THÁNH KINH

TỔNG LUẬN NHẬP MÔN

Người dịch : Lm Tanila Hoàng Đắc Ánh

 

CHƯƠNG V

 LỜI KHÔNG SAI LẦM

 

Thánh Kinh được Linh hứng và, v́ thế, có Thiên Chúa là tác giả. Do đó, Thánh Kinh vô ngộ, nghĩa là khỏi mọi sai lầm. Tuy nhiên, đáng tiếc là quá nhấn mạnh điểm này thường làm cho ta có một thái độ thuần túy pḥng ngự và tiêu cực đối với Thánh Kinh. Về điểm này, chắc chắn là có lợi hơn, nếu chúng ta nói về Chân lư của Thánh Kinh. Và đó chính là điều Hiến Chế Dei Verbum của Công Đồng Va-ti-can-nô II đă làm. Hơn nữa, Hiến chế ấy c̣n khẳng định rằng nguồn gốc của Thánh Kinh là Thiên Chúa và, do đó, bảo đảm cho chúng ta rằng những chân lư được dạy bảo trong Thánh Kinh và những thực tại được tự thuật trong Thánh Kinh, những chân lư ấy và những thực tại ấy chỉ vẽ con đường cứu độ một cách chắc chắn và không sợ rủi ro sai lầm 1 . Thực vậy, đúng ra phải nói rằng sứ điệp của Thánh Kinh chính yếu là tôn giáo và không quan tâm đến những ǵ không liên quan đến việc cứu độ [1]. Tuy nhiên, v́ từ “vô ngộ” đă được thông dụng, nên chúng ta tiếp tục dùng từ ấy. Hầu hết những lập trường chống đối Thánh Kinh đều lộ diện trên mặt trận này. Và, lắm khi, những người bênh vực Thánh Kinh bị gài bẫy và buộc ḿnh rút lui vào những vị trí mỏng manh hoặc rơ ràng là không tốt.

1. PHẠM VI CỦA SỰ VÔ NGỘ.

Thánh Kinh chỗ nào cũng được linh hứng, nhưng không v́ thế mà Thánh Kinh chỗ nào, lúc nào cũng không sai lầm. Linh hứng và vô ngộ khăng khít với nhau, nhưng dưới khía cạnh này hay khía cạnh kia trong hai khía cạnh sau đây: một cách tích cực khi vấn đề là chân lư; một cách tiêu cực để pḥng ngự mọi hiểm nguy sai lầm. Như chúng ta đă thấy, điều “Linh hứng để viết” chi phối, chính là sự trước tác một cuốn sách, và, một phần lớn, điều tác giả nói, cũng chỉ là, hoặc ít nhất có thể là, phụ thuộc đối với những ư niệm chính yếu của tác phẩm. Rơ ràng là các tác giả thánh không nhằm dạy một cái ǵ trong mọi lúc và mọi chi tiết của tác phẩm họ viết. Một văn sĩ không những là “dạy bảo” độc giả, mà c̣n có thể t́m cách đánh động con tim, khuyến khích, an ủi hoặc chỉ làm đẹp ḷng độc giả mà thôi. Và dầu khi ông kêu đến trí tuệ của họ, ông cũng có thể dàn xếp để tŕnh bày sứ điệp của ḿnh sao cho dễ hiểu, dễ nghe.

Các văn sĩ thánh không làm cách khác. Trong những đặc tính của các tác phẩm họ viết (vẻ đẹp, hứng thú, hấp dẫn), th́ chân lư chiếm chỗ hàng đầu; tuy nhiên, chân lư không phải là đặc tính duy nhất, và không phải lúc nào, nơi nào cũng có.

Như chúng ta đă thấy, nơi một tác giả, phán đoán thực tiễn có thể đóng vai tṛ chính yếu. Mà sự vô ngộ lại thuộc về phán đoán suy lư theo mức độ phán đoán này được soi sáng. Nhưng thường chúng ta cứ đề cập Thánh Kinh với một quan niệm Linh hứng thuộc loại Linh hứng ngôn sứ, đến nỗi chúng ta cứ tưởng là ḿnh t́m được, trong tất cả các câu Thánh Kinh, chẳng những Linh hứng, mà c̣n chân lư nữa. Đó là một sai lầm, v́ “Linh hứng để viết” không hàm ư là, trong tất cả mọi phần Thánh Kinh, chỗ nào cũng tích cực giảng dạy chân lư. Không, “Linh hứng để viết” chỉ pḥng ngự, một cách tuyệt đối, kẻo sự cố ư giảng dạy điều sai lầm mà thôi.

Để hiểu rơ hơn, có lẽ chúng ta nên tự hỏi: “Sai lầm là ǵ?”. Sai lầm là một phán đoán cố ư, nhưng không phù hợp với thực tại. Chỉ có sai lầm, khi ai nhất định cố ư tŕnh bày một khía cạnh riêng biệt của chân lư, khi họ rơ ràng khẳng định một chân lư.

Ví dụ, khi nói “Mặt trời mọc”, chúng ta không sai lầm, v́ chúng ta chỉ diễn tả một cảm giác rơ ràng, một điều mắt thấy được; Chúng ta không đi xa hơn, chúng ta không công thức hóa một phán đoán về một lư thuyết thiên văn. Nhưng nếu chúng ta dựa trên sự chuyển động bề ngoài của mặt trời mà khẳng định rằng mặt trời quay quanh trái đất thực sự và cho đó là một sự kiện khoa học, th́ khẳng định như thế là sai lầm. Khẳng định như thế là phán đoán cố ư mà không phù hợp với thực tại.

Điều này đă được Dom Celestin Charlier tŕnh bày rơ ràng như sau:

“Không phải là sai lầm, khi không phải là giáo huấn mà chỉ là dư luận mà thôi, hoặc chỉ chấp nhận những quan niệm đă được phổ biến khắp nơi mà không kiểm tra. Không phải là sai lầm, khi lời khẳng định bị buộc tội ấy chỉ sai lầm ở một phương diện hoàn toàn xa lạ đối với những ǵ văn sĩ chủ trương một cách cụ thể, và chính những ǵ văn sĩ chủ trương ấy cũng phải được châm chước tùy theo các độc giả mà ông nói với. Nói tóm lại, đây chỉ là áp dụng cái định nghĩa triết học của “Sự Dữ”: Sự Dữ là thiếu một sự lành cần phải có, th́ sự sai lầm là thiếu một chân lư có thể đ̣i. Muốn khiển trách ai đă không phát biểu chính xác về một vấn đề nào, th́ phải coi người ấy có chủ trương và có bổn phận phát biểu như vậy không, c̣n phải xét đến những thiên kiến những kẻ đồng thời của người ấy”1 .

2. CHỦ Ư CỦA TÁC GIẢ.

Việc phân tích trên cho ta thấy rằng chính chủ ư của tác giả mới là yếu tố quyết định về sự thật hay sai lầm nơi điều ông viết. Thường thường th́, khi viết về một việc ǵ, ông nhằm sự việc ấy dưới một khía cạnh hạn định nào đó. Ví dụ, các tinh tú không phải ai ai cũng nh́n một cách như nhau: nhà thiên văn th́ nghiên cứu những định luật của chúng, c̣n thi sĩ phấn khởi sửng sốt trước vẻ đẹp của chúng, nhưng nhà tư tưởng tôn giáo th́ nh́n thấy nơi chúng một công tŕnh vĩ đại của Đấng Tạo Hóa toàn năng. Và không ai nói là nhà thi sĩ và nhà tư tưởng sai lầm khi họ chỉ nói theo khía cạnh riêng tư của họ.

Mà các văn sĩ Thánh Kinh chắc chắn là những nhà tư tưởng tôn giáo; lắm khi, họ cũng là những nhà thi sĩ. Nhưng không bao giờ họ cho ḿnh là các nhà bác học. Nếu chúng ta đ̣i chân lư khoa học trong Thánh Kinh, chúng ta sẽ không t́m thấy v́ lẽ đơn sơ này là chân lư ấy không có trong Thánh Kinh. V́ thế mà, chẳng hạn, sự sáng tạo vũ trụ được mô tả trong Thánh Kinh theo kiểu phù hợp với quan niệm không giá trị khoa học của thời đại mà tŕnh thuật được h́nh thành, và phải phán đoán tŕnh thuật ấy theo ánh sáng của những quan niệm ấy. Cũng may là, thời nay, không cần nhấn mạnh sự việc này là Thánh Kinh không phải là một sách giáo khoa khoa học, một sách giáo khoa luôn luôn hợp thời. Từ lâu, thuyết “Phù Hợp” (concordisme) đă bị chôn vùi trong dĩ văng.

Thiết tưởng cũng nên nhắc lại rằng không phải tất cả những ǵ một tác giả viết đều phải coi là một khẳng định quả quyết. Điều nhận xét đương nhiên này có nhiều hệ lụy quan trọng. Quả vậy, Ủy Ban Thánh Kinh có tuyên bố rằng: “Chúng ta phải chấp nhận tất cả những ǵ văn sĩ thánh quả quyết, phát biểu hoặc gợi ư, phải chấp nhận tất cả những điều ấy là được Thánh Thần quả quyết, phát biểu hoặc gợi ư” (Euchiridion Biblicum, số 420). Dĩ nhiên, lời công bố ấy chấp nhận rằng, trong khẳng định cũng có nhiều mức độ khác nhau. Một môn huấn cổ lành mạnh sẽ tùy mỗi trường hợp mà xác định tác giả thánh bảo đảm những ư kiến họ phát biểu là xác thực đến mức độ nào. Bản văn của ông sẽ xác thực trong mức độ ấy, chứ không hơn. Có thể là ông chỉ đưa ra một dư luận, đôi khi ông nói ra mối do dự, bày tỏ một nghi ngờ. Chúng ta phải chú ư đến những cách định phẩm ấy, v́ chính Thiên Chúa đă chấp nhận những cách định phẩm ấy khi quyết định nói với chúng ta qua trung gian văn sĩ ấy.

Bây giờ, chúng ta có thể đi thêm một bước mà nói rằng cũng có thể là một tác giả khẳng định một điều mà không tŕnh bày điều ḿnh khẳng định như một sự việc ông tin là có. Ví dụ rơ ràng hơn cả, v́ không ai thắc mắc, đó là các dụ ngôn. Chẳng những các lời Đức Giê-su được ghi vào sách được Linh hứng, mà các lời ấy c̣n là lời xác thực. Mà Đức Giêsu kể chuyện người con xin được phần gia sản, rồi trẩy đi phương xa, ăn chơi phung phí. Đằng khác, Người c̣n mô tả phản ứng người cha khi tên phung phí trở về, cũng như phản ứng của anh của tên ấy. Tất cả mọi sự việc ấy đều được khẳng định. Nhưng, trong các thính giả của Người, không ai tin, cũng như không độc giả nào của đoạn Tin mừng ấy tin rằng chuyện ấy có thật và những đặc tính được Người mô tả đă có thực sự. Tŕnh thuật nhằm làm sáng tỏ mối t́nh nhân hậu yêu thương của Thiên Chúa và ngỏ lời cảnh cáo một số người Pha-ri-sêu kiêu căng và hay phê b́nh chỉ trích. Các chi tiết nhằm làm cho hai mục đích ấy được hữu hiệu; những chi tiết ấy không có giá trị nào khác và, tự chúng, cũng không có ư nghĩa.

Do đó, chúng ta thấy rằng một tác giả thánh được hoàn toàn tự do sử dụng lối văn giả tưởng khi trần thuật hoặc tŕnh bày, v́ giả tưởng cũng có thể là phương tiện truyền thông chân lư, kể cả chân lư thần linh. Các dụ ngôn là bằng chứng và chúng ta cũng thấy những tác phẩm giả tưởng trong Cựu Ước. Dĩ nhiên, chúng ta phải phán đoán những văn phẩm loại ấy theo chủ ư của tác giả, chứ không được phán đoán theo một thiên kiến có sẵn.

3. VÔ NGỘ VÀ LỊCH SỬ.

Ngày xưa, đă có vấn đề khi đối chiếu Thánh Kinh với các khoa học thực nghiệm. Nhưng, như chúng ta đă thấy, vấn đề ấy không c̣n mớ mẻ nữa: ngày nay, đă xác định rơ ràng đó là hai lănh vực hoàn toàn khác biệt. Không thể có mâu thuẫn giữa Thánh Kinh được cắt nghĩa đúng đắn và những kiến thức xác thực được các khoa học thế tục khám phá. Nhưng có lịch sử, một môn có liên quan rất nhiều đến bản chất sứ điệp Thánh Kinh: quả vậy, thực chất của sứ điệp Thánh Kinh là lịch sử. Vậy, nếu chúng ta không có lư ǵ mà tin rằng đặc sủng thần linh phải chiếu sáng khi khoa học phân tích vũ trụ, th́ ngược lại chúng ta có đủ lư mà nghĩ rằng đặc sủng thần linh đă tác động trong các tŕnh thuật lịch sử, là những tŕnh thuật cho thấy diễn tiến của chương tŕnh cứu độ do Thiên Chúa hoạch định. Tuy nhiên, ở đây, cũng cần phải khôn ngoan.

Thời đại khoa học chúng ta đang sống cho chúng ta các say mê về sự chính xác và khuynh hướng ấy đặc biệt nhạy cảm trong lănh vực lịch sử. Mà, khi chúng ta quay về Cựu Ước, chúng ta khám phá ra rằng các nhà viết sử Cựu Ước thật là thung dung, nếu xét theo tiêu chuẩn chúng ta. Họ không bận tâm thiết lập một niên biểu chính xác, họ thường hay bỏ qua những sự việc không ăn khớp với những quan điểm hoặc ư định của họ. Họ để lại một lịch sử mà ai cũng thấy là thiếu sót và, đôi khi, không chính xác.

Đối với chúng ta, những thiếu sót ấy lại càng khó tha, khi họ cho thấy rằng họ có trong tay những tài liệu tin tức đầy đủ hơn nhiều.

Nhưng chúng ta có quyền đem những quy tắc hiện hành mà áp dụng cho họ không? Chúng ta phê b́nh họ, nhưng không khéo lời phê b́nh ấy lại là “gậy ông đập lưng ông”, bởi v́ thực ra lịch sử theo quan niệm ngày nay không có ư nghĩa ǵ đối với các văn sĩ Cựu Ước: lịch sử ấy thiếu một yếu tố duy nhất làm cho lịch sử có ư nghĩa.

Các nhà viết sử Cựu Ước luôn luôn tưởng nhớ đến Thiên Chúa. Họ thấy bàn tay của Người trong mọi sự kiện. Khi chúng ta nh́n trong ánh sáng đó, theo cái nh́n thực tại một cách sâu rộng như thế, th́ những chi tiết, chẳng hạn một niên biểu chính xác, mới hiện ra trong viễn tượng thực sự của chúng. Môi miệng chúng ta ca tụng sự quan pḥng của Thiên Chúa; nhưng, trong thục tế, chúng ta không c̣n thấy Thiên Chúa luôn luôn tác động trên ḍng lịch sử. Có phải chăng kỹ thuật chính xác hơn của thời nay bù lại cái mất mát v́ không c̣n được hạnh phúc nh́n thấy sự việc như người xưa.

Và nếu chúng ta trở lại Tân Ước, chúng ta sẽ thấy chẳng những một Thiên Chúa Quan Pḥng, mà là một Thiên Chúa Nhập thể, một Thiên Chúa chẳng những tác động trên lịch sử, mà c̣n trở thành một sự kiện của lịch sử.

Chúng ta nên nhớ rằng một sử gia Thánh Kinh không phải là một sử gia hiện đại và, do đó, không nên áp dụng những tiêu chuẩn hiện đại của chúng ta vào các sách lịch sử  Thánh Kinh. Một sử gia hiện đại nh́n hoặc thử nh́n sự kiện lịch sử trong thực tại khách quan của nó; nhưng đó không phải là cách viết sử duy nhất.

“Sử gia tôn giáo, như chúng ta đă gặp trong Thánh Kinh, chỉ bận tâm biết và kể sự kiện theo mức độ sự kiện ấy đi vào đường hướng thiêng liêng và, đối với ông, chỉ có đường hướng ấy mới quan trọng. Điều này không chỉ có giá trị trong Cựu Ước mà cả trong Tân Ước nữa. Thánh Thần dẫn dắt sử gia, chỉ dẫn đưa sử gia nói về sự kiện v́ lẽ ấy mà thôi, và chỉ bảo đảm chân lư của ḿnh về khía cạnh nhất định ấy, v́ chỉ khía cạnh ấy mới là đối tượng Người nhằm khi giáo huấn. Chúng ta sẽ đi ngược ư Chúa, nếu chúng ta coi bộ Thánh Kinh của Người như một cuốn sách lịch sử khoa học và t́m trong Thánh Kinh chân lư thuộc loại ấy. Đặc sủng của Thiên Chúa chỉ soi sáng những sự kiện lịch sử dưới khía cạnh liên hệ đến mục đích của Sách Thánh, và Người có thể để những ǵ c̣n lại trong t́nh trạng mờ tối của một kiến thức bất toàn hoặc bất xác nữa” (P.Benoit, trong Initiation biblique, tr.37).

Tuy nhiên, lịch sử tôn giáo vẫn là lịch sử; không v́ lẽ đơn thuần rằng không khoa học mà lịch sử ấy không c̣n là lịch sử. Một số các nhà phê b́nh thường hay lên án Thánh Kinh, Tân Ước cũng như Cựu Ước, là không phải lịch sử, v́ lẽ Thánh Kinh không đáp ứng điều mà, ngày nay, chúng ta mong đợi nơi lịch sử, rồi họ tự tiện bỏ con đường phương pháp lịch sử nên đă vi phạm lỗi “sai thời” rơ ràng. Thánh Kinh là sản phẩm của thời đại của ḿnh; và khoa học đúng nghĩa phải biết thừa nhận đầy đủ sự kiện này khi nghiên cứu.

4. CÁC THỂ LOẠI VĂN CHƯƠNG.

Do đó, chúng ta phải ư thức về khía cạnh nhân loại của Lời Chúa và công nhận rằng các văn sĩ thánh là những con người của thời đại ḿnh. Từ đó, chúng ta sẽ rút ra câu kết luận và sung sướng kết luận rằng: các tác phẩm của họ phải tuân theo những quy ước của thời đại của họ. Mà Thánh Kinh là một tác phẩm văn chương. Nên Thánh Kinh cũng phải được hiểu và cắt nghĩa như thế.

Trong bất cứ nền văn học nào, cũng có những phạm trù hoặc kiểu mẫu khác nhau về h́nh thức hoặc về cơ cấu. Chúng ta gọi đó là những thể loại văn chương. Về cơ bản, chúng ta chia ra làm hai loại: văn xuôi và văn vần . Tuy nhiên, trong thực tế, một áng văn không bao giờ chỉ là văn suôi hay văn vần suông, nhưng luôn luôn có quan hệ đến một h́nh thức đặc biệt nào đó của lối văn này hoặc lối văn kia. Và, trong khung cảnh tổng quát ấy, lại có nhiều h́nh thức khác nhau, tùy theo văn hóa và thời đại.

Chúng ta cũng thấy sự khác biệt ấy ngay trong ḷng của cùng một nền văn hóa. Sở dĩ có sự khác biệt ấy, là v́ tác giả muốn tŕnh bày một vấn đề nào đó một cách hùng hồn hơn, hoặc muốn nêu lên những khía cạnh khác nhau của chân lư. Cũng th́ một biến cố, nhưng có thể được kể lại dưới nhiều h́nh thức khác nhau; tự thuật bằng văn xuôi, th́ thiên anh hùng ca, kịch bản, khái luận triết lư; và mỗi h́nh thức có “chân lư” riêng biệt của nó. “Chân lư của văn vần và chân lư kịch bản không giống nhau. Tất cả những h́nh thức ấy là do những sự cố gắng khác nhau để diễn tả chân lư. Nhưng bởi v́ chân lư vượt lên trên mọi h́nh thức riêng tư, nên thường th́, dưới h́nh thức này, chân lư ấy khác với cái vẻ của chân lư ấy khi nó ở dưới h́nh thức kia, dù trong hai trường hợp chân lư ấy đều quy về một thực tại” (J.L.Mckenzie, trong Dictionary of the Bible, tr. 513).

Trong mọi h́nh thức văn hóa, đều có các thể loại văn chương, đó là một trong những điều mà chúng ta cho là dĩ nhiên. Thế mà, có sự kiện này là, khi đề cập đến Thánh Kinh và nhất là v́ khía cạnh nhân loại của Thánh Kinh đă không được công nhận đủ, mà xưa kia quan niệm nói trên chỉ được áp dụng một cách dè dặt. Ngày nay không như vậy nữa, như chúng ta đă thấy. Ngày nay, người ta chấp nhận rằng đúng là Thánh Kinh có đủ mọi kiểu mẫu văn chương khác nhau 1. Đồng thời, người ta cũng công nhận rằng chúng ta không thể xác định các thể loại văn chương theo cách diễn dịch. Trước khi định nghĩa thể loại văn chương của một cuốn sách, chúng ta phải năng làm quen với những quy ước văn chương của thời đại cuốn sách ấy được viết. Và điều sau đây cũng khá rơ, là môi trường áp dụng mà nguyên tác được thiết lập như thế sẽ tỏ ra hữu ích hơn hết, nhất là môi trường các sách lịch sử 2 .

Không thể đánh giá tác phẩm của các sử gia Thánh Kinh theo những tiêu chuẩn hiện hành về sự chính xác lịch sử, chúng ta vừa mới nói ở đây. Lịch sử như chúng ta quan niệm ngày nay là một khoa học hiện đại. Đừng ư thức về các thực tại mới mong rằng các văn sĩ Thánh Kinh (dù là văn sĩ Thánh Kinh Tân Ước đi nữa) chia sẻ mối lo âu của chúng ta, những người của thế kỷ XX này.Nhưng chúng ta c̣n phải đi xa hơn nữa. Có vài tác phẩm Thánh Kinh không bao giờ cho ḿnh là lịch sử, hỏi chúng ta không phải chấp nhận điều này sao? Rơ ràng là phải chấp nhận ; và như thế chúng ta gạt ra ngoài khá nhiều vấn đề giả tạo, v́ lẽ đơn thuần này là trong khá nhiều trường hợp, không phải là vấn đề lịch sử theo nghĩa hẹp, mà cũng không phải là lịch sử ǵ cả. Một số tác phẩm Thánh Kinh đă được sắp xếp vào loại lịch sử v́ chỉ tin vào bề ngoài mà thôi. Đây là chỗ phải nhắc lại rằng cách chúng ta chia sách Cựu Ước ra ba loại: sử kư, ngôn sứ và giáo huấn, phản ánh năo trạng Tây phương, và rằng các người Do-thái chia Cựu Ước ra ba loại “Tôra, Ngôn sứ và Văn phẩm” chắc là măn ư hơn, v́ “Thánh Kinh” hơn.

Bây giờ, chúng ta dễ dàng thấy được rằng có những sai lầm trong cách chia của chíng ta. Ví dụ, nếu không được chỉ giáo, chúng ta sẽ dễ tưởng một tiểu thuyết lịch sử viết khéo là một tiểu sử thực sự và sống động. Nếu chúng ta có nghi ngờ ǵ về vấn đề này, mà không có phương tiện nào khác để t́m hiểu, chúng ta phải chạy đến những ǵ chúng ta biết về chuyên môn tương hỗ của nhà viết tiểu thuyết và của nhà viết tiểu sử. Mặt khác, chúng ta t́m cách kiểm tra những sử kiện được coi là lịch sử bằng cách đối chiếu các sự kiện ấy với những sự kiện khác mà chúng ta biết rơ. Điều tra như thế có thể đưa đến kết quả này là một tác phẩm thoạt nh́n có vẻ lịch sử nhưng kỳ thực không lịch sử ǵ cả và cũng chẳng bao giờ cho ḿnh là lịch sử.

Đó chính là trường hợp sách Gio-na. Sách này có vẻ là lịch sử và được chấp nhận là lịch sử mà không bị phê b́nh chỉ trích. Sự sai lầm lại càng trầm trọng do thành kiến hoàn toàn không căn cứ này là “giả tưởng không xứng đáng với Thiên Chúa”. Nhờ ngày càng hiểu biết môi trường Thánh Kinh một cách phi thường, chúng ta có thể thấy các sự việc dưới một ánh sáng khác hẳn. Và trong Cựu Ước, sách Gio-na không phải là trường hợp duy nhất. Giả tưởng hoặc một tŕnh thuật tưởng tượng được dựng trên cơ sở các sự kiện lịch sử cũng có thể có trong Cựu Ước : thừa nhận như thế là một thu hoạch có tầm quan trọng lớn. Như vậy, thế hệ chúng ta có khả năng đọc Thánh Kinh một cách sáng suốt hơn và có thể khỏi bị chận đứng trước nhiều vấn đề giả tạo đă làm khổ những người đi trước chúng ta.

Ngày nay, đối với chúng ta, rơ ràng là các văn sĩ thánh rất có thể sử dụng bất cứ thể loại văn chương nào được thông dụng thời  của họ “bao lâu các thể loại ấy không hoàn toàn xung khắc với sự thánh thiện và chân lư của Thiên Chúa (Euchiridion Biblicum, số 559).

Có kẻ nghĩ rằng hạn chế như vừa nói là loại bỏ lối văn giả tưởng. Kết luận như vậy mới thật là kỳ: hăy nhớ đến các dụ ngôn. Thực ra, ít thể loại văn chương, xưa cũng như nay, bị loại bỏ về phương diện này; và nếu có đi nữa, th́ là v́ nội dung của tác phẩm hơn là v́ h́nh thức của tác phẩm. Có kẻ nói rằng: chúng ta có thể tưởng tượng Thiên Chúa linh hứng một nhà tiểu thuyết như Dostoievsky. Nhưng chúng ta không tưởng tượng Thiên Chúa linh hứng một sách tiểu thuyết khiêu dâm. Đúng như thế; nhưng giả thiết không hoàn toàn thích đáng, v́ trong hai trường hợp, thể loại văn chương cũng như nhau.

Kỳ thực, khó mà quyết đoán trong trừu tượng cái ǵ thích hợp với Thiên Chúa, cái ǵ không. Thiên Chúa chiếu cố c̣n sâu xa hơn chúng ta tưởng tượng. Khi học hỏi Lời Chúa, chúng ta nên luôn nhớ thực tại đơn thuần của Mầu Nhiệm Nhập Thể và cái ô nhục của cây Thập Giá.


 

1  “V́ phi xem mi li các tác gi được Linh hng viết ra, tc là các thánh s, là nhng li ca Chúa Thánh Thn, nên phi công nhn rng Thánh Kinh dy ta cách chc chn, trung thành và không sai lm chân lư mà Thiên Chúa đă mun Thánh Kinh ghi li v́ phn ri chúng ta” (Hiến Chế Dei Verbum, s 11).

[1]  tc B.M.Ahern, “On Divine revelation” trong The Homiletic and Pastoral review 66, 1966, tr.561-562.

1 C. Charlier, La Lecture chrétienne de la Bible, Paris 1957, tr.223-224; hoc trong sưu tp “Liore de vie” s 46-47 (Paris 1964), tr. 297.

1 Thông Đip Divino afflante Spiritu (s 35-38) đă khng đnh rơ ràng, mà c̣n nhn mnh trong khi tŕnh bày.

2 Tuy nhiên, c̣n phi xem các sách Thánh Kinh được truyn thng cho là lch s có phi là lch s thc chăng; và nếu đúng là lch s, th́ cũng c̣n phi xem lch s theo nghĩa nào và trong mc đ nào.