THÁNH KINH
TỔNG LUẬN NHẬP MÔN
Người dịch : Lm Tanila Hoàng Đắc Ánh
CHƯƠNG III
LỜI ĐƯỢC LINH HỨNG
Muốn ư niệm của chúng ta về sự linh hứng được tương ứng với đối tượng, ư niệm ấy phải thế nào mà có thể áp dụng cho toàn bộ thánh kinh như sẵn có, với tất cả những yếu tố phức tạp của nó. Chính v́ thế mà chúng ta dừng lại khá lâu để cắt nghĩa nguồn gốc và bản chất của Thánh Kinh. Bây giờ, chúng ta chuẩn bị khảo sát chính khái niệm về linh hứng.
1. SỰ KIỆN LINH HỨNG.
1. Lời chứng của Thánh Kinh.
Trong sách Cựu Ước, không có chỗ nào nói một cách minh nhiên là Thánh Kinh được linh hứng. Tuy nhiên, trong sách, có nhiều đoạn văn ám chỉ về điều ấy. Chẳng hạn có chỗ nói rằng chính v́ Thiên Chúa ra lệnh mà ông Mô-sê viết sách Giao Ước (Xh 24,4tt ; 34,27), mà ngôn sứ Giê-rê-mi-a soạn thảo các lời sấm của Chúa (Gr 30,2 ; 36,2). Như đă nói trên, người Do thái chia các sách Thánh Kinh làm ba nhóm và họ tin tất cả ba nhóm ấy đều đến từ Thiên Chúa. Bộ sách Luật được coi là Lời của Thiên Chúa. C̣n về các ngôn sứ, th́ họ nói là các ngài đă công bố Lời Thiên Chúa. Sách Luật và các sách Ngôn sứ, cộng thêm các Văn phẩm : đó là những “Sách Thánh ” mà tác giả 1Mcb 12,9 đă nói.
Giáo Hội đă thừa hưởng các sách Thánh Kinh ấy và đă công nhận tính cách thần thiêng của chúng. Đức Giê-su Ki-tô cũng quan tâm và trích dẫn các sách ấy như Lời Thiên Chúa (Mt 22,31 ; Mc 7,13 ; Ga 10,34 tt), như Lời phải được ứng nghiệm (Mt 26,54 ; Lc 24,44tt). Các tông đồ cũng làm như vậy. Theo thánh Phê-rô, th́ chính Thánh Thần nói qua miệng vua Đa-vít (Cv 1,16 ; 4,25), và thánh Phao-lô cũng nói như vậy khi nói về ngôn sứ I-sai-a (Cv 28,25). Các lư lẽ được xây dựng trên Thánh Kinh và gán cho Thánh Kinh một uy quyền thần linh (Rm 3,2 ; 1Cr 14,21 ; Dt 3,7 ; 10,15 ; v.v). Vả lại, có hai đoạn văn đă thành cổ điển, đó là 2 Tm 3,16 và 2 Pr 1,21. Đoạn văn thứ nhất nói về phạm vi của sự việc linh hứng, c̣n bản văn thứ hai nói về bản tính của sự việc linh hứng. Cả hai đoạn văn đều quan hệ đến Cựu Ước :
- Trong 2 Tm 3,16, thánh Phao-lô khuyên ông Ti-mô-thêu hăy giữ vững những ǵ đă học hầu xứng đáng là người đă lănh nhận giáo huấn từ Vị Tông đồ và đă biết Thánh Kinh từ thửa thơ ấu. Rồi ông thánh Phao-lô nói tiếp : “Tất cả (những ǵ viết trong) Thánh Kinh đều do Thiên Chúa linh hứng và có ích cho việc giảng dạy, biện bác, sửa dạy, giáo dục để trở nên công chính”. “Tất cả Thánh Kinh” - muốn cho sát, th́ phải dịch : “Tất cả những ǵ đă được viết” - hiển nhiên là Thánh Kinh mà câu trên vừa nói tới. Nghĩa là tất cả Cựu Ước. Chỉ kư chú rằng chúng ta cũng có thể dịch như bản dịch phổ thông là “Tất cả Thánh Kinh do Thiên Chúa linh hứng đều có ích”, cách dịch này cũng có lợi cho sự việc linh hứng. Tuy nhiên khi áp dụng vào Cựu Ước xét theo toàn bộ, th́ cách dịch thứ hai này không tốt bằng cách dịch thứ nhất và, do đó, bị các nhà huấn cổ hiện đại loại bỏ.
C̣n theo 2 Pr 1,21, th́ “không ai được tự tiện giải thích một lời ngôn sứ nào trong Thánh Kinh”. Và tác giả thêm : “Lời ngôn sứ không bao giờ lại do ư muốn người phàm, nhưng chính nhờ Thánh Thần thúc đẩy mà có những người đă nói theo lệnh của Thiên Chúa”. Lời ngôn sứ nói ở đây (2 Pr 1,21) chắc chắn là “lời ngôn sứ Thánh Kinh” mà 2 Pr 1,20 đă nói, nghĩa là lời của các ngôn sứ đă được viết ra. Sách nói rằng lời ấy là do Thánh Thần thúc đẩy đặc biệt.
Hai đoạn văn nói trên chỉ liên hệ tới Cựu Ước ; C̣n đối với Tân Ước, th́ chúng ta chưa thấy ǵ là minh nhiên. Tuy vậy, cũng có vài bằng chứng gián tiếp thường được khai thác. Chẳng hạn, trong 1Tm 5,18, để làm bằng chứng Thánh Kinh, thánh Phao-lô vừa dẫn sách Đệ nhị luật (25,4), lại vừa dẫn một lời của Đức Ki-tô được thánh Lu-ca ghi lại ở Lc 10,7. Đằng khác trong 2Pr 3,15, các thư của thánh Phao-lô được đặt ngang hàng với các sách Thánh Kinh khác. Và, tất nhiên, các sách này đă được coi là được linh hứng.
2. Lời chứng của Giáo Phụ.
Niềm tin của Giáo Hội vào sự Thánh Kinh được linh hứng đă hiện rơ ngay từ đầu trong truyền thống các Giáo Phụ và trong giáo huấn của các nhà thần học, ngoại trừ một vài ư kiến riêng biệt mà thôi.
Các Giáo Phụ cổ nhất, tức là các Giáo Phụ thuộc thế kỷ II, gọi Thánh Kinh là “những lời sấm của Thiên Chúa”. Các ngài nói rằng Thánh Thần đă làm các tác giả nhân loại thành dụng cụ của ḿnh và đọc Thánh Kinh cho mà viết.
C̣n các Giáo Phụ thuộc hai thế kỷ III và IV th́ nói Thánh Thần là “tác giả” của Thánh Kinh và khẳng định rằng Cựu Ước cũng như Tân Ước đều được Người Linh hứng. Theo Thánh Âu-tinh (+ 430),th́ Thánh Kinh là lá thư từ trời gửi xuống. C̣n theo thánh Giê-rô-ni-mô (+ 420), th́ tất cả tác giả Thánh Kinh là dụng cụ của Thiên Chúa. Thánh Giê-gô-ri-ô Cả c̣n đi xa hơn, ngài tuyên bố rằng tác giả Thánh Kinh là Thánh Thần không cần biết tác giả nhân lọai tên ǵ.
Chúng ta có thể tóm giáo huấn của các giáo phụ vào hai mệnh đề :
1. Thiên Chúa (Thánh Thần) là tác giả của Thánh Kinh.
2. Tác giả nhân loại là dụng cụ của Thiên Chúa.
3. Lời chứng của Giáo Hội.
Một số khá nhiều các tuyên ngôn chính thức của Giáo Hội đă lấy lại truyền thống các Giáo phụ và, đồng thời, cho thấy rằng giáo huấn của Giáo Hội đang phát triển và minh xác hơn. Cho đến thế kỷ V, Giáo Hội phải đặc biệt bận tâm xác định và bênh vực tầm quan trọng và nội dung của Lời Chúa. Giáo Hội đă thiết lập các danh sách các văn phẩm được coi là thánh. Từ thế kỷ VI đến thế kỷ XIII, người ta luôn luôn nói đi nói lại rằng các sách ấy là thánh v́ Thiên Chúa là tác giả. Để đương đầu với một vài lạc giáo loại bỏ hoặc hạ giá Cựu Ước, Giáo Hội đă minh nhiên công bố Thiên Chúa là tác giả của Cựu Ước cũng như Người là tác giả của Tân Ước.
Để chứng thực cho khẳng định này, Công đồng Florence (1441) đă đưa ra một lư lẽ mà chúng ta t́m thấy của các Giáo phụ, là : Thiên Chúa là tác giả của hai sách Giao ước, v́ các vị viết sách Cựu Ước cũng như những vị viết sách Tân Ước đều viết dưới sự linh hứng của Thánh Thần. Giáo lư này được Công đồng Trentô nhắc lại và được Công đồng Va-ti-ca-nô I nhắc lại một lần nữa. Công đồng Va-ti-ca-nô này xác định linh hứng không phải là thế này, thế kia. Thông điệp “Thiên Chúa rất quan pḥng” (Providentissiums Deus) của Đức Giáo Hoàng Lê-ô XIII đă định nghĩa sự việc linh hứng theo hướng tích cực, và thông điệp “Chúa Thánh Thần” (Spiritus Paraclitus) của Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đi-tô XV và thông điệp “Thánh Thần linh hứng” (Divino afflante Spiritu) của Đức Giáo Hoàng Pi-ô XII khai triển một số khía cạnh của sự việc linh hứng.
Sau hết, Hiến chế “Mặc Khải” (Dei Varbum) của Công đồng Va-ti-ca-nô II, trong chương III, lưu ư đến sự kiện này là Thánh Kinh là do Thánh Thần linh hứng và, do đó, có uy quyền của Thiên Chúa. Hiến chế cũng nhắc lại rằng Thánh Kinh gồm những thực tại được Thiên Chúa linh hứng ; và Hiến chế ấy nhấn mạnh sự tự do của những kẻ được Thiên Chúa tuyển chọn làm dụng cụ cho Người khi họ soạn thảo những sách được linh hứng.
2. NHỮNG Ư KIẾN SAI LẠC LIÊN QUAN ĐẾN SỰ VIêC LINH HỨNG.
Có sự việc linh hứng, đó là một tín điều phải tin. Nhưng định nghĩa bản tính của sự việc linh hứng không phải là việc đơn giản. Và nhiều người đă muốn đưa ra một lư thuyết về sự việc linh hứng đă lắm khi không lưu ư tới tất cả những đ̣i hỏi của sự việc. Thậm chí, một số ư kiến tỏ ra thiếu sót đến nỗi Giáo Hội đă phải duyệt lại và, đôi khi, đă phải lên án.
- Về phía Thiên Chúa .
Để làm thí dụ, chúng ta nêu lên hai lư thuyết : “Lư thuyết chuẩn y sau” và lư thuyết “trợ giúp bên ngoài”, cả hai đều bị Công đồng Va-ti-ca-nô I loại bỏ.
Một cuốn sách đă được linh hứng, khi tự nó là công tŕnh của một người phàm nhưng, sau đó, được Thiên Chúa chuẩn y và tuyên bố là không sai lầm, tuyên bố trực tiếp do Người hoặc qua trung gian Giáo Hội, nhưng, như vậy, Thiên Chúa không thể nào gọi được là tác giả của cuốn sách.
C̣n theo lư thuyết “trợ giúp bên ngoài”, th́ vai tṛ của Thiên Chúa chỉ c̣n là trợ giúp cho người viết khỏi mọi sai lầm. Ở đây, cũng vậy, Thiên Chúa không phải là tác giả của cuốn sách.
Một số lư thuyết khác đă được các học giả không Công giáo đề nghị, nhưng các lư thuyết ấy không khác với hai lư thuyết trên bao nhiêu. Ví dụ, Thiên Chúa là tác giả Thánh Kinh chỉ v́ Người muốn các sách Thánh Kinh được viết ra. Cho nên, Người đă chọn những kẻ Người thấy có khả năng thực hiện ư đinh của Người, rồi Người truyền lệnh hoặc thúc đẩy họ viết. Nhưng, cũng như các lư thuyết trên, lư thuyết này cũng gán tác phẩm hoàn toàn cho tác giả nhân loại.
Sau hết, nhiều học giả hiện đại coi linh hứng trong Thánh Kinh như linh hứng trong thi ca.
- Về phía nhân loại.
Ngược lại có nhiều lư thuyết có khuynh hướng giảm thiểu vai tṛ của tác giả nhân loại. Linh hứng được quan niệm như việc viết chính tả : Tác giả nhân loại chỉ phải nghe một cách thụ động và ghi lại cho chính xác, y như cây viết trong tay người viết. Nhưng, nếu vậy, không thể nào gọi là tác giả những người chỉ đóng vai tṛ thư kư mà thôi.
Đạo lư Công giáo về sự việc linh hứng thật là xa lạ với cách quan niệm sự việc như thế. Công đồng Va-ti-ca-nô I cho thấy rơ ràng là có sáng kiến về phía con người : Công đồng loại bỏ lư thuyết sai lầm đối nghịch ở chỗ đó. Công đồng nói : “Những sách Thánh Kinh không phải là kết quả của “tài trí người phàm mà thôi””.
Tuy nhiên, phải công nhận rằng các Giáo phụ cổ xưa đôi khi đă dùng cách nói và h́nh ảnh có vẻ ám chỉ việc chính tả gần như máy móc. Chẳng hạn, có ngài nói rằng Thiên Chúa sử dụng tác giả nhân loại như một nhạc công sử dụng cây đàn. Nhưng không nên hiểu theo nghĩa đen những kiểu so sánh như vậy. Một vài Giáo phụ đă dùng các cách so sánh như thế ; nhưng, chỗ khác, các ngài công nhận rằng tác giả nhân loại đă tự do sử dụng các tài năng của ḿnh. Chỉ nên nhớ rằng : ở thời ấy, phía nhân loại của Thánh Kinh không được nhấn mạnh đủ.
Ngoại trừ những lư thuyết sai lầm chúng ta vừa nhắc tới, con số lư thuyết sai lầm đă lan tràn rộng răi hơn : Đó là lẫn lộn Mặc khải và Linh hứng. Lư thuyết này đang được nghiên cứu riêng. Và, sau khi nghiên cứu, chúng ta sẽ có thể định nghĩa và phân biệt giữa một ngôn sứ với một văn giả được linh hứng.
3. MẶC KHẢI VÀ LINH HỨNG.
Trong bộ “Thần học Đại toàn” của ḿnh, thánh Tô-ma đă dành mấy chương để khảo cứu vấn đề ngôn sứ (II/II, 171-175). Ơ đó, ngài đề cập vấn đề linh hứng ngôn sứ. Ngài cố ư giới hạn phạm vi sưu tầm của ḿnh, bằng cách cho từ “sứ ngôn” nghĩa hẹp nhất của nó : theo ngài, ngôn sứ là người lănh nhận từ Thiên Chúa một mặc khải. Trong một sự việc như thế, ảnh hưởng của Thiên Chúa là hiển nhiên ; c̣n lại cho sáng kiến nhân loại chẳng có bao nhiêu. Đoàn sủng sứ ngôn soi sáng sự phán đoán của người ngôn sứ ; đoàn sủng ấy bảo đảm cho chân lư của sứ điệp mà người ngôn sứ chỉ lănh nhận để thông tri cho kẻ khác. Và sự phán đoán nói ở đây thuộc trật tự suy lư : Thiên Chúa làm cho người ngôn sứ hiểu biết thế nào, để ngài thông tri một cách trung thực khi giảng dạy.
Phải kư chú rằng, trong các chương khái niệm nói trên, thánh Tô-ma không quan tâm đến sự việc linh hứng trong Thánh Kinh, dù là một cách gián tiếp. Dầu vậy, những nguyên tắc ngài viện dẫn có thể hữu ích khi nghiên cứu về sự việc linh hứng.
Chưa hẳn là chúng ta thừa nhận tư tưởng của thánh Tô-ma : ngài đă nh́n người ngôn sứ như một dụng cụ thuần túy và dễ bảo mà lời nói phản ánh chính xác Lời nói của Thiên Chúa ; nhưng, ở đây cũng như ở nhiều chỗ khác, vị tiến sĩ vĩ đại đă bị những nhà chú giải hiểu sai. Quả vậy, không ai chối căi rằng, cho đến thời hiện đại, sự việc linh hứng của Thánh Kinh đă được đồng hóa với sự việc linh hứng của ngôn sứ. Ít ra là trong thực hành, môn huấn cổ thời Giáo phụ và thời Trung cổ đă không biết ǵ về tác giả nhân loại. Theo môn học này, th́ Thánh Kinh là Lời của Thiên Chúa, chỉ có thể, và Thiên Chúa nói chân lư đầy đủ trong mỗi chữ của Thánh Kinh, dầu là chữ nhỏ bé nhất. C̣n nếu ư nghĩa từng chữ của một đoạn văn nào đó có vẻ loại bỏ mọi sứ điệp thiêng liêng, th́ môn huấn cổ ẩn dụ sẽ đến tiếp tay, để giúp khám khá một nghĩa nào đó ẩn tàng sau mặt chữ. Một quan niệm không uyển chuyển như thế, gần như là không chối căi được, đă có trong giới Thệ phản cũng như trong giới Công giáo, và c̣n tồn tại cho đến thế kỷ XIX. Phải đợi đến khi xuất hiện những công tŕnh nghiên cứu của môn huấn cổ hiện đại, mới thấy rằng chúng ta không có quyền không biết vai tṛ của tác giả nhân loại.
Sự việc linh hứng ngôn sứ, theo nghĩa hẹp như thánh Tô-ma hiểu, thật là hiếm có trong Thánh Kinh, dù cho nó không hoàn toàn vắng mặt trong Thánh kinh. Ở đây cần phải nhắc lại rằng, để định nghĩa “linh hứng” như thánh Tô-ma đă làm, ngài đă chịu ảnh hưởng của nền văn hoá mà ngài đă thừa hưởng : nền văn hoá của hai triết gia Platon và Aristote. Trong hệ thống tư tưởng này, tri thức suy lư chiếm chỗ nhất. Con người đến tới Thiên Chúa bằng suy tư và chiêm niệm. Đối với người Hy-lạp, lời sấm thần linh được làm thành bằng những chân lư thượng đẳng được thông tri cho loài người qua trung gian các thi sĩ thụ hứng và các nữ ngôn sứ. Đặt ḿnh trong cùng một viễn tượng, truyền thống Giáo phụ đă có khuynh hướng nh́n các tác giả Thánh Kinh như những viên chức truyền đạt “Mạc khải”, và coi chính bộ Thánh Kinh như một vựng tập các chân lư đưọc đề nghị cho loài người. Thần học Trung cổ không thay đổi cách nh́n ấy. Đối với thánh Tô-ma, th́ vai tṛ ngôn sứ, chính yếu,thuộc về trí khôn : ông lănh nhận từ Thiên Chúa những chân lư chưa được biết, và truyền đạt các chân lư ấy cho loài người được biết.
Ngày nay, không như vậy. Năo trạng người Sê-mít được người ta biết hơn và, trước mắt chúng ta, năo trạng ấy. Rơ ràng là tương phản với năo trạng Hy-lạp. Từ đầu chí cuối bộ Thánh Kinh, điều được nhấn mạnh trước hết không phải là trí thức và chiêm niệm, mà là hành động và t́nh thương. Và điều này rất đúng khi nói về Cựu Ước và cả khi nói về Tân Ước. Ngôi Lời Nhập thể tỏ ra không bận tâm với việc mặc khải cho loài người những đối tượng cao siêu của sự chiêm niệm, cho bằng nói lên lời mời tối thượng loài người hăy yêu thương và, bằng gương sáng, chỉ vẽ cho họ con đường hy sinh và tạ ơn, tin tưởng và vâng phục, dẫn họ đến cùng Chúa Cha.
Thánh Tô-ma (thế kỷ XIII) không có và cũng không thể có đuợc sự hiểu biết Thánh Kinh mà các công tŕnh nghiên cứu lịch sử của thời kỳ hiện đại đă cung cấp cho chúng ta. Muốn thấy được vấn đề một cách rơ ràng, chúng ta phải bỏ qua ư nghĩa chuyên môn và chính xác mà các từ “Mặc khải” và “Linh hứng” đă có trong thuật ngữ thần học kinh viện, và phải tự hỏi Thánh Kinh muốn nói ǵ khi sử dụng những từ ấy.
1. Linh hứng trong Thánh Kinh .
Nếu ngoại trừ từ “thêopnêustôs” trong 2 Tm 3,16, th́ từ “Linh hứng” không thấy có trong Thánh Kinh. Nhưng chúng ta thấy trong Thánh Kinh, một cái ǵ quan trọng hơn là một từ chuyên môn. Đó là một thực tại, sự “Thần Khí chiếm hữu”. Và sự này được nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần.
Đằng khác, sự chiếm hữu ấy được mô tả bằng nhiều cách thật là khác nhau. V́ thế, nên vắn tắt nghiên cứu những cách khác nhau Thiên Chúa đă dùng để thúc đẩy những kẻ Người chọn để thực hiện chương tŕnh cứu độ. Chúng ta sẽ thấy ngay rằng sự “linh hứng’ này chiếm một phạm vi đặc biệt rộng lớn hơn đoàn sủng Thiên Chúa ban cho các tác giả sách Thánh Kinh.
1-Trong Cựu Ước, “Thần khí của Đức Giavê” là một sức mạnh nhiệm mầu thâm nhập mănh liệt vào lịch sử Dân Chúa và thực hiện những công tŕnh của Đức Giavê, Đấng Cứu độ và cũng là vị thẩm phán. Thần khí ấy chiếm hữu những kẻ Người chọn, biến đổi họ, và trang bị cho họ một sức mạnh để họ có thể đóng một vai tṛ đặc biệt, và, qua trung gian của họ, Người hướng dẫn số mệnh của Ít-ra-en và viết nên lịch sử cứu độ trong những giai đoạn khác nhau của nó.
a. Trong những bản văn xưa cổ, chúng ta thấy tác động của Thần khí đột ngột và mau qua. Thần khí ấy “lay động” (Tl 13,25), “Xuống trên” ngôn sứ (Ed 11,5), “Cướp lấy” (1V 18,12 ; 2V 2,16), “Đổ xuống” “một cách mănh liệt” (Tl 14,6). Thần khí ấy có thể khơi dậy, nơi kẻ Người chạm đến một sức mạnh vật lư phi thường để phục vụ Dân Chúa (Tl 13,25 ; 14,6.19 ; 15,14) hoặc Thần khí ấy c̣n có thể làm cho họ thực hiện những chiến công oanh liệt (Tl 6,34 ; 11,29 ; 1Sm 11,6-11). Tóm lại, trong số các thủ lănh không được chuẩn bị, cũng không có thiên tính để đóng một vai tṛ, có nhiều kẻ đột nhiên được biến đổi hoàn toàn. Tác động của Thần khí đă làm cho họ có khả năng thực hiện những công việc phi thường về sức mạnh cũng như về can đảm. Tác động Thần khí trang bị cho họ một nhân cách mới lạ biến họ thành những nhà lănh tụ và những vị cứu tinh dân tộc.
Thần khí c̣n gợi lên trong họ cảm hứng nói tiên tri và xuất thần (Ds 11,24-30 ; 1 Sm 10, 5-13 ; 19, 20-24), cho họ khả năng làm phép lạ (1 V 17, 14.17.24 ; 2 V 2,15 ; 4, 1-44), nói tiên tri (Ds 24,2 ; 1Sk 12,19 ; 2 Sk 10,14 ; 24,20), giải thích những chiêm bao (St 40,8 ; 41,16.18 ; Đn 4,5 ; 5,11 ; 6,4). Trong những trường hợp ấy, Thần khí “đến trên” một số người như một ân huệ Thiên Chúa đă tự do ban tặng không đ̣i công đức.
b. Trong những bản văn sau này, chúng ta thấy Thần khí Đức Gia-vê ngự xuống và ở trong các vị lănh tụ có đặc sủng. Người đến và ngự trên ông Mô-sê (Ds 11,17.25), ông Gio-suê (Ds 27,18 ; Đnl 34,9), ông Sau-lô (1 Sm 16,14), ông Đa-vít (1 Sm 16,13 ; 2 Sm 23,2). Khác với các thủ lănh, các vị vua lănh nhận một chức vụ thường xuyên ; và nghi lễ xức dầu tấn phong biểu lộ sự Thần khí chiếm hữu và trang bị cho họ một uy quyền thần thiêng (1 Sm 10,1 ; 16,13).
Nhưng Thần khí cũng ngự trên ông Ê-li-a (2 V 2,9), ông Ê-li-sa (2,15) ; và các ngôn sứ là những người đăc biệt mang Thần khí. Thực th́ các ngôn sứ trước thời lưu đày không được minh nhiên tự tôn là đă được Thần khí chiếm hữu : các ngài thích gọi sức mạnh đă chiếm lấy họ là “bàn tay Thiên Chúa” (Is 8,11 ; Gr 1,9 ; 15,17 ; Ed 3,14). Chính các vị ngôn sứ xuất thần sống tập thể và các vị ngôn sứ giả nữa, mới tin chắc là ḿnh được Thần khí của Chúa đánh động. Nhưng ngôn sứ Hô-sê (9,7) được gọi là người của Thần khí” ; và ngôn sứ Mi-kha (3,8) tuyên bố : “Phần tôi, tôi đầy sức mạnh, đầy Thần khí của Chúa” [1].
c. Sau lưu đày, có một vài đoạn văn nói rơ ràng Đức Gia-vê đă nhờ Thần khí của Ngài mà nói qua miệng các vị ngôn sứ thời xưa (Dcr 7,12 ; Nkm 9,30). C̣n ngôn sứ Ê-dê-ki-en th́ công bố cũng không kém rơ ràng rằng Thần khí của Đức Gia-vê là linh hồn của sự linh hứng ngôn sứ (Ed 2,2 ; 3,14 ; 11,5).
Các ngôn sứ đă công nhận rằng họ đă chịu một sức ép rất mạnh bắt họ phải nói, bất chấp khuynh hướng riêng của ḿnh (Am 3,8 ; 7,14-15 ; Gr 20, 7-9). Họ nói, dù nói như vậy có thể có nguy cơ cho họ, nhưng lời của họ như bị kéo ra khỏi miệng họ. Vả lại, họ cũng biết rằng những lời họ nói không phải là của họ, mà là của Chúa, Đấng đă sai họ.
Chính nhờ Thần khí của Đức Gia-vê mà các ngôn sứ lănh nhận lời của Đức Gia-vê (Is 30,1 ; Dcr 7,2). Thần khí biến người ngôn sứ nên “thành tŕ kiên cố, một cột sắt tường đồng” (Gr 1,18 ; tc 1,8 ; 20,11) ; Thần khí của Đức Gia-vê làm cho trán họ “cứng như kim cương, là loại cứng hơn đá (Ed 3,8-9 ; tc Is 6,6-9). Khi Đấng Mê-si-a đến, tất cả những ai thuộc về Ít-ra-en đều được linh hứng nói tiên tri (ngôn sứ) ; và được như thế là v́ Thần khí của Đức Gia-vê sẽ đưọc tuôn đổ trên mọi người (Ge 3,1tt ; tc Is 32,15 ; Ed 39,29).
Cũng sau thời lưu đày (và đây là điều đáng lưu ư), Thần khí của Đức Gia-vê là nguồn suối đời sống đạo đức và tôn giáo. Tác giả Thánh vịnh 51 (50) xin Thiên Chúa “đừng cất khỏi ḷng con Thần khí thánh” của Người (số 13). Thần Khí này ngự trong tâm hồn người công chính và ban cho họ sức mạnh để sống một đời sống thánh thiện (tc Is 63,10-13). Thần khí, một khi đổ xuống tràn đầy, là thiết lập vương quốc pháp luật và công b́nh (Is 32,16) và ban cho loài người một cảm giác mới đối với Lời Chúa (Is 59,21 ; Tv 143 (142), 10) và đối với Giao Ước của Người (Ed 32,27). Được Thần khí cho tái sinh, Ít-ra-en sẽ nhận ra Thiên Chúa của ḿnh và sẽ đi trong đường lối của Người : “Ta sẽ đặt Thần Khí Ta vào ḷng các ngươi... các ngươi sẽ là dân Ta chọn, và Ta sẽ là Chúa các ngươi thờ” Chúa phán cùng ngôn sứ Ê-dê-ki-en (36, 27-28) như thế.
2- C̣n trong Tân Ước, chúng ta cũng nhận thấy rằng ưniệm của thánh Lu-ca về Thần Khí thật gần với quan niệm chúng ta thấy trong Cựu Ước. Về hầu hết các nhân vật được nhắc đến trong Lc 1-2, chúng ta thấy tác giả nói là họ được thúc đẩy bởi Thánh Thần hoặc đưọc đầy tràn Thánh Thần : Gio-an Tẩy Giả ngay khi c̣n trong ḷng mẹ (1,15.18), song thân của ngài là ông Da-ca-ri-a (1,67 tt) và bà Ê-li-sa-bét (1, 41 tt) ; rồi ông Si-mê-on (2, 27 tt) và bà Anna (2, 36), cũng vậy. Trong các trường hợp ấy, Thần Khí mà Đức Gia-vê ban tặng, là Thần Khí ngôn sứ.
Trong một Tin Mừng thứ ba, Thần Khí được tŕnh bày như một uy lực siêu nhiên và thần linh (Lc 1,35). Với tư cách là Đấng Mê-si-a, Đức Giêsu là người mang Thần Khí : đó là một chân lư mà thánh Lu-ca thích nhấn mạnh. Sau khi chịu phép Rửa và chịu cám dỗ, Đức Giêsu được quyền năng Thánh Thần thúc đẩy : Người trở vể miền Ga-li-lê và bắt đầu thực hiện công tŕnh cứu độ (4,14). Những lời đầu tiên của Đức Giê-su là những lời rút từ Is 61, 1-2 : “Thần khí Chúa ngự trên tôi, v́ Chúa đă xức dầu tấn phong tôi, sai đi báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn” (4,18). Thế là toàn thể sứ vụ công khai của Đức Giê-su được đặt dưới dấu chỉ của Thần Khí và tất cả những công tŕnh và giáo huấn của Đức Ki-tô phải được nh́n trong ánh sáng trong viễn tượng đầu tiên này.
Vào cuối đời, Đức Ki-tô bảo đảm cho các môn đệ là Người sẽ sai, “sẽ gửi cho họ điều Chúa Cha đă hứa” (Lc 24,49), “Sức mạnh của Thánh Thần” (Cv 1,8), v́ Thánh Thần là quà Đức Ki-tô sẽ ban tặng, một khi đă phục sinh và lên trời (Ga 7,38-39 ; 14,26).
Từ lễ Ngũ tuần trở đi, Thánh Thần là vị hướng dẫn và là sức mạnh phát động công việc truyền giáo theo lệnh Đức Ki-tô. Xưa kia, Thánh Thần đă hướng dẫn Đức Mê-si-a, th́ ngày nay Đức Mê-si-a, một khi đă phục sinh và được đặt làm Đức Chúa (Cv 2,36 ; 1,8 ; 2,4), Đấng ấy tuôn đổ Thánh Thần trên Giáo Hội Người. Và thế là sứ ngôn Gio-en (3,1-5) được ứng nghiệm (Cv 2,17-21).
Hoạt động của Thần Khí có rất nhiều h́nh thức. Các đoàn sủng (đặc biệt là ân sủng nói tiếng lạ) và nói tiên tri là hai h́nh thức rơ rệt và đánh động nhất của hoạt động ấy (Cv 2, 33 ; 10, 46 ; 19, 6 ; 11, 28 ; 21, 11-12 ; 13,1 ; 15, 32 ; 21, 9) ; nhưng vai tṛ hướng dẫn và làm nguồn ban sức mạnh cho các vị rao giảng đạo Đức Ki-tô, vai tṛ ấy mới là quan trọng hơn cả (tc 2, 5-6. 22-36 ; 5, 32 ; 6, 10 ; 8, 29 ; 10, 19 ; 11, 12 ; 13, 24 ; 15, 28 ; 16, 6-7).
Trong các tác phẩm thánh Phao-lô th́, trong cơ bản, Thần Khí là năng động thần linh, từ trời, hiện hữu một cách đặc biệt trong Đức Ki-tô Phục sinh và thâm nhập Nhiệm thể của Người là Giáo Hội. Thần Khí đó chưa được quan niệm một cách rơ rệt, minh nhiên là một hữu thể thần linh ngôi vị và cá biệt. Một đoạn văn đơn độc của thánh Mat-thêu đây là công thức của phép thanh tẩy được giảng dạy sau khi Đức Ki-tô phục sinh là một tuyên ngôn rơ ràng về tính cách ngôi vị của Thần Khí (Mt 28,19). Ngoài ra, trong phụng vụ, cũng có một đoạn văn song hành vơí Mt 28,19 này, được ghi lại ở 2Cr 13,13. Đàng khác, thánh Gio-an nói rằng Thánh Thần là Đấng bào chữa, là vị trạng sư như Chúa Con (14,16). Và, đó đây trong bài diễn từ sau bữa Tiệc Ly, rơ ràng Thần Khí là một Ngôi vị do Chúa Cha và Chúa Con sai đến.
Về linh hứng trong Thánh Kinh, có thể tóm lại như sau :
Mấy hàng nghiên cứu này, tuy là cấp tốc, nhưng cũng cho thấy rằng tác động của Thánh Thần thật là đa dạng. Chúng ta có thể sắp xếp các nội dung của tác động ấy dưới ba h́nh thức.
1. Trước hết là linh hứng để hành động, một thức đẩy hữu hiệu : Thần Khí chiếm hữu một người để bắt họ thực hiện một số công tác. Những công tác này không phải chỉ là những chiến công bất thần hoặc những cử chỉ tượng trưng, nhưng c̣n là những công tŕnh đại qui mô có tầm quan trọng quyết định trong diễn biến của lịch sử. Thần Khí của Đức Gia-vê hkơi dậy và khích thích những kẻ Người muốn trao cho trách nhiệm dẫn dắt ḍng lịch sử thánh.
2. Thứ hai là linh hứng để nói, một h́nh thức thấy nơi các ngôn sứ. Ngôn sứ là thông ngôn của Thần Khí. Và kết quả của linh hứng này là họ công bố “những lời sấm của Đức Gia-vê”, những lời này làm thành giáo huấn dạy dân và hướng dẫn hành vi của họ.
3. Bên cạnh hai cách Thần Khí thúc đẩy, c̣n có cách thứ ba mà Thánh Kinh cố ư không nói đến. Đó là chiếm hữu và thúc đẩy một người nghĩ hoặc viết. Dĩ nhiên, chúng ta vẫn có thể nói “linh hứng” để viết hoặc thành văn (scriptuaraier) ; nhưng, như các đoạn văn cho thấy, chúng ta phải coi chừng kẻo cho “linh hứng thành văn” là tuyệt đối, dường như trong Thánh Kinh, sự việc linh hứng không được thực hiện và biểu lộ bằng cách nào khác. Chúng ta có quyền nói là “linh hứng thành văn”, v́ Thánh Kinh đúng là giai đoạn cuối cùng được Thiên Chúa muốn và nhắm tới : Người muốn các biến cố của lịch sử thánh và giáo huấn truyền khẩu, sau hết, phải được viết ra. Nhưng thu gọn sự linh hứng vào giai đoạn cuối cùng là một sai lầm. Phải làm như chính Thánh Kinh đă làm, là đưa sự việc linh hứng đến các giai đoạn. Trước kia : các giai đoạn này không kém quan trọng, dầu khi ấy Lời Chúa mới được các mục tử và các vị lănh đạo Dân Chúa sống mà thôi.
Khi khẳng định rằng Thánh Kinh không bao giờ tŕnh bày Thần Khí xuống trên một người để thúc đẩy họ suy tư, chúng ta không muốn nói rằng trong Thánh Kinh không có tư tưởng và tri thức. Thực tại là, như chúng ta đă thấy, trong Thánh Kinh tri thức không bao giờ chỉ là suy lư : nó là việc của con tim và của hành động, cũng như là việc của trí khôn. V́ thế mà, trong Thánh Kinh, linh hứng là một sự thúc đẩy của Thần Khí xâm nhập con người toàn diện, và hướng dẫn con người tri thức trước hết là để con người hành động, phát biểu và ghi chép.
Bây giờ, chúng ta kết luận là có ba h́nh thức linh hứng. Một là “linh hứng để hành động”, như đă nói trên. Linh hứng này có thể được gọi là “linh hứng mục vụ” : linh hứng này tác động trên các chủ chăn (mục tử) hoặc những người dẫn dắt Dân Chúa, thứ đến là “Linh hứng để nói, gọi là giảng thuyết” nơi các kẻ mang Lời Chúa, các ngôn sứ và tông đồ. Sau cùng là “Linh hứng viết, gọi là thành văn” kéo dài và hoàn thành hai “Linh hứng” nói trên. Cộng chung lại, ba h́nh thức Linh hứng này làm thành “Linh hứng Thánh Kinh”.
V́ thế, cần phải nối kết Linh hứng thành văn vào hai Linh hứng trước và nh́n Linh hứng ấy trong bối cảnh lịch sử của nó (P. Benoit, Concilium 10,1965, tr.18-19).
2. Mặc khải trong Thánh Kinh.
T́m hiểu từ Híp-ri dabar, “lời”, là bước tiến đầu tiên đến ư niệm Thánh Kinh về Mặc Khải. Nhưng, đối với người Ít-ra-en, lời c̣n là một cái ǵ hơn sự diễn tả tư tưỏng bằng lời. Trong lời được nói, họ c̣n thấy một cái ǵ năng động; đối với họ, lời nói đầy sức mạnh. Hơn nữa, dabar không chỉ có nghĩa là “lời”, mà c̣n có ư nghĩa là “sự vật” hoặc “hành động” ; nói cho chính xác hơn, dabar là “bối cảnh và ư nghĩa sâu rộng nhất của sự việc nằm trong bối cảnh ấy”. Dĩ nhiên, dabar cũng chỉ một thực tại thuộc trí khôn : nó là cách phô diễn một tư tưởng.
V́ từ dabar có một nội dung vừa chỉ lời vừa chỉ vật, nên rơ ràng là từ ấy vượt hẳn ư nghĩa của từ Hy-lạp lôgôs, trừ khi từ lôgôs dịch từ dabar, như trường hợp trong bộ Thánh Kinh Bảy mươi và đôi khi trong Tân Ước nữa. Vậy, nếu lời của người phàm mà c̣n có năng lực, hiệu lực, th́ tất nhiên là Lời của Thiên Chúa càng có năng lực, hiệu lực hơn bội phần.
A. Trong Cựu Ước, Thiên Chúa tự mặc khải chính ḿnh. Người nói với nhân loại qua các ngôn sứ, trong luật Mô-sê, trong thiên nhiên và trong lịch sử. Người Ít-ra-en ư thức rằng ḿnh đứng trước ba mẫu phát ngôn viên do Thiên Chúa chỉ định. Đó là ngôn sứ, hiền nhân và tư tế. Họ cũng biết rằng ba mẫu người này diễn tả cách khác nhau. Họ biết rằng “giáo huấn không thiếu nơi hàng tư tế; lời chỉ bảo không thiếu nơi bậc hiền nhân, cũng như Lời của Đức Gia-vê nơi vị ngôn sứ” (Gr 18,18). Đức Gia-vê đặt Lời của Người trong miệng ngôn sứ (Gr 1,9) và vị này không thể cưỡng lại Lời Người gọi (Am 7,5 ; Gr 20,9). Vai tṛ của ngôn sứ là rao giảng Lời của Thiên Chúa trước mặt dân.
Lời của ngôn sứ là một sức mạnh quyết định trong lịch sử Ít-ra-en (1 Sm 9,27 ; 15, 13-23 ; 2 Sm 7,4) và không ai có thể chống lại được sức mạnh thực hiện của Lời ấy (1 V 2,27 ; 2 V 1,17 ; 9,36). Lời ấy như lửa thiêu đốt, như búa đập tan đá tảng ra từng mảnh (Gr 23,29).
Lời của Đức Gia-vê, do ngôn sứ nói ra, đem lại ơn cứu độ (Is 2, 2-5 ; Gr 2,13) ; cón nơi nào người ta chống cưỡng Lời ấy hoặc không đếm xỉa tới, th́ lời ấy trở thành án phạt (Gr 26, 4-6).
Như vậy, Lời của Đức Gia-vê hành động mănh liệt trên vị ngôn sứ. Ngược lại, Đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa lại ngự xuống một cách dịu dàng trên con người để dạy dỗ con người (Cn 8,1-21. 32-36 ; Kn 7-8). Nhưng, cả trong hai trường hợp, Lời của Đức Gia-vê không phải chỉ là một hiện tượng thuần túy nhân loại. Các vị ngôn sứ và các bậc hiền nhân đều hiệp thông với Đức Gia-vê, Thiên Chúa hằng sống. Và những ǵ họ học được như thế, không chỉ ban cho họ mà thôi. Họ nhận một sứ điệp, nhưng sứ điệp ấy phải được truyền thông cho tất cả Dân Chúa.
Để nói, họ đă ở trong một trạng huống nhất định và nói cho người đồng thời. Nhưng, sau đó, người ta thấy rằng lời các ngài nói có một giá trị vượt hẳn hoàn cảnh lịch sử của chúng. Tora, nghĩa là giáo huấn, Lề luật, ngay từ đầu đă là một Lời có giá trị cho toàn dân và cho mọi thời. Ít-ra-en đă lănh nhận Tora từ chính Đức Gia-vê (Xh 20,1 ; 22) Xh 34,28 (tc Tv 147,19) nói là ông Mô-sê đă viết trên những bia “Mười lời”. Đức Gia-vê ước mong Ít-ra-en lắng nghe và thực hành Lời Người (Đnl 13,1). Lời người ở tầm tay của họ, nó thâm nhập vào tâm khảm của con người để rồi sinh hoa kết quả (Đnl 30,11-14). Lời Chúa mở ra trước mắt Ít-ra-en hai con đường : đường Sống và đường Chết (Đnl 30,15-20).
Lời của Thiên Chúa có sức sáng tạo. Nhưng cần phải đặt chân lư này hoặc, nói chính xác hơn, phải đặt sự thực hiện của chân lư này đúng trong viễn tượng của nó. Khi chúng ta nghiên cứu ư niệm của người Híp-ri về sự sáng tạo, chúng ta phải kư chú ngay rằng kinh nghiệm của họ về Thiên Chúa, trước tiên và trước hết, là một kinh nghiệm về ơn Cứu độ. Quan niệm của họ về Thiên Chúa và về hành động của Người được xây dựng trên những biến cố của lịch sử thánh, trên sự kiện Thiên Chúa đă đến sát dân của Người. Và, trong biến cố ấy, th́ Xuất hành là biến cố đầu tiên và bậc nhất.
Thực ra, Dân Chúa đă bắt đầu với cuộc Xuất hành. Chính lúc ấy, Đức Gia-vê đă sinh ra họ ( Đnl 32,5-10 ) và đă đối xử với họ như một người Cha đầy t́nh thương và lo lắng ( Hs 11,1; Gr 31,9; Is 63,16; 64,7 ). V́ là một dấu chỉ t́nh thương của Thiên Chúa, cuộc Xuất hành hóa thành bảo chứng Cứu độ : Thiên Chúa đă giải phóng dân Người khỏi ách Ai cập, th́ người cũng sẽ cứu độ Dân Người trong những ǵơ phút hiểm nguy, khi bị Át-sua ( Is 10,25tt; Mk 7,14-15) hoặc Ba-bi-lon (Gr 16,14-15; Is 63-64) đe dọa hoặc xâm chiếm. Nói tóm lại, trong tư tưởng Do-thái- và Ki-tô giáo - , biến cố vĩ đại này là mẫu mực và là bảo chứng Thiên Chúa sẽ c̣n can thiệp nữa v́ thương Dân Người.
Với thời gian nhờ suy nghĩ Thiên Chúa là ǵ, là ai đối với họ, dân Ít-ra-en ư thức rằng Thiên Chúa là Đấng Tối Cao đối với mọi nước, mọi dân; rồi họ bắt đầu nhận ra họ là thụ sinh trước mặt Đấng Tạo Hóa . Họ khám phá ra rằng Đức Gia-vê, Thiên Chúa của Ít-ra-en, đă hành động mạnh mẽ trong thế giới thiên nhiên cũng như trong thế giới loài người (tc Tv 147, 7-9.15.18 ; 111,4-5). Từ quan niệm Thiên Chúa là Chúa tể của thiên nhiên, họ đi đến quan niệm Thiên Chúa là Đấng Sáng Tạo theo nghĩa hạn hẹp hơn. Chúng ta thấy ư niệm này trong tŕnh thuật St 1,2-2,4a ( ư niệm tương phản với ư niệm chưa được tiến triển lắm của tŕnh thuật St 2,4b-25) và trong Thánh vịnh 32, 6-9 : “Một Lời Chúa phán làm ra chín tầng trời, một hơi Chúa thở tạo thành muôn tinh tú”. Về vấn đề này, c̣n có thể thấy ở Is 48,13; 54,5; Kn 9,1. Đức Gia-vê, Thiên Chúa của Ít-ra-en, là Thiên Chúa Sáng Tạo ; dầu vậy, Người vẫn là Thiên Chúa , Đấng đă gọi Ít-ra-en, làm cho họ hiện hữu và yêu thương chăm sóc họ.
Lời của Đức Gia-vê là Lời Mặc Khải. Khi nói với loài người, Thiên Chúa tự mặc khải ḿnh ra. Lời Người là một lề luật và là một qui phạm cho đời sống. Lời Người tiết lộ ư nghĩa của các sự việc và của các biến cố. Lời Người c̣n chứa đựng môt lời hứa cho tương lai. Trên núi Xi-nai, ông Mô-sê đă trao cho dân một bản hiến chương tôn giáo và luân lư mà Thiên Chúa đă ban cho ông : đó là “ Mười Lời” (Xh 20, 1-17; Đnl 5,6-22: tc Xh 34, 28; Đnl 4,13; 10,4 ). Trước kia, Đức Gia-vê đă phán cùng các tổ phu và, một cách đặc biệt, đă cho ông Môsê biết ḿnh là ai (Xh 3,13-15; 6,4). Nhưng Đức Gia-vê cũng phán với dân rằng: “ Ta là Gia-vê, Thiên Chúa của ngươi, đă đưa ngươi ra khỏi đất Ai-cập” (Xh 20,2).
Lời của Thiên Chúa c̣n bày tỏ cho dân ư nghĩa về lịch sử của họ (Gs 24,2-13), Lời của Thiên Chúa soi sáng họ trên những chặng sắp tới của chương tŕnh cứu độ (St 25,13-16; Xh 3,7-10; Gs 1,1-5; v.v...). Lời của Thiên Chúa chẳng những mặc khải tương lai trực tiếp (thường được vẽ với những màu sắc ảm đạm), mà c̣n mặc khải những ǵ sẽ xảy ra trong những “ngày cùng”, lúc Đức Gia-vê hoàn thành ư định của ḿnh. Và đó là phạm vi của cánh chung học có tính ngôn sứ và khải huyền.
V́ vừa là sáng tạo lại vừa là mặc khải, Lời của Thiên Chúa là một thực tại năng động, là một sức mạnh luôn luôn đạt tới những thành tích mà Thiên Chúa nhằm. Một khi được Thiên Chúa sai, gởi xuống thế như một tác nhân hết mực hiệu nghiệm, Lời ấy không nhụt đi hoặc trốn tránh. Đức Gia-vê phán : “Một khi xuất phát từ miệng Ta, Lời Ta chỉ trở về sau khi đạt kết quả, thực hiện ư muốn của Ta và thành công trong sứ mạng Ta trao phó” (Is 55,11).
Lời của Đức Gia-vê chi phối ḍng lịch sử (Is 44, 7-8. 26. 28) và thực hành những h́nh phạt báo oán. “Lời toàn năng của Đức Gia-vê từ ngai vương giả... mang gươm sắc bén nghiêm lịnh của Người, gieo chết chóc dẫy đầy càn khôn” (Kn 18, 15-16 ; tc Kh 19, 11-16).
Một quyền năng như thế, chúng ta có thể quan sát được trong thiên nhiên và trong ḍng lịch sử Quyền năng ấy bảo đảm cho các lời sấm cứu độ được hiệu nghiệm” (Is 40,8). Từ đời nọ tới đời kia, Lời ấy vẫn là Lời mặc khải và là một sức linh hoạt.
B. Trong Tân Ước, cách nói “Lời của Thiên Chúa” thường được hiểu là sứ điệp cứu độ hoặc, nói cách khác, là Tin Mừng (Lc 8,11 ; 2 Tm 2, 9 ; Kh 1,9). Lời ấy được rao giảng bởi thánh Phao-lô (Cv13, 5 ; 1 Tx 2,13), Các Tông đồ khác (Cv 6, 2) và chính Đức Giê-su (Mc 2, 2 ; Lc 5, 1). Nhưng Tin Mừng mà thánh Phao-lô và các Tông đồ rao giảng, thực ra là chính Đức Ki-tô (1 Cr 1, 23 ; Gl 3,1 ; Cv 2, 36 ; 4, 12). Sự việc không thể nào khác được v́, đối với người Ki-tô hữu, Thiên Chúa đă nói lời chung cuộc của ḿnh trong Đức Giê-su. Trong thư gửi tín hữu Do-thái, có viết rằng : “Thưở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đă dùng miệng các ngôn sứ mà phán dạy cha ông chúng ta; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đă phán dạy chúng ta qua Thánh tử” (Dt 1,1-2). Thánh Gio-an, cũng vậy, ngài quan tâm chú ư vào thân thế của Đức Giê-su. Ngài thấy rơ rằng Đức Giê-su là chính sứ điệp cứu độ, Là Ngôi Lời, là Lôgôs. Ngài dạy rằng Lôgôs đă hiện hữu từ muôn thưở, Lôgôs là Thiên Chúa và là Đấng tạo thành vạn vật. Cuối cùng, bằng một công thức kỳ diệu, ngài tuyên bố : “Ngôi Lời đă làm người” (Ga 1,14).
Quả thật, Ngôi Lời là Đấng hiện hữu từ muôn thưở, đă tự mặc khải ḿnh cho nhân loại trong chính thân thế của Đức Giê-su. Và dù cho, sau này, tước hiệu Lôgôs không c̣n xuất hiện nữa trong sách tin Mừng thứ tư, nhưng chúng ta không hiểu được sách Tin Mừng này nếu không theo sự xác tín sâu xa của tác giả. Đó là Đức Giê-su là Lời Nhập thể, là Mặc Khải hoàn hảo của Thiên Chúa. Nhưng, khi nói Lôgôs là Ngôi Lời Nhập thể, khi tuyên bố vạn vật nhờ Lôgôs mà được tạo thành, khi nhấn mạnh Lôgôs có quyền năng làm cho loài người trở nên con Thiên Chúa (Ga 1,12), Thánh Gio-an muốn làm nổi bật chân lư này, là : nếu Thiên Chúa đă mặc khải ḿnh trong Lôgôs, th́ cũng chỉ v́ chúng ta mà Người làm như thế.
Thánh Kinh đă dùng từ “lời” một cách cụ thể, hiện thực - và, trong Thánh Kinh, chúng ta thấy từ “lời” được dùng dưới khía cạnh ấy hơn hết. Cách dùng như vậy chỉ cho chúng ta con đường phải theo để, trong mạch văn Thánh Kinh, chúng ta hiểu ư niệm tương quan là “Mặc Khải”. Thánh Kinh không phải là một toàn thư “chân lư” trừu tượng hoặc một vựng tập đạo lư. Điều mà Thánh Kinh mặc khải là chính Thiên Chúa, nghĩa là một Hữu thể sống động và Ngôi vị : Người là Đấng tạo hóa điều khiển vũ trụ (Is 45,12), là Đấng Thánh mời gọi mọi người yêu thương phục vụ (Xh 20,1 tt ; 34,6 ; Hs 11,1 tt), là chủ của lịch sử, dẫn dắt thời gian và biến về một mục đích cừu độ (Xh 14,8 ; Am 2, 9-10 ; Gr 32,20 ; Is 45. 1 tt ; 52,10).
Thiên Chúa tự mặc khải ḿnh qua những lần Người can thiệp vào đời sống cá nhân và vào đời sống toàn dân. Khi mặc khải trọn vẹn qua Tân Ước, điều Đức Giê-su cho biết, không phải là một hệ thống cần phải hiểu thấu, mà là một con đường phải theo (Ga 14,6). Người nói, nhưng thân thế, và hành động của Người nói c̣n rơ hơn Lời của Người, và sứ điệp của Người là sứ điệp cứu độ. “Các nhà Thánh Kinh ngày càng nhất trí rằng trong thực chất, Việc Mặc khải đă được thực hiện trong khuôn khổ của một lịch sử, và rằng, cũng trong thực chất, sự Mặc khải ấy được thực hiện theo một kế hoạch theo một tác dụng. Mầu nhiệm Thiên Chúa và Mầu nhiệm Đức Ki-tô chỉ được mặc khải trong lời chứng về những ǵ Thiên Chúa và Đức Ki-tô đă và đang làm “cho chúng ta”, chỉ được mặc khải trong mối tương quan của Thiên Chúa và Đức Ki-tô với việc cứu độ chúng ta. 1
Rơ ràng là, nếu chúng ta muốn lưu ư đến những dữ kiện Thánh Kinh, th́ chúng ta không thể giới hạn việc mặc khải vào những lời tuyên bố những chân lư trừu tượng, thuần túy suy lư. Mặc khải c̣n bao gồm cả những việc hiển linh của Thiên Chúa, bao gồm những hành động cũng như những lời Người nói. Quả vậy, Thiên Chúa không hải là một yếu tính trừu tượng, nhưng là một hữu thể sống động và Ngôi vị. Và vị trung gian hay giải thích việc mặc khải không phải chỉ là một “ngôn sứ” đă nhận được thị kiến hoặc lời sấm và đă trung thành truyền lại cho các kẻ khác. Không ! trước tiên và trước hết, đó là một con người đă gặp Thiên Chúa, đă nhận ra Thiên Chúa là Đấng cứu độ và Đấng sáng tạo, đă cảm nghiệm được t́nh yêu của Người, một t́nh yêu Sáng tạo và Cứu độ.
Nếu các ngôn sứ là những người được đặc ân gặp Thiên Chúa, th́ những sử gia, những hiền nhân, cũng như những tác giả thuộc truyền thống tư tế bận tâm về To-ra và phụng tự, là những người mang đem Mặc khải cho kẻ khác. Khi nguyện gẫm về lịch sử của dân, khi suy tư về đời sống con người cũng như về vai tṛ và số mệnh con người, hoặc như đào sâu những điều Thiên Chúa thánh thiện đ̣i hỏi, họ đă làm sáng tỏ nhiều khía cạnh của chương tŕnh cứu độ. Những giáo huấn tôn giáo, mà họ đă hết mực bận tâm, đă đưa loài người đến chỗ hiểu biết Thiên Chúa hơn.
Trong Tân Ước, các tác giả sách Tin Mừng đă dựa trên một truyền thống mà viết. Truyền thống ấy đă được các tông đồ để lại và, dưới sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần, đă được các vị loan báo Tin Mừng đặt vào khuôn. Nhưng các tài liệu ấy, ngày nay, đă được lựa lọc và thích ứng, để tŕnh bày cho chúng ta bốn chân dung của Đức Ki-tô, để nói cho chúng ta biết Người là ai, và để rút ra ư nghĩa của Lời Người nói, của việc Người làm. Về phía ḿnh, thánh Phao-lô cũng suy gẫm “Mầu nhiệm” ấy. Người tŕnh bày trước mắt chúng ta “Tin Mừng” của Ngài. Đó là “được cứu độ là nhờ Đức Ki-tô và chỉ nhờ Đức Ki-tô mà thôi”. Những tác giả sách Tin Mừng và Thánh Phao-lô, kể cả các văn sĩ Tân Ước khác, là những máng chuyển thông Mặc khải, không kém ǵ Vị Thị Kiến đảo Pát-mốt.
Nếu chỉ giản lược việc Mặc khải vào việc nói sấm theo nghĩa hẹp của từ, th́ sẽ gặp nguy cơ coi thường bối cảnh hành động, lịch sử, can thiệp trực tiếp, một bối cảnh hiện thực làm cho những chữ Thiên Chúa nói ra được thành một lời sống động và có thực. Có mặc khải trong những biến cố và sự kiện của lịch sử thánh không kém ǵ trong ánh sáng Thiên Chúa ban cho các ngôn sứ. Không công nhận điều ấy, là làm nghèo đi một cách nguy hiểm rất nhiều lần có thể là Thiên Chúa đă gặp gỡ loài người trong Thánh Kinh. Chỉ quan tâm đến điều Đức Giê-su dạy mà không lưu ư đến việc Người làm và Người là ai, tức là tự ḿnh liệt ḿnh vào số những kẻ không biết Người. Không nhận ra thân thế của Ngôi Lời nhập thể nổi bật trong toàn bộ Tân Ước, th́ đó là đi ngoài sứ điệp mà sách Tân Ước đem lại. Nền tảng của Ki-tô giáo không phải là bài giảng trên núi, nhưng là Chúa Ki-tô hằng sống.
Xét về nền tảng và yếu tính, th́ tôn giáo Thánh Kinh là tôn giáo lịch sử. Trong tôn giáo ấy, những biến cố nói c̣n hơn là những diễn từ. V́ thế, các văn sĩ thánh rất lo lắng khám phá ư nghĩa của biến cố và rất thường quay về với quá khứ. Các ngài suy gẫm, các ngài phân tích dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, và, từ đó, rút ra một sứ điệp cho hiện tại và một hy vọng cho tương lai. Đạo lư không được khai triển một cách rành mạch theo cách suy luận trong một loạt những “mệnh đề” : phương pháp của Thánh Kinh cũng phức tạp như lịch sử. Thánh Kinh không phải là một cuốn sách giáo khoa thần học. “Quả vậy, c̣n ǵ khác hơn là những trang Thánh Kinh trong đó Thiên Chúa không chủ trương mặc khải cho con người những chân lư mới lạ, nhưng chủ trương dạy con người biết lấy con mắt được Thiên Chúa soi sáng mà đọc những sách thần linh về thiên nhiên và về lịch sử ? Nói tóm lại, Thiên Chúa nhằm cái ǵ trước hết khi mặc khải, nếu không phải là tỏ ra cho loài người biết rằng Người là Đấng sáng tạo, dẫn dắt, cứu độ ? (P. Benoit, Exégèse et Théologie, III, tr. 113-114).
Khi nghiên cứu về những dữ kiện Thánh Kinh, chúng ta thấy rằng từ đầu chí cuối bộ Cựu Ước, Thánh Thần và Lời của Thiên Chúa không ngừng hành động với nhau. Nếu vị ngôn sứ làm chứng cho Lời của Thiên Chúa, th́ cũng chỉ Thánh Thần đă bắt lấy họ. Nếu, một ngày nào, Ít-ra-en thấy ḿnh có khả năng gắn bó hết ḷng với Lời của Thiên Chúa, th́ cũng chỉ v́ có Thánh Thần. Trong Tân Ước, cũng vậy, các nhà thuyết giáo chỉ bắt đầu rao giảng Lời của Thiên Chúa khi Thánh Thần đă ngự xuống trên họ.
Chúng ta được phép nghĩ rằng nghiên cứu mối tương quan giữa Lời của Thiên Chúa và Thánh Thần có thể giúp chúng ta hiểu hơn mối tương quan giữa Mặc khải và Linh hứng. Mặc khải là khi Ngôi Lời biểu lộ, c̣n Linh hứng là khi Thánh Thần lay động : hai sức mạnh khác nhau, nhưng bất khả phân ly hoặc , nói cách khác, hai khía cạnh tương quan của quyền năng Thiên Chúa.
Bây giờ, chúng ta có thể kết luận rằng : nếu nh́n sự việc trong viễn tượng của Thánh Kinh, th́ chúng ta sẽ gặp phải nguy cơ sai lầm, nếu chúng ta coi Linh hứng và Mặc khải như hai đặc sủng hoàn toàn khác nhau. Hai đặc sủng ấy khác nhau th́ có, nhưng tác động đồng thời.
Một người được Thánh Thần xui dục và lay động để hướng dẫn một giai đoạn của lịch sử cứu độ, để nói với tư cách là ngôn sứ hoặc để ghi chép những nét chính yếu của đường lối giáo dục Thiên Chúa vẽ ra, tất cả những sinh hoạt ấy là “Mặc khải”, nghĩa là Thiên Chúa hằng sống đích thân biểu lộ. Thiên Chúa là Chân lư, Người Mặc khải chân lư ấy trong ngôn ngữ là những kinh nghiệm đă được sống được nói và đă được viết của Dân Người. Và chính v́ mục đích ấy mà Người linh hứng các nhà lănh tụ, thuyết giáo và văn sĩ, cho các ngài thấy được chân lư ấy và truyền đạt chân lư cho dân bằng cách sống, nói và viết chân lư ấy.
Tóm lại :
1. Trong Thánh Kinh, Mặc khải không phải là sự truyền đạt những chân lư trừu tượng, mà biểu lộ cụ thể và sống động của một Thiên Chúa Ngôi vị cho loài người biết Người là Đấng Tạo hóa và Cứu độ. Sự biểu lộ ấy được thực hiện trong các biến cố của lịch sử thánh và trong những kỳ công của thiên nhiên cũng không kém ǵ trong những lời của ngôn sứ và trong các tác phẩm của văn sĩ được linh hứng.
2. Linh hứng thuộc loại lay động các văn sĩ này, thúc đẩy các ngài hiểu biết và truyền đạt mặc khải thần linh bằng hành động, lời nói cũng như bằng ghi chép. Trước khi là “Thánh Kinh” (ghi chép), linh hứng là mục vụ (hướng dẫn) và ngôn sứ (nói lên). Linh hứng chẳng những là một đặc sủng thuộc loại trí thức, mà c̣n là một thôi thúc rộng lớn hơn, tác động trên con người trong bất cứ lănh vực nào mà con người có thể gặp gỡ Thiên Chúa một cách sống động.
3. Linh hứng và Mặc khải không phải là đồng nhất, nhưng không xung động nhau. Chúng ta cũng không thể nói rằng, xét về thời gian cái này sau, cái kia trước : cả hai tác động đồng thời, đồng nhịp. Thiên Chúa mặc khải ḿnh trong thiên nhiên, trong lịch sử và, sau hết, cho lư trí con người và qua trung gian con người. Trong trường hợp sau hết này, Thiên Chúa nâng con người lên khỏi chính ho, ban cho họ đầy tràn Thánh Thần của Người, cụ thể làm cho con người ấy có khả năng sống, diễn tả bằng lời và, sau hết, viết ra sứ điệp Chân lư sống động phát xuất từ cuộc gặp gỡ giữa Thiên Chúa và người ấy.
[1] Bj, 1363.
1 Tc Y. Congar, “Le Christ dans l’économie salutaire et dans nosttaités dogmatiques, trong báo Concilium, số 11, năm 1965, trang 12
tknm