thần học đặc biệt Ki-tô giáo. Nếu đọc kỹ, chúng ta có thể có một ư niệm về đời sống Ki-tô hữu thời ấy và những khó khăn mà Giáo hội nguyên thủy phải đương đầu.
Thư gởi tín hữu Do thái được soạn thảo ngay trước năm 70 do một môn đệ của Thánh Phao-lô. Thư của Thánh Gia-cô-bê ra đời vào năm 50 hoặc, nói cho đúng hơn là vào năm 58. Thư thứ nhất của Thánh Phê-rô được viết vào khoảng năm 67. Trong số các thư chung (hoặc phổ thế thư) nghĩa là những thư không gởi riêng cho các Giáo đoàn nào riêng biệt, mà cho tất cả người Ki-tô hữu. Đó là thư của Thánh Giu-đa và lá thư thứ hai của Thánh Phê-rô (ra đời vào những năm 70 đến 80), lá thư thứ hai, thứ ba và, sau đó, lá thư thứ nhất của thánh Gio-an (được viết vào thập niên cuối cùng của thế kỷ).
C̣n sách Khải Huyền - một cuốn sách không quá bí nhiệm như người ta tưởng- sách này được h́nh thành như hiện có vào năm 95. Sau cùng, sách Tin Mừng thứ tư ra đời vào cuối thế kỷ I, một thế kỷ đầy những biến cố của Lịch sử thế giới.
Chúng ta c̣n sẽ lầm, nếu nghĩ rằng những ǵ vừa nói về sự h́nh thành hai bộ Cựu Ước và Tân Ước không quan trọng cho việc t́m hiểu Thánh Kinh. Thật vậy, lịch sử của bộ Thánh Kinh không phải là không liên hệ ǵ đến quan niệm chúng ta phải có về vấn đề Linh hứng. Sự việc đầu tiên không phải chỉ là chúng ta không thể kêu tên các tác giả của một số sách, nhất là khi đề cập đến Cựu ước. Nếu vấn đề chỉ có thế, th́ việc giải đáp không phải là khó, v́ chúng ta chỉ nói rằng : mỗi tác giả, bất luận là ai, đều được lănh nhận đặc sủng về Linh hứng. Kỳ thực, ít khi có thể gán một cuốn sách nào nhất định cho một tác giả nào duy nhất. Chẳng hạn, việc trứ tác sách ngôn sứ I-sai-a đă kéo dài trên bốn thế kỷ, nghĩa là từ thế kỷ VIII đến thế kỷ V. V́ vậy, quan niệm về Linh Hứng phải uyển chuyển để thích ứng với trường hợp ấy cũng như với những trường hợp khác tương tự.
Cựu Ước là kết quả tối hậu của một cố gắng tập thể : ngày nay, điều này quá rơ. Và, có phần nào, chúng ta cũng nói được như vậy về Tân Ước, nhất là về các sách Tin Mừng. Tác phẩm của một trong các tác giả của các sách Tin Mừng không phải là tác phẩm của một cá nhân riêng rẽ ; đúng hơn, nó là khâu cuối của một dây xích. Được đặt nền tảng trên lời nói và việc làm của Đức Ki-tô, Tin Mừng trước hết là được sống trong Giáo Hội ; và, các tác giả, tuy được Thiên Chúa trực tiếp Linh hứng, nhưng đồng thời là phát ngôn viên của một Giáo Hội cũng được Thánh Thần Thiên Chúa hướng dẫn.
Như chúng ta thấy, Tân Ước, không kém ǵ Cựu Ước, làm chứng cho chân lư này là lời thành văn của Thiên Chúa, cũng như Ngôi Lời Nhập Thể của Người đă âm thầm đến giữa chúng ta, lớn lên và phát triển cho đến lúc ra mắt với loài người. Các tác giả sách Thánh được Thánh Thần tác động một cách đặc biệt; nhưng sự chuẩn bị lâu dài để, sau cùng, được một công tŕnh như thế, là một yếu tố quan trọng của kế hoạch cứu độ do Thiên Chúa nghĩ ra để mưu ích cho loài người, và làm một kết quả của ḷng Thiên Chúa ân cần đối với dân Người, Ít-ra-en cũ cũng như Ít-ra-en mới.
BIÊN NIÊN CÁC SÁCH THÁNH KINH
|
thế kỷ tcn. |
Sách sử kư |
Sách ngôn sứ |
Sách minh triết |
Văn phẩm khác |
|
13
12-11
10
9
8
7
6
55
4 3 2
1 |
Mô-sê : Ngũ Kinh nguyên thủy. Gs. khẩu truyền Tl. khẩu truyền
2 Sm 9-1V 1-2
Gia-vít Ê-li-a và Ê-li-sa khẩu truyền Đnl
Gia-vít và Ê-lô-hít nhập một Đnl xuất bản lần 1 Gs-V xb lần 1 Đnl chung cuộc Gs- V chung cuộc Tư tế (sử liệu)
Ngũ kinh chung cuộc
Sk, Edr, Nkm
2 Mcb
1 Mcb |
Am, Hs, Is 1-39 Mk
Xp,Nk,Kb
Gr, Ed Ac,Is 40-55 Kg, Dcr1-8 Is 56-66 Is 34-35; 24-27, Ml,Ov Ge,Dcr9-14
|
Đa-vít : Tv nguyên thủy Sa-lô-mon : minh triết nguyên thủy
Tv
Cn, G
Tvtoànbộ,Dc Gv Hc
Kn |
Rt,Gn,Tb.
Br,Đn,Er
Gđt |
|
Năm sau cn |
Tin mừng và Công vụ Tông Đồ |
Khải Huyền |
Thư Thánh Phao-lô |
các thư khác |
|
51 56 57 57-58 58 61-63 64 64-65 65 67 68-70 70-80 90-100 |
Mc
Mt, Lc, Cv (?)
Ga |
Kh
|
1và 2 Tx Pl (?) 1 Cr,Gl,2 Cr Rm
Pl (?), Cl, Ep, Plm
1 Tm, Tt 2 Tm |
Gc
1 Pr Dt
Gđ, 2 Pr 2, 3 và 1Ga
|
CHƯƠNG II
LỜI THIÊN CHÚA NÓI VỚI LOÀI NGƯỜI
Chúng ta tin Thánh Kinh là Lời Thiên Chúa; và đúng như vậy. Tuy nhiên, không có chân lư nào lại thường xuyên, dai dẳng bị hiểu sai cho bằng. Ngày nay, vẫn c̣n nhiều kẻ tưởng rằng Thiên Chúa đang nói với chúng ta trong Thánh kinh y như Người đă nói với những người đồng thời của ông Mô-sê, của các ngôn sứ và các hiền nhân. Nghĩ như thế là hiểu sai cách Thiên Chúa nói với nhân loại. Nếu Thiên Chúa đă muốn nói với loài người, th́ chẳng những Người đă nói bằng ngôn ngữ nhân loại, mà Người c̣n dùng một ngôn ngữ dễ hiểu đối với những kẻ mà Người gởi gắm lời ḿnh, đối với những ai đă soạn thảo những quyển sách khác nhau trong Thánh Kinh với ơn Linh hứng của Người. Đúng là Thiên Chúa đang nói với chúng ta, nhưng Người nói qua trung gian những con người thuộc Cựu Ước và những Ki-tô hữu thuộc thế kỷ I.
1. HAI CUỘC NHẬP THỂ CỦA NGÔI LỜI
Bây giờ, chúng ta không đề cập đến chân lư căn bản ấy nữa, chúng ta chỉ tự hỏi sự việc Lời Chúa nói với loài người bao hàm cái ǵ. Để trả lời, cách hay nhất có lẽ là theo sự hướng dẫn của các Giáo phụ và nhớ lại rằng các ngài đă nói đến hai cuộc Nhập Thể của Ngôi Lời : một là Nhập Thể vào ngôn ngữ nhân loại, hai là Nhập thể vào xác phàm (1) . Như chúng ta biết, Con Thiên Chúa “đă chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội” (Dt 4, 15). Cũng vậy, chúng ta có thể nói rằng Lời Chúa được ghi chép trong Thánh kinh cũng hoàn toàn như ngôn ngữ nhân loại, nhưng không sai lạc bao giờ. Chẳng những giống loài người, Đức Ki-tô c̣n là Thiên Chúa thật và là người thật. Cũng vậy, chẳng những giống ngôn ngữ loài người, Thánh kinh c̣n là lời loài người theo nghĩa đầy nhất của từ “và”, đồng thời, là lời của Thiên Chúa.
Để nói với chúng ta, Thiên Chúa đă dùng những tác giả là những con người. Như chúng ta sẽ thấy, Thiên Chúa đă thúc đẩy họ thế nào để họ chỉ có thể viết những ǵ Người muốn họ nói. Qua trung gian của họ, Thiên Chúa ngỏ lời cùng độc giả Thánh kinh. Như vậy, chúng ta chỉ chắc chắn là ḿnh đă hiểu đúng điều Thiên Chúa muốn nói với chúng ta, khi nào chúng ta hiểu chính xác được điều các tác giả ấy muốn nói.
Hơn nữa, Thiên Chúa c̣n thích nghi sứ điệp của Người với những đặc sủng của dụng cụ Người đă chọn và với nền văn hóa của những kẻ Người đă trao sứ điệp cho trước hết. Cụ thể mà nói, Người đă ngỏ lời với chúng ta và tiếp tục ngỏ lời, không qua miệng những người Âu-châu, Mỹ-châu..., mà qua miệng những người Sê-mít ngày xưa. Đây là một điểm giống nhau nữa giữa lời thành văn với Ngôi Lời Nhập Thể. Quả vậy, Đức Giê-su không phải là một người thuộc chủng tộc hoặc thuộc thời đại bất định, nhưng là một người Do thái thuộc thế kỷ I.
2. DÂN CHÚA VÀ LỜI CHÚA
Lời Thiên Chúa được nói với loài người theo điều kiện loài người. Chúng ta phải biết điều ấy; nếu không sẽ có nguy cơ là chú giải sai sứ điệp mà lời nói ấy đem lại. V́ thế, chúng ta phải cố gắng, nếu muốn hiểu đúng những ǵ liên quan đến nguồn gốc Sê-mít của Thánh Kinh, nếu muốn hiểu Thánh Kinh đă được h́nh thành thế nào theo các quan niệm và các cách diễn tả xa lạ đối với người Tây phương.
Có thể nói được là chúng ta phải định hướng năo trạng vào một phía mới lạ. Là những người thừa hưởng văn hóa Hy-lạp và Rô-ma, chúng ta thường sử dụng rất nhiều những ư niệm và từ ngữ trừu tượng. Nhưng các tác giả Thánh Kinh và chính Đức Giê-su, th́ không làm như vậy: các Ngài đă diễn tả bằng h́nh ảnh và từ ngữ cụ thể. Cách nh́n, cách nghĩ của chúng ta có thể là rất tự nhiên đối với chúng ta; nhưng nó lại khá xa lạ đối với năo trạng người Sê-mít; và, do đó, viễn tượng và văn hóa của họ hoàn toàn khác với viễn tượng và văn hóa chúng ta.
Phải nói ngay rằng sự việc ấy không có nghĩa là nền văn hóa của họ thấp hơn. Đúng là người Hy-lạp đă làm cho nền triết học mở mang nhiều; nhưng, về điểm này, chúng ta cũng phải thận trọng và đừng đồng hóa một cách đơn thuần triết học với tư tưởng Tây phương. Người Hy-lạp đă cống hiến cho nền văn chương một số kiệt tác; nhưng, trong bộ Thánh Kinh, cũng có những văn phẩm có quyền chiếm địa vị hàng đầu trong các văn phẩm của nền văn chương thế giới. Sau hết, trong lảnh vực thần học, người Do-thái là thầy chúng ta. Có lẽ khó mà tưởng tượng những nhà thần học khác với những nhà thần học như thánh Âu-tinh hoặc thánh Tô-ma A-qui-nô. Nhưng sự thật là, cho đến ngày Cánh chung, thiên hạ sẽ không ngừng khám phá những tư tưởng sâu xa, mới mẻ trong các văn phẩm của các nhà thần học vĩ đại trong Thánh Kinh như : tác giả trào lưu Gia-vít, Gióp, thánh Phao-lô, thánh Gio-an, nếu chỉ nhắc đến vài kiện tướng.
Chúng ta phải học nơi người Do-thái hơn là chúng ta tưởng. Phải học làm quen với bộ Thánh Kinh, chẳng những với ḷng tôn trọng Lời Chúa đ̣i hỏi, nhưng c̣n phải với ḷng khiêm nhu trí tuệ, hầu nhận ra rằng bộ Thánh Kinh là một kỳ công vô sánh mà trí tuệ con người đă thực hiện.
Ít ra có một điều mà, ngày nay, chúng ta biết khá rơ: đó là năo trạng người Sê-mít khác nhiều với tinh thần người Hy-lạp. Trước hết, người Do-thái không cho cách nhận thức suy lư địa vị ưu tiên. Đối với những người hấp thụ văn minh Hy-La, th́ “biết” có nghĩa là hiểu rơ một ư tưởng ; nhưng, đối với người Sê-mít, th́ “biết” c̣n ám chỉ, bao gồm nhiều điều rộng hơn. Khi Thánh Kinh nói “biết Thiên Chúa”, việc “biết” ấy không chỉ là một khái niệm suy lư thuần túy, nhưng c̣n là một định hướng của toàn thể con người, một cuộc hiến thân đầy yêu thương cùng sự dấn thân tất cả cuộc đời cũng như sự chấp nhận tất cả những ǵ là Thiên Chúa và những ǵ thuộc về Người với một ư chí phục vụ Người.
Theo tinh thần Thánh Kinh, con người đến với Thiên Chúa qua đường vâng phục và phục vụ hơn là qua ngă chiêm niệm. Ở đó, con người nghe hơn là nh́n, v́ sự hoàn thiện trước khi làchiêm niệm Mầu nhiệm Thiên Chúa trong yếu tính của Người, th́ phải là lắng nghe tiếng gọi t́nh thương của Người. Tôn giáo của Thánh Kinh là “một tôn giáo chủ trương ‘hành đ