THÁNH KINH
TỔNG LUẬN NHẬP MÔN
Người dịch : Lm Tanila Hoàng Đắc Ánh
CHƯƠNG IV
TÂM LƯ TRONG VẤN ĐỀ LINH HỨNG
Như chúng ta thấy những quan niệm của Thánh Kinh về Mạc khải và Linh hứng thật là rộng răi và uyển chuyển. V́ thế, chúng ta phải thận trọng, kẻo g̣ bó Mạc khải và Linh hứng vào những phạm trù hẹp ḥi và tiền chế. Tuy nhiên, chúng ta cũng thấy rằng chúng ta có quyền nói là “Linh hứng để viết”, miễn là phải hiểu rằng đây không phải là lặp lại hoặc viết ra một cách máy móc những lời được lănh nhận từ trên, mà là sáng tạo một cách b́nh thường một tác phẩm, cùng tất cả sáng kiến và công lao mà một phận sự như thế đ̣i hỏi nơi con người. Để thấy rơ hơn bản tính đích thực của sự Linh hứng Thánh kinh, bây giờ chúng ta bàn đến vấn đề tâm lư trong người được linh hứng.
1. LINH HỨNG LÀ G̀ ?
Muốn thử phân tích tâm lư trong việc linh hứng, cách bắt đầu tốt hơn cả phải là câu định nghĩa đơn sơ do thông điệp “Thiên Chúa rất quan pḥng” (Providentissimus Deus) đưa ra. Định nghĩa ấy được diễn tả bằng những từ ngữ : ảnh hưởng thần linh và những kết quả của ảnh hưởng ấy trên các tác giả nhân loại :
“Theo quyền năng siêu việt của ḿnh, Thiên Chúa đă lay động và thúc đẩy các tác giả nhân loại viết, Người giúp đỡ họ đang khi họ viết, đến nỗi
- trước hết, họ hiểu đúng những điều Người truyền cho họ phải viết và những điều đó mà thôi ;
- thứ đến, họ muốn viết những điều ấy một cách trung thực ;
- Sau cùng, họ diễn tả những điều ấy bằng một ngôn ngữ thích hợp với chân lư bất khả ngộ. Nếu không, chúng ta không thể nói rằng Người là tác giả của toàn bộ Thánh Kinh. (Xem Denzinger, Enchiridion Symbolorum et Definitionum, số 1952).
Câu định nghĩa này gồm 2 sự kiện :
1. Văn sĩ thánh lănh nhận chân lư,
2. Và truyền đạt chân lư ấy.
Đó là 2 tác động của trí khôn và ư muốn. Chúng ta sẽ thấy rằng trong các tác động ấy, vai tṛ của phán đoán có ưu thế. Tuy nhiên, mọi khả năng của tác giả đều được đặc sủng Linh hứng ảnh hưởng tới.
Nhiều khi văn sĩ thánh không biết ḿnh được Thiên Chúa sử dụng và thúc đẩy như vậy ; do đó, họ bắt tay vào việc một cách hết sức tự nhiên. Có thể họ chỉ cảm thấy nhu cầu hoặc biết rơ đă đến lúc tŕnh bày một chân lư nào đó liên quan tới Thiên Chúa hoặc tới hành động của Người giữa nhân loại. Bấy giờ họ nghiên cứu cho biết, với khả năng và tài năng của ḿnh họ có thể thực hiện ư định của ḿnh thế nào. Cuối cùng, họ soạn thảo tác phẩm. Từ đầu chí cuối chương tŕnh, họ đă được Thánh Thần dẫn dắt, dầu họ không hay không biết ǵ cả. Ảnh hưởng Thiên Chúa Linh hứng họ khi họ bắt đầu công việc vẫn tiếp tục tác động trên họ cho đến khi họ hoàn thành cuốn sách, v́ tất cả mục đích của sự Linh hứng để viết (Thánh Kinh) là để sản xuất ra một cuốn sách được Linh hứng.
2. PHÁN ĐOÁN THỰC TIỄN VÀ PHÁN ĐOÁN SUY LƯ.
Một trong những yếu tố giúp cho việc học hỏi về Linh hứng được tiến bộ, là sự phân biệt giữa vai tṛ phán đoán suy lư và, bên kia, vai tṛ của phán đoán thực tiễn, như chúng ta đă làm để thấy rằng, trong công tŕnh sáng tác của bất cứ tác giả nào, th́ phán đoán thực tiễn có phần ưu thế 1. Trong viễn tượng Kinh viện th́, trong việc Linh hứng để viết, phán đoán suy lư chiếm chỗ nhất ; đối với phán đoán thực tiễn, họ chỉ cho một vị trí phụ thuộc, vị trí thực hành. Tuy nhiên, thực tại tâm lư lại khác hẳn.
Chúng ta dễ tưởng tượng ra một tác giả bắt đầu công việc bằng nhiều cách khác nhau. Nếu họ muốn viết th́, trước tiên, có thể là nhằm đề nghị một chân lư. Bấy giờ, họ viết một khái luận có tính khoa học và, trong trường hợp ấy, tất cả công tŕnh của họ sẽ bị phán đoán suy lư chi phối, c̣n phán đoán thực tiễn sẽ chỉ can thiệp trong một phạm vi nhỏ bé. Thực th́ phán đoán thực tiễn có một vai tṛ phải đóng, v́ văn sĩ hẳn là có ư định tŕnh bày tư tưởng của ḿnh sao cho rơ ràng hết sức; nhưng vai tṛ ấy vẫn là tùy thuộc.
Trái lại, rất có thể là phán đoán thực tiễn chiếm phần chính, v́ tác giả có thể truyền đạt ư kiến của ḿnh bằng một cách không phải là tŕnh bày đơn giản. Một cuốn tiểu thuyết hoặc một kịch bản chẳng hạn, nếu chúng có giá trị thực sự , chúng cũng có thể nói với chúng ta một cái ǵ. Một văn sĩ có tài có thể mở lớp giảng dạy, nhưng cũng có thể dùng nghệ thuật mà tô điểm sứ điệp của ḿnh. Trí phán đoán suy lư của ông nhắm vào thực tại làm thành trung tâm của tác phẩm; nhưng chính trí phán đoán thực tiễn của ông ra lệnh và chỉnh lư tất cả công việc thực hành.
Rơ ràng là hai phương pháp nói trên rất khác nhau. Phương pháp thứ nhất dĩ nhiên nhằm đề cao một chân lư nào đó, nhưng không quan tâm lắm đến cách tŕnh bày. Đó là đề cập trực tiếp; nhưng đề cập như thế chưa hẳn là hữu hiệu hơn cả, v́ số người thử đọc khái luận chuyên môn này sẽ được mấy ? Phương pháp thứ hai khéo léo hơn và nhằm một công chúng rộng răi hơn; phương pháp ấy t́m cách chinh phục thiên hạ về một phương diện nào đó, hơn là thuyết phục họ bằng luận lư. Mà trong mức độ để ít chỗ cho trí phán đoán suy lư, đó là phương pháp của các văn sĩ Thánh Kinh.
Bài học của sự việc này là chúng ta đừng tưởng rằng, trong Thánh Kinh, trang nào cũng giáng trên đầu chúng ta tín điều nọ tín điều kia. Thường thường, các văn sĩ bắt đầu bằng cách đánh động con tim độc giả. Họ an ủi, chỉ giáo hoặc chỉ t́m cách cho độc giả thấy lợi ích của họ. Các văn sĩ Tân Ước luôn luôn bận tâm về bản thân Đức Ki-tô; c̣n các văn sĩ Cựu Ước th́, rốt cuộc cũng chỉ muốn dạy thiên hạ về Đức Gia-vê và những kỳ công của Người, nhưng họ làm mỗi người một cách. Tóm lại, mọi người đều được động viên đem tất cả tài năng văn chương của ḿnh mà tŕnh bày sứ điệp của ḿnh. Thế nghĩa là trí phán đoán thực tiễn của họ có một vai tṛ ưu thế trong việc soạn thảo bản văn. Vậy th́ các phán đoán suy lư không chiếm chỗ nhất trong công tŕnh trước tác văn chương, mà chỉ đứng chỗ nh́ và thế nào cũng bị ảnh hưởng của các phán đoán thực tiễn.
Trong một đề tài quan trọng thế này, cần phải chính xác. V́ thế, chúng ta cần phải công thức hóa hai mệnh đề sau đây:
1) Trong việc soạn thảo một cuốn sách được linh hứng (vả lại cũng như bất kỳ tác phẩm nào), các phán đoán suy lư không tất nhiên phải đi trước các phán đoán thực tiễn. Chúng có thể đồng hành hoặc c̣n đi sau. Nhiều phán đoán suy lư riêng biệt c̣n được h́nh thành ngay trong lúc soạn thảo và theo nhu cầu của công tŕnh.
2) Các phán đoán suy lư này được định phần như thế nào là tùy thuộc các phán đoán thực tiễn. Những lời văn sĩ tuyên bố và những điều ông khuyến dụ trong khi soạn thảo, đều mang dấu tích của chiều hướng ông đưa ra, của điều ông quyết là và những cách ông diễn tả và tóm lại, của h́nh thức văn chương của tác phẩm. Tất cả những điều ấy thuộc phạm vi phán đoán thực tiễn. Phán đoán thực tiễn luôn nhằm mục đích cụ thể mà tác giả muốn theo đuổi, đến nỗi cả cách công thức hóa các phán đoán suy lư cũng v́ đó mà phải được sửa đổi (xem P.Benoit, Exégèse et Théologie, III tr.130-132).
3. MẶC KHẢI, LINH HỨNG VÀ PHÁN ĐOÁN.
Chúng ta có thể làm sáng tỏ thêm vai tṛ tương đối giữa những phán đoán suy lư và phán đoán thực tiễn bằng cách gán hai phán đoán ấy với các quan niệm về Mạc Khải và Linh hứng theo công thức đă nói ở chương trên. H́nh như chúng ta có thể nói rằng đặc sủng mạc khải soi sáng phán đoán suy lư, c̣n đặc sủng linh hướng th́ hướng dẫn phán đoán thực tiễn (P.Benoit, Exégèse de Théologie, III, tr. 139-140).
Đặc sủng Măc Khải chi phối toàn thể lănh vực tri thức suy lư do văn sĩ thánh bàn đến dưới sự thúc đẩy của Thánh Thần. Đặc sủng ấy có thể liên hệ đến những biểu thị do Thiên Chúa thông ban bằng cách siêu nhiên (Mặc khải theo nghĩa hẹp). Đặc sủng ấy cũng có thể và rất thường thấy liên hệ đến những biểu thị do con người thu lượm được bằng cách tự nhiên , và cũng liên hệ đến những phán đoán được h́nh thành bằng cách tự phát (Mặc khải theo nghĩa rộng). Yếu tố chính yếu là, trong trường hợp này cũng như trong trường hợp kia, ánh sáng thần linh ban cho văn sĩ khả năng phán đoán trên một b́nh diện cao hơn và bảo đảm giá trị các chân lư mà, bây giờ có một đặc tính mới và siêu nhiên : Khi, trong giai đoạn cuối cùng của linh hứng, các chân lư ấy được thành đề tài giảng dạy, các chân lư ấy được tŕnh bày với sự bảo đảm của uy thế thần linh.
C̣n đặc sủng "Linh hứng" th́ hướng dẫn toàn thể sinh hoạt thực tiễn trong việc truyền đạt cho kẻ khác biết những chân lư được thông ban qua việc Mặc khải hoặc được Mặc khải soi sáng thêm. Đặc sủng Linh hứng cũng soi sáng các phán đoán thực tiễn khi các phán đoán này hướng dẫn việc thực hành công tŕnh một cách cụ thể đúng theo mục đích tác giả đeo đuổi và theo h́nh thức văn chương tác giả áp dụng.
Nếu Linh hứng đến sau Mặc khải th́, như chúng ta thấy, đó là theo thứ tự luận lư hơn là theo diễn tiến thời gian; trong thực tế, Linh hứng và Mặc khải xen lộn chặt chẽ với nhau. Những ư kiến chỉ đạo đến trước. Nhưng “Mặc khải không chấm dứt ở giai đoạn thứ nhất này. Được Thánh Thần thúc đẩy, văn sĩ thánh thấy muốn nghiên cứu kỹ lưỡng hơn về giá trị các ư kiến của ḿnh, kư chú sứ điệp của ḿnh cho chính xác hơn, thấu hiểu sâu xa hơn chân lư ḿnh phải truyền đạt. Mỗi khi công việc nghiên cứu và suy tư đưa họ đến những tri giác siêu nhiên mới mẻ, th́ cần một ánh sáng thần linh mới can thiệp và, do đó, cần Mặc khải nhập cuộc đồng nhịp chặt chẽ với Linh hứng.
Để kết thúc phần này chúng ta trích dẫn phần kết thúc một bài nghiên cứu có tiếng mà các trang này đă vay mượn không ít.
“Cách quan niệm Mặc khải và Linh hứng như thế phù hợp với các dữ kiện trong Thánh Kinh hơn. Trong Thánh Kinh, Mặc khải rộng lớn hơn nhiều đối với trường hợp đặc ân các thị kiến Thiên Chúa ban cho vài vị ngôn sứ. Mặc khải bao quát toàn thể sự việc Thiên Chúa biểu hiện như là Đấng Tạo Hóa và Cứu độ, một biểu hiện được diễn tả bằng lịch sử cũng như bằng các lời sấm. Mặc khải ấy bao quá tất cả công việc loan báo Lời Thiên Chúa vang dội chẳng những vào tai một số vị ngôn sứ, mà c̣n đến tận ḷng trí mà, theo ư Người, phải suy tư về những vĩ nghiệp cứu độ của Người. Vậy phải trả lại cho từ “Mặc khải” tầm vóc sâu rộng ấy trong việc phổ cập và sức năng động ấy trong sinh hoạt tri thức, mà thực sự, từ “asseptis rirum” của hậu sinh kinh viện không c̣n phản ánh nữa.
C̣n đặc sủng “Linh hứng”, nếu được quan niệm như là sự thúc đẩy và hướng dẫn để chỉ huy trong việc sản xuất một văn phẩm, th́ mới đúng với Linh hứng được thấy thực sự trong Thánh Kinh: Thánh Thần xuất hiện chiếm hữu một người để bắt người ấy làm, nói, viết và, bằng nhiều phương tiện khác nhau ấy, biểu lộ và loan báo chân lư thần linh. Rồi đây, chúng ta sẽ tiếp tục nói “Linh hứng để viết” khi nói đến sự việc Thánh Thần đặc biệt thúc đẩy để bộ Sách Thánh được viết ra. Nhưng chúng ta sẽ định nghĩa “Linh hứng để viết” giống như các h́nh thức khác và “Linh hứng để viết” có liên đới. Đó là:
1) “Linh hứng để làm”, tạm gọi là Linh hứng “mục vụ”, v́ nhờ đó mà Thiên Chúa làm ra lịch sử thánh. Và
2) “Linh hứng để nói”, tạm gọi là Linh hứng “ngôn sứ” và “sứ đồ” v́ nhờ đó Thánh Thần gầy dựng, khẩu truyền sinh động để nuôi dưỡng Dân Người.
Đi đến chỗ cuối của linh khí vĩ đại của Thánh Thần, “Linh hứng để viết” mới chiếm được chỗ đứng thực sự của ḿnh. Đó là khi Chúa Thánh Thần thúc đẩy lần cuối để ghi vào sách cho mọi thế hệ, những kết quả, toát yếu, tinh hoa của một cuộc giáo dục lâu dài: trong thời gian ấy Thiên Chúa đă tự mặc khải ḿnh cho loài người bằng cách bày tỏ cho loài người bằng mọi cách, qua hành động và lời nói, Chân lư t́nh yêu, nghĩa là chính Người. Linh hứng sẽ được thực sự là sức thúc đẩy của Thánh Thần, và Mặc khải sẽ là sức biểu hiện của lời Chúa, hai sức mạnh thần linh ấy sẽ được hoàn thành một cách tuyệt hảo trong Ngôi Lời Nhập Thể, Đấng đă được cưu mang, hướng dẫn và phục sinh do quyền năng Thánh Thần (P.Benoit, Exégèse de Théologie, III, tr. 142).
4. VĂN SĨ THỤ HỨNG ĐƯỢC THÚC ĐẨY NHƯ THẾ NÀO?
Chúng ta c̣n phải quan sát văn sĩ thánh được Thiên Chúa thúc đẩy như thế nào. Thánh Tô-ma chỉ đường quan sát. Ngài viết: “Tác giả chính của Thánh Kinh là Thánh Thần, ... văn sĩ nhân loại là tác giả dụng cụ”.
Văn sĩ nhân loại là dụng cụ của Thiên Chúa: nói vậy, thoạt đầu h́nh như chỉ là một quan sát không quan trọng lắm. Tuy nhiên, nếu hiểu đúng mức, công thức ấy đưa ra một cách cắt nghĩa thỏa măn hơn hết. Công thức ấy đă được Thông Điệp Divino afflante Spiritu của Đức Piô XII minh nhiên nhắc đến, chỗ mà thông điệp đặc biệt khuyên bảo phải có một thuyết về Linh hứng phù hợp với các nguyên tắc do Thánh Tô-ma đưa ra. Thông điệp ấy viết :
“Quả thật, thời đại chúng ta đặt nhiều câu hỏi mới và nhiều khó khăn mới; nhưng nhờ ơn Thiên Chúa, thời đại ấy cũng cung cấp nhiều phương pháp mới và nhiều chỗ nương tựa mới. Về phương diện này, chúng ta phải đặc biệt chú ư đến điều này là các nhà thần học công giáo đă theo đạo lư của các Giáo phụ và nhất là đạo lư Thánh tiến sĩ Thiên Thần và cũng là vị tiến sĩ phổ quát và nhờ đó mà đă nghiên cứu và cắt nghĩa bản chất cũng như hậu quả của sự việc Linh hứng Thánh Kinh một cách thích đáng và hoàn hảo hơn là người ta đă làm trong những thế kỷ đă qua.
Trong khi nghiên cứu, các ngài đă khởi đi từ nguyên tắc này là trong khi biên soạn Sách Thánh, văn sĩ thánh là “Ôrganôn” nghĩa là dụng cụ của Thánh Thần, nhưng dụng cụ sống động và có lư trí. Khởi đi như vậy, các ngài nhận thấy một cách hợp lư rằng, tuy có Thánh Thần thúc đẩy, văn sĩ thánh vẫn sử dụng những tài năng và sức lực của ḿnh, đến nỗi khi đọc cuốn sách do ông sáng tác, chúng ta có thể dễ dàng nhận ra “văn tự cá nhân của ông và cả đến những nét bút tinh vi đặc thù của ông” (Divino afflante Spiritu).
V́ thế, phác họa ra đây lư thuyết triết học về nguyên nhân dụng cụ không phải là việc dư thừa.
1. Đặc tính thứ nhất của nguyên nhân dụng cụ, làm cho nguyên nhân ấy khác hẳn với nguyên nhân chính, là nguyên nhân dụng cụ không tự ḿnh hành động, nhưng cần được nguyên nhân chính thúc đẩy để thực hiện công tŕnh mà nguyên nhân dụng cụ phải làm. Tuy nhiên, cả hai nguyên nhân chính và dụng cụ làm thành một nguyên tắc duy nhất của hành động.
2. Dù phải lệ thuộc vào nguyên nhân chính để thể hiện hành động của ḿnh, dụng cụ cũng có tiềm năng riêng biệt và bẩm sinh của ḿnh, và tiềm năng ấy hoạt động khi dụng cụ được động.
3. Nhưng nguyên nhân chính không phải chỉ lay động, thúc đẩy dụng cụ; nguyên nhân chính là nâng dụng cụ lên trên khả năng dụng cụ khiến dụng cụ làm ra một kết quả thuộc hạng cao hơn kết quả mà khả năng tự nhiên của dụng cụ có thể làm.
4. Đồng thời, dụng cụ biến cách tác động của nguyên nhân chính, v́ nguyên nhân chính phải tự thích nghi với bản chất và phẩm chất của dụng cụ.
5. Do sự phối hợp chặt chẽ và cộng tác của hai nguyên nhân ấy xuất hiện một kết quả mà, trong hai nguyên nhân, không nguyên nhân nào có thể sản xuất độc lập. Toàn thể kết quả được gán cho nguyên nhân dụng cụ, dù cho trong phạm trù hữu thể, kết quả ấy thuộc cùng một phạm trù với nguyên nhân chính.
Thử đưa ra một thí dụ để giúp chúng ta theo dơi phép song luận trên. Khi một người bắt đầu viết một lá thư, thường người ấy lấy một cây bút. Cây bút làm để viết; nhưng cây bút sẽ không bao giờ viết, nếu nó không được huy động để viết (kết quả). Vả lại cây bút tự ḿnh cũng có khả năng vẽ những dấu trên giấy, và chỉ có thế. Nhưng một khi được người sử dụng huy động và nâng lên trên khả năng, th́ cây bút vẽ những dấu có ư nghĩa, tức là những từ và những câu. Chúng ta nói không đúng, nếu chúng ta nói rằng: tuy bên ngoài có trái ngược, cây bút không có vai tṛ ǵ khác ngoài ra việc vẽ những dấu, c̣n văn sĩ mới là người có trách nhiệm về ư nghĩa của những dấu ấy. Quả vậy, chúng ta không thể tách rời nội dung có một ư nghĩa ra khỏi những dấu chứa đựng nội dung ấy (một chữ phải chỉ một cái ǵ nếu không, chúng ta chỉ có một mớ vết không có nghĩa) và những dấu ấy có một nguyên nhân là cây bút. Cây bút được huy động và nâng lên trên khả năng, để làm ra một kết quả thuộc phạm trù cao hơn, và cây bút ấy có phần trách nhiệm về toàn thể kết quả ấy: cây bút làm ra dấu, dấu là ra nghĩa1 .
Dĩ nhiên, người viết không bắt buộc phải dùng một cây bút: họ có thể chọn một máy đánh chữ; nhưng, bây giờ, họ phải sử dụng bàn máy đánh chữ. C̣n nếu họ muốn viết có mỹ thuật, th́ họ phải có trong tay một cây bút thích đáng. Nói cách khác, tác động của nguyên nhân chính luôn luôn bị phẩm chất của dụng cụ biến cách.
Bây giờ, chúng ta có thể áp dụng những ư niệm của triết học nói trên vào hiện tượng “Linh hứng để viết”, chúng ta áp dụng bằng cách công thức hóa một số mệnh đề khác:
1. V́ tác động dụng cụ với tư cách là dụng cụ chỉ làm một với tác động nguyên nhân chính, nên Thiên Chúa là tác giả chính của Thánh Kinh.
2. Nguyên nhân chính và nguyên nhân dụng cụ, làm thành một nguyên tắc duy nhất của hành động, nguyên nhân dụng cụ lệ thuộc vào nguyên nhân chính. Toàn thể kết quả được gán đồng thời cho cả hai nguyên nhân: cho nguyên nhân chính với tư cách là nguyên nhân thúc đẩy, cho nguyên nhân dụng cụ với tư cách là nguyên nhân bị thúc đẩy. Đây không phải là những nguyên nhân tiếp cận mà mỗi nguyên nhân chỉ sản xuất một phần của kết quả mà thôi. Mỗi nguyên nhân trong hai nguyên nhân ấy đều là tác giả của Thánh Kinh: Thiên Chúa là nguyên nhân chính, văn sĩ thánh là nguyên nhân dụng cụ.
3. Kết quả do hai nguyên nhân ấy làm ra thuộc cùng một phạm trù hữu thể với nguyên nhân chính. V́ thế, Thánh Kinh là siêu việt; xét về yếu tính, Sách ấy khác với mọi cuốn sách khác.
4. Dầu vậy, toàn bộ cuốn sách cũng phải được gán cho tác giả nhân loại. Dù được Thiên Chúa thúc đẩy như một dụng cụ thực sự, tác giả này cũng hành động một cách hoàn toàn nhân loại. Những tài năng tự nhiên của họ không bị đ́nh chỉ hoặc hủy diệt chút nào. Họ thi thố sinh hoạt của ḿnh như khi họ soạn thảo bất cứ tác phẩm nào khác.
5. Tác động của nguyên nhân bị biến cách do phẩm chất của dụng cụ. Dó đó, phải gán mọi thiếu sót cho sự bất toàn của dụng cụ. Và do đó, những đặc tính và thể văn của mỗi tác giả cũng dễ nhận ra trong Thánh Kinh.
6. V́ là con người, nên văn sĩ thánh là một dụng cụ “sui genoris”, một dụng cụ thuộc loại đặc biệt, đồng tương quan với bản tính có lư tính. Khi tác động với tư cách là nguyên nhân chính, Thiên Chúa thúc đẩy họ theo bản tính của họ: Người thúc đẩy bằng cách tác động trên trí năng của họ, trên ư muốn của họ và trên các chức năng thi hành của họ.
Điểm cuối cùng này quan trọng một cách đặc biệt. Dẫn chứng và áp dụng ở đây nguyên tắc và nguyên nhân dụng cụ là điều chính đáng; nhưng luôn luôn phải nhớ sự việc căn bản này: tất cả dụng cụ đều là vô tri vô giác, c̣n dụng cụ Thiên Chúa dùng để viết Thánh Kinh là một dụng cụ nhân loại, là một con người có trí khôn, ư muốn và tự do. Khi thúc đẩy dụng cụ duy nhất thuộc loại ấy, Thiên Chúa tôn trọng đầy đủ trí khôn và sự tự do của họ. Điều ấy có thể thực hiện thế nào, đó vẫn là mầu nhiệm; nhưng đó cũng là một khía cạnh riêng biệt của một mầu nhiệm nằm trong một lănh vực rộng lớn hơn (và chúng ta đừng quên rằng: nói cho cùng, Linh hứng là một mầu nhiệm). Thần học chúng ta dạy rằng Thiên Chúa có thể dùng ân sủng mà thúc đẩy con người từ bên trong và thúc đẩy một cách hữu hiệu tuy vẫn tôn trọng bản tính tự do của con người. Đó là nghĩa phải hiểu khi nói Thiên Chúa sử dụng văn sĩ thánh như dụng cụ. Dưới sự thúc đẩy tối ưu hữu hiệu của Thánh Thần, tác giả nhân loại được Thiên Chúa thúc đẩy một cách hữu hiệu phải suy nghĩ và viết ra điều Thiên Chúa muốn và như Thiên Chúa muốn. Được sức thúc đẩy ấy lôi cuốn, văn sĩ đúng là một dụng cụ; tuy nhiên, sức thúc đẩy lôi cuốn ấy đă không giảm thiểu các khả năng tự nhiên của văn sĩ, mà c̣n tăng cường. Thế là, ở đây, chúng ta đứng trước một dụng cụ thuộc loại rất đặc biệt, tác giả nhân loại là dụng cụ thuộc kiểu riêng của bản tính một hữu thể có lư tính.
Đồng thời, Thiên Chúa thích ứng sứ điệp của ḿnh với trí khôn và văn hóa của dụng cụ người đă chọn. Thế nghĩa là văn sĩ thánh, cũng như các dụng cụ khác, biến cải hành động của nguyên nhân chính. Dù toàn bộ Thánh Kinh phải được gán cho Thiên Chúa (là Đấng đă thúc đẩy các văn sĩ thánh) và cho các tác giả nhân loại (với tư cách là được Thiên Chúa thúc đẩy), nhưng các đặc tính của mỗi tác giả không bị xóa đi; những đặc tính ấy c̣n thấy rơ ràng trong mỗi sách. Trong các văn sĩ được Thiên Chúa chọn nhiều người có những tài năng phi thường. Họ đă triệt để khai thác các tài năng văn chương của ḿnh trong việc tŕnh bày sứ điệp thần linh. Kẻ khác lại không có những tài năng ấy. Dó đó mà, về mặt văn chương, một vài phần trong Thánh Kinh có một thể văn rất tầm thường. Tuy nhiên, dù có tài năng hay không, các tác giả thánh đều là những dụng cụ Thiên Chúa đă sử dụng để nói cùng chúng ta từ đầu chí cuối Thánh Kinh.
5. PHẠM VI CỦA LINH HỨNG.
Như chúng ta đă thấy, nếu toàn bộ Thánh Kinh đều phải được gán cho Thiên Chúa th́ dương nhiên và tất nhiên tất cả trong bộ Thánh Kinh đều được linh hứng, và chúng ta phải chấp nhận sự linh hứng “các chữ”, đi đến chính các từ.
Nhiều tác giả tránh né trước câu kết luận ấy và, trên một lần, Giáo Hội đă phải can thiệp kẻo họ hạn chế một cách trái lẽ môi trường tác động của đặc sủng thần linh. Nói thực ra, chúng ta hiểu được tại sao quan niệm ấy đă gây ra t́nh trạng lúng túng; thoạt nghe, th́ nói Linh hứng từng chữ h́nh như là quá. Và đúng như vậy, nếu chúng ta phải quan niệm rằng tất cả các phần của bộ Thánh Kinh đều được Linh hứng hoàn toàn như nhau.
Sự thật là khái niệm “linh hứng” không phải là một khái niệm đồng nghĩa mà là loại suy. Thử đưa ra một thí dụ. Khái niệm “bản tính nhân loại” là một khái niệm đồng nghĩa, v́ mọi người đều có bản tính ấy một cách như nhau; trái lại khái niệm “sự sống” là một khái niệm loại suy, v́ nó có thể gán cho loài người, thú vật và cây cối. Trong mỗi trường hợp nói trên, đúng là chúng ta có thể nói “Sự Sống”; nhưng rơ ràng là sự sống không đồng nghĩa nơi mỗi phạm trù sinh vật nói trên. Cũng vậy, tất cả các thành phần của bộ Thánh Kinh đều được linh hứng, nhưng tất cả không được linh hứng một cách hoàn toàn như nhau.
Không một thành phần nào của bộ Thánh Kinh thoát khỏi ảnh hưởng của Linh hứng. Một bản văn Thánh Kinh, dù là nhỏ bé nhất cũng là thành phần của một quyển sách nhất định nào đó (cũng như của toàn bộ mà chúng ta gọi là Thánh Kinh) và bản văn ấy có một vai tṛ phải đóng đối với tác phẩm toàn bộ. Khi thêm vào chỗ đây một sự việc phụ thuộc, chỗ kia một chi tiết mỹ lệ, tác giả đă hành động như một văn sĩ quan tâm đến nghệ thuật của ḿnh. Ông biết rằng những yếu tố ấy tuy là ít quan trọng, nhưng cũng có phần đóng góp trong việc tŕnh bày thành công chân lư mà ông muốn in vào tâm trí thiên hạ, cũng giúp phần trong việc gây nên kết quả tổng quát mà ông ước muốn.
“Một chi tiết thuộc loại ấy cũng được chịu ảnh hưởng linh hứng đă hướng dẫn toàn thể tác phẩm; chi tiết ấy được linh hứng thực sự nhưng ở vị trí của ḿnh, vào theo vai tṛ của ḿnh, vị trí và vai tṛ này có thể là rất phụ thuộc. Tuy cho là đúng lúc, tác giả nhân loại chỉ cho chi tiết ấy là ít quan trọng và ít đáng quan tâm. Do đó, Thánh Thần cũng vậy, Người không tuôn đổ ánh sáng của Người, Người không bảo đảm chân lư của Người trên điểm này cũng y như trên một điểm khác vô cùng quan trọng hơn : trong khi Người tuôn đổ đặc sủng linh hứng một cách khác nhau, chi tiết này chỉ nhận lănh ít ánh sáng, ít giá trị, và chúng ta phải hiểu như vậy, nếu không muốn làm sai ư định xác thực của người thông ngôn nhân loại và của Thiên Chúa qua người thông ngôn ấy”1.
Chúng ta phải nhớ rằng tác giả Thánh Kinh được linh hứng viết một cuốn sách. Đ̣i hỏi tất cả các đoạn văn của cuốn sách này đều quan trọng như nhau, th́ thật là lố bịch. Thế nhưng cũng v́ giả định thuộc loại này mà có kẻ đă lấy con chó của ông Tô-bi-a, chẳng hạn, làm đề tài của một vấn đề lớn. Người ta tự hỏi: Tại sao Thiên Chúa lại phải linh hứng cho tác giả nhắc đến con vật này và kư chú là nó ngoắc đuôi? Thực ra, đây chỉ là một chi tiết thân mật được thêm vào cho bài tự thuật được sống động hơn. Chính văn sĩ cũng phải coi chi tiết ấy là không quan trọng; ông đă chọn nhằm kết quả tổng quát mà ông muốn gây nên (thế nghĩa là, lúc ấy, phán đoán thực tiễn của ông đă can thiệp), v́ đây chỉ là một trang sức văn hoa. Tuy nhiên, chi tiết ấy được Linh hứng, v́ lẽ tác giả đă được Thiên Chúa thúc đẩy viết một cuốn sách mà chi tiết này là thành phần.
Nói tóm lại, nhiều thắc mắc sẽ không c̣n nếu, một lần dứt khoát, chúng ta hiểu rơ rằng Thánh Kinh là bộ sách văn chương, tuy được Linh hứng.
Trong suốt chương tŕnh này, chúng ta đă nói đến văn sĩ thánh dường như đó là một cá nhân mà thôi và, do đó, chúng ta đă đơn giản hóa các sự việc dù trong thực tại, các sự việc không xảy ra như thế. Phải làm như thế để xác định và công thức hóa rơ ràng các nguyên tắc. Nhưng sau đó, chúng ta phải coi chừng v́, trong nhiều trường hợp, vấn đề tác giả thật là phức tạp. Nhiều cuốn sách đă được kiểu chính và tăng bổ qua các thời gian lâu dài, đôi khi qua nhiều thế kỷ nữa.
“Nói tóm lại, Sách Thánh dần dần xuất hiện trước mắt chúng ta như một tác phẩm phức tạp do nhiều thế hệ tiếp tục làm thành, như một lâu đài do nhiều bàn tay góp phần xây dựng, Sách ấy là một tác phẩm tập thể, tác phẩm của cả một dân tộc qua nhiều thế kỷ đă đặt vào đó kho tàng truyền thống của ḿnh... Tuy nhiên, nguồn gốc của các Sách Thánh, dù phức tạp, cũng không thay đổi đặc tính của sách chút nào, v́ điều mà Giáo Hội đă công nhận là Thánh Kinh quy điển, đó là kết quả cuối cùng, đó là cuốn sách trong t́nh trạng chung cuộc của nó; chính cuốn sách ấy được Linh hứng. V́ thế, phải công nhận rằng tất cả những ai đă góp phần trước tác cuốn sách ấy đều đă được Linh hứng... Ảnh hưởng Linh hứng được phân chia theo nhiều thể thức và cường độ khác nhau trên tất cả những người thợ làm việc cho cuốn sách của Thiên Chúa. Ảnh hưởng Linh hứng ấy thúc đẩy người này sáng tác nội dung của sách, người kia kiểu chính bằng cách tăng bổ. Chúng ta đoán được dễ dàng rằng người thứ hai không được Linh hứng cùng một cách như người thứ nhất; mỗi người thông phần vào đặc sủng theo mức độ nhiều hoặc ít họ góp lực vào cuốn sách, một mức độ tùy thuộc vào muôn ngàn sắc thái. Nh́n vào các tác giả khác nhau cũng như các phần khác nhau của bộ Thánh Kinh và các tài năng khác nhau của văn sĩ, chúng ta thấy lại rằng đặc sủng Linh hứng đă được ban xuống cách loại suy, và chỉ có cách đó mới cắt nghĩa được một cách đầy đủ thực tại cụ thể của Thánh Kinh” (P. Benoit, L’Inspiration, tr. 26).
Trong một mạch văn như thế, cần phải nhắc lại điều chúng ta nói trên về Linh hứng Thánh Kinh nghĩa là Linh hứng để viết, chỗ mà chúng ta đă t́m cách đưa ra một ư niệm đầu tiên về sự khác nhau của các thể thức Linh hứng và về phạm vi môi trường Linh hứng. Những người điều khiển ḍng lịch sử thánh cũng được Thánh Thần thúc đẩy không kém ǵ những người bày tỏ Lời Chúa. Và, dầu cho các văn sĩ Thánh Kinh có thể được thúc đẩy một cách đặc biệt, lượng theo điều mỗi người đóng góp riêng tư, th́ Thánh Kinh, chúng ta đừng quên, chỉ là giai đoạn cuối cùng (được Thiên Chúa muốn và làm) của tất cả các sự kiện lịch sử cứu độ và của tất cả giáo huấn khẩu truyền mà Thánh Kinh đă bảo tŕ dưới h́nh thức viết. Linh hứng lên đến tận những giai đoạn xa xưa nhất, lúc mà lời mới được sống động và được nói. Như Cha P. Benoit đă viết:
“Linh hứng để viết” là giai đoạn sau hết của một thời gian lâu dài Thánh Thần thúc đẩy. Sau khi đă làm nên một công tŕnh vừa thần linh vừa nhân loại và sau khi dùng mọi cách mà nói lên tiếng nói của Chúa Cha cho đến lời kêu gọi sau hết của người thừa tự (Dt 1,1), Thánh Thần kư thác tất cả những điều ấy vào Sách Thánh và Sách Thánh sẽ đến với mọi người thuộc mọi thời đại và dân nước” (“Inspiration et Révélation”, trong Concilium 10,1965, tr.21).
1 Phán đoán suy lư thuộc về tri thức chân lư nói chung, và chân lư được truyền đạt cho kẻ khác, nếu phán đoán ấy được tác giả công thức hóa; c̣n phán đoán thực tiễn th́ thuộc về các phương tiện truyền đạt.
1 Ở chương VI, chúng ta sẽ thấy tại sao phải nhấn mạnh điểm này.
1 P. Benoit, L’Inspiration trong Initiation biblique (Paris 1954, Desclée, tr. 25)