TIN MỪNG
CHÚA GIÊ-SU KI-TÔ
THEO THÁNH GIO-AN
(dẫn vào và chú giải)
TANILA HOÀNG ĐẮC ÁNH
Ḍng Đa-minh
Sài-g̣n 1996
Mục Lục
DẪN VÀO
I. THỂ LOẠI VĂN CHƯƠNG
1. Một sách Tin mừng
2. Lời chứng của một vị tông đồ
3. Môi trường văn hóa
4. Văn thể tượng trưng
5. Một sách Tin mừng “thiêng liêng”
6. Một Tin mừng về Giáo Hội qua phụng vụ và Bí tích
II GIÁO LƯ
1. Nhập thể
2. Đức tin
3. Cánh chung
4. Giáo Hội
5. Thánh Thần
6. Người môn đệ tuyệt hảo
7. Đức Giê-su là ai ?
III. BỐ CỤC
1. Thứ tự của bản văn
2. Bố cục
IV. SÁCH TIN MỪNG THỨ TƯ VÀ CÁC SÁCH NHẤT LĂM
1. Đối với các sách nhất lăm nói chung
2. Đối với sách Tin mừng theo thánh Lu-ca
V. SÁCH TIN MỪNG THỨ TƯ VÀ LỊCH SỬ
1. Vấn đề
2. Giải đáp
3. Lịch sử và biểu tượng
VI. TÁC GIẢ SÁCH TIN MỪNG THỨ TƯ
1. Đặc tính đồng nhất về mặt văn chương
2. Niên canh của sách Tin mừng thứ tư
3. Lời chứng của sách Tin mừng
4. Lời chứng của Truyền thống
5. Ông Gio-an Trưởng lăo
6. Thánh Gio-an Tông đồ tử đạo năm 44 ?
7. Nơi và ngày sáng tác
VII. NGÔN NGỮ VÀ LỜI VĂN
1. Ngôn ngữ
2. Lời văn
VIII. BẢN VĂN
CHÚ GIẢI
Các đoạn Tin Mừng
Đại lễ và Chúa Nhật
|
I. |
Ga 1,01-18 |
Ngôi Lời Nhập thể |
|
|
II. |
Ga 1,19-28 |
Thánh Gio-an Tẩy giả làm chứng |
|
|
III. |
Ga 1,29-34 |
Đức Giê-su là Chiên Thiên Chúa |
|
|
IV. |
Ga 1,35-42 |
Các môn đệ đầu tiên |
|
|
V. |
Ga 2,01-11 |
Tiệc cưới tại Ca-na |
|
|
VI. |
Ga 2,13-22 |
Đức Giê-su thanh tẩy Đền |
|
|
VII. |
Ga 3,14-21 |
Qua thập giá để đem sự sống |
|
|
VIII. |
Ga 4,05-42 |
Cuộc đàm thoại với chị người Sa-ma-ri-a |
|
|
IX. |
Ga 6,01-15 |
Đức Giê-su hóa bánh ra nhiều |
|
|
X. |
Ga 6,24-35 |
Lương thực thường tồn |
|
|
XI. |
Ga 6,41-51 |
Ai tin th́ được sống |
|
|
XII. |
Ga 6,51-59 |
“Thịt tôi, cho thế gian được sống” |
|
|
XIII. |
Ga 6,60-69 |
“Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa” |
|
|
XIV. |
Ga 7,53-8,11 |
“Tôi không lên án chị” |
|
|
XV. |
Ga 9,01-41 |
Anh mù được thấy |
|
|
XVI. |
Ga 10,01-10 |
Cửa ràn chiên |
|
|
XVII. |
Ga 10,11-18 |
Người mục tử nhân lành |
|
|
XVIII. |
Ga 10,27-30 |
Đức Giê-su là ai ? |
|
|
XIX. |
Ga 11,01-45 |
Đức Giê-su cho ông La-da-rô sống lại |
|
|
XX. |
Ga 12,12-16 |
Đức Giê-su long trọng tiến vào Giê-ru-sa-lem |
|
|
XXI. |
Ga 12,30-33 |
Qua thập giá đến vinh quang |
|
|
XXII. |
Ga 13,1-15 |
Đức Giê-su rửa chân cho các môn đệ |
|
|
XXIII. |
Ga 13,31-35 |
Điều răn mới |
|
|
XXIV. |
Ga 14,1-12 |
Đường, sự thật và sự sống |
|
|
XXV. |
Ga 14,15-21 |
“Một Đấng bàu chữa khác” |
|
|
XXVI. |
Ga 14,23-29 |
Thánh Thần nhắc lại và B́nh an của Đức Ki-tô |
|
|
XXVII. |
Ga 15,1-8 |
Kết hiệp với Đức Ki-tô |
|
|
XXVIII. |
Ga 15,9-17 |
“Hăy yêu thương nhau” |
|
|
XIX. |
Ga 16,12-15 |
Thánh Thần sẽ dẫn tới chân lư toàn diện |
|
|
XXX. |
Ga 18,33-37 |
Đức Giê-su Vua vũ trụ |
|
|
XXXI. |
Ga 19,31-37 |
Đức Giê-su chịu lưỡi đ̣ng đâm thâu |
|
|
XXXII. |
Ga 20,1-9 |
Mồ trống |
|
|
XXXIII. |
Ga 20,19-31 |
Các môn đệ thấy Chúa |
|
|
XXXIV. |
Ga 21,1-19 |
Đức Giê-su hiện ra ở biển hồ Ti-bê-ri-a |
|
TIN MỪNG
CHÚA GIÊ-SU KI-TÔ
Thư tịch rút ngắn
1. La Bible de Jérusalem. Paris 1988, Cerf.
2. La Bible Traduction ecuménique de la Bible (TOB), Édition intégrale. Paris 1988, Cerf
3. La Bible (E. Osty và J. Trinquet), Paris 1973, Seuil.
4. Grelot P., Les Juifs dans
l’Évangile selon Jean,
Paris 1995, Gabalda.
5. The New Jerome biblical
Commentary,
London 1990, Prentice - Hall.
6. Boismard M.E., L'Évangile de Jean, Paris 1977, Cerf.
7. Brown R. E., The gospel
according to John,
The Anchor Bible 29 quyển, New York 1970, Doubleday.
8. Dodd C.H., The Interpretation of the Fourth Gospel,Cambridge 1963, At the University Press.
9. Barrett C.K., Saint John, London 1962, S.P.C.K.
DẪN VÀO
I. THỂ LOẠI VĂN CHƯƠNG
1. Một sách Tin Mừng
“Những điều đă được chép ở đây, là
để anh em tin rằng : Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa và, nhờ tin như
vậy, anh em được sống nhờ danh Người” (20,31). Đó là câu kết thúc của sách
Tin Mừng theo thánh Gio-an ; và câu kết thúc ấy nói lên một cách rơ ràng mục
đích tác giả nhằm khi viết sách. Mà,
nếu mục đích của sách là như thế, th́ sách này nhằm sứ mệnh loan báo Tin
Mừng. Quả vậy, loan báo Tin Mừng, theo các
tông đồ, là :
- loan báo cho muôn dân biết Đức
Giê-su là Đấng Cứu độ
và là Con Thiên Chúa,
- loan báo qua các dấu lạ (tc Cv 2,22.36 ; 9,20 ; 13,33 ; ...),
- loan báo, để muôn dân tin cậy vào Đức Ki-tô (tc Cv 4,4.32 ; 5,14 ; 8,37 ; 10,43) và nhờ tin mà được sống (tc Cv 11,18 ; 13,46-48).
V́ thế, tuy sách được sáng tác có
muộn màng hơn các sách Tin Mừng khác, nhưng sách Tin Mừng thứ tư này cũng giống
các sách Tin Mừng khác, hội đủ những điều các người Ki-tô hữu đầu tiên đă loan
báo.
Thứ đến, khi đọc toàn phần, chúng ta thấy sách Tin Mừng thứ tư cũng có những kết cấu và những nét chính yếu của công tŕnh loan báo Tin Mừng như các sách Tin Mừng nhất lăm, là :
- Lịch sử cứu độ đă được hoàn toàn
ứng nghiệm nơi
Đức Giê-su Ki-tô, là Ngôi Lời của Thiên Chúa và đă
nhập thể (1,1-18) ;
- Theo lời chứng của thánh Gio-an Tẩy
giả, Đức Giê-su
đă được Chúa Thánh Thần xuống chỉ rơ là Đấng Cứu độ (1,31-34) ;
- Đức Giê-su đă dùng lời nói và việc
làm mà biểu lộ
vinh quang của ḿnh (1,35-12,50) ;
- Sách có những tŕnh thuật về biến cố Đức Giê-su chịu chết, sống lại và hiện ra (13,1-20,20),
- Đức Giê-su trao cho các tông đồ sứ
mệnh loan báo
Tin Mừng, và c̣n ban cho các Ngài ơn Thánh Thần
và quyền tha tội (20,21-29).
2. Lời chứng của một vị tông đồ
Trong sách, tác giả giấu tên của ḿnh
và, trên một lần,
chỉ xưng ḿnh là “người môn đệ Đức Giê-su thương mến”.
Chẳng hạn, khi nói về việc Giu-đa nộp Thầy (13,23), khi nói
về việc Đức Giê-su trối người môn đệ ḿnh thương mến cho
Đức Ma-ri-a (19,26)
[1]
, khi tường thuật việc thánh Phê-rô và người môn đệ Đức Giê-su thương mến chạy
ra mồ (20,2), khi kể lại
cuộc đối thoại giữa Đức Giê-su và thánh Phê-rô về số phận của người môn đệ Đức
Giê-su thương mến (21,20). Tác giả c̣n kêu chứng như vậy trong đoạn nói
về việc “một môn đệ khác” dẫn thánh Phê-rô vào sân dinh thượng tế (18,15)
và về việc “một người xem thấy và làm chứng” về một người lính lấy giáo
đâm vào cạnh sườn Đức Giê-su (19,34-35).
Mà, theo sách Công vụ tông đồ, một
lời chứng của một người môn đệ như vậy là một lời chứng của một vị tông đồ.
Quả vậy, tông đồ là người thường xuyên có mặt bên cạnh Đức Giê-su “từ khi ông
Gio-an làm phép rửa cho Người cho đến ngày Người được cất nhắc khỏi chúng ta”
(Cv 1,22 tt), và đối tượng chính yếu của sứ mệnh tông đồ, là làm chứng rằng Đức
Giê-su đă sống lại (Cv 1,22). Mà người môn đệ Đức Giê-su thương mến đă được mời
gọi ngay từ đầu, lại c̣n thuộc số người “ăn uống” với Đức Giê-su Phục
sinh (Cv 10,41; Ga 21,13). Ông đă thấy mồ trống : về việc này, lời chứng của ông
nối tiếp lời chứng của thánh Phê-rô
và cũng có giá trị như lời chứng của vị thánh này (20,3-8). Thứ đến, sách của
ông cũng chỉ muốn là lời chứng về sự Đức Giê-su sống lại : nhiều lần, ông c̣n
nhấn mạnh rằng chỉ có biến cố
Phục sinh mới mạc khải được ư nghĩa của những sự kiện khác trong lịch sử cứu độ
(2,22 ; 6,62 ; 7,37-39 ; 12,16 ; 20,9).
V́ thế, sách Tin Mừng thứ tư là một
lời chứng của một vị tông đồ. Và, theo tác giả của sách, làm chứng như vậy là
thực thi điều Đức Giê-su đă dạy trong bữa Tiệc ly, rằng : “Cũng vậy,
anh em cũng phải làm chứng, v́ anh em đă ở với Thầy từ đầu” (15,27; tc
17,20).
3. Môi trường văn hóa
Tuy là một sách Tin Mừng và là lời
chứng của một vị
tông đồ, tác phẩm của thánh Gio-an cũng có những nét riêng biệt làm cho nó
khác hẳn với các sách Tin Mừng nhất lăm. Thay v́ những danh từ và ư
niệm cụ thể, như : Nước Thiên Chúa, tác giả thường dùng những danh từ và ư niệm
trừu tượng, như : sự sống, ánh sáng, vinh quang, v.v. Trong sách lại có nhiều
diễn từ có công thức “Êgo êimi” (chính Ta là) với những tượng trưng đi
theo công thức ấy, như : bánh, cửa, mục tử, gốc nho, v.v. Thứ đến, trong sách,
c̣n có những cuộc đàm luận thường theo một lược đồ, bắt đầu từ một lời bí ẩn của
Đức Giê-su thoạt nghe không ai hiểu, để rồi đi đến việc mặc khải một mầu nhiệm.
Sau hết, tác giả nhấn mạnh về tri thức, thường dùng những từ và nghĩa mâu thuẫn,
như : sáng/tối, thật/giả, cao/thấp, thế gian/Thiên Chúa. Tất cả những điều ấy
làm nên một văn thể riêng biệt. Nhưng văn thể đó là ǵ ?
Một cách tổng quát, chúng ta có thể
nói như sau : sách
Tin Mừng thứ tư có liên hệ ít nhiều với ba trào lưu này, là :
Hy-lạp, Ngộ đạo và Do-thái.
1) Trào lưu Hy-lạp
Thánh Gio-an gần gũi với văn hóa
Hy-lạp hơn các tác giả Tin Mừng khác. Ngài có quan tâm hoặc thường nói đến : tri
thức, chân lư, nhất là sử dụng từ “Lôgôs” (Lời) và các ẩn dụ. Lư
do là v́ văn chương Hy-lạp đă đi vào văn chương Do-thái. Hai nền
văn hóa, tuy giống nhau trên mặt chữ, nhưng lại rất khác nhau
về tư tưởng. Chẳng hạn :
- Theo thánh Gio-an, tri thức không
phải là diễn tiến từ
tri thức khoa học hoặc triết học lên tới tri thức Đấng
Hiện Hữu, nhưng là diễn tiến từ đức tin lên tới Ngôi Lời nhập thể và Thiên Chúa
Ba Ngôi (Ga 1,18).
- “Lôgôs” trong sách
Tin Mừng thứ tư không phải là một
thọ sinh ở giữa Thiên Chúa và vũ trụ, mà là Người Con Thiên Chúa, Người Con tiên
hữu hoàn toàn kết hiệp
với Chúa Cha trong hành động.
2) Trào lưu ngộ đạo
Sách Tin Mừng thứ tư và các sách ngộ
đạo có giống nhau về danh từ và về h́nh ảnh. Từ hai thế kỷ nay, người ta đặt
sách
Tin Mừng thứ tư vào trong trào lưu ngộ đạo. Thuyết Ngộ đạo
chủ trương có thể cứu độ con người. Con người đầu tiên đă sa lầy và, bây giờ,
muốn vươn lên cùng Thiên Chúa là nguồn ánh sáng
và sự sống, vươn lên bằng cách thấu hiểu các chân lư tôn giáo quan
trọng hoặc qua sự xuất thần và, do đó, qua sự khinh chê những thực tại vật chất
hoặc thể xác, v́ những thực tại ấy bị đồng hóa với sự dữ.
Tuy nhiên, đạo lư của những danh từ
và h́nh ảnh của hai lư thuyết thật là khác nhau. Quả vậy, trong sách Tin Mừng
thứ tư, công thức “Êgo êimi” và những tượng trưng đều có đặc tính
Thánh kinh và liên quan đến ơn cứu độ. Những tên gọi của
Đức Ki-tô th́ giống với những tên gọi của Đức Khôn ngoan trong Cựu Ước. Sự sống
Người ban là sự sống vĩnh cửu sau ngày cánh chung theo quan niệm Do-thái giáo và
Ki-tô giáo, một sự sống hiện có và trọn vẹn trong bản thân của Người. Những mâu
thuẫn sáng/tối, thật/giả, cao/thấp, thế gian/Thiên Chúa trong sách
Tin Mừng, đều có tính cách tôn giáo và luân lư, bắt nguồn từ truyền thống
Do-thái, minh triết và khải huyền.
Nhân dịp cũng nên nhắc đến quan niệm
của thuyết
Ngộ đạo và sách Tin Mừng thứ tư về Thiên Chúa và sự tri thức.
Trong sách Tin Mừng, Thiên Chúa là Thiên Chúa sáng tạo vạn vật, một quan niệm
trái ngược với “triết lư nhị nguyên” siêu h́nh của thuyết Ngộ đạo. C̣n về
trí thức, trong sách Tin Mừng, th́ đó là một niềm tin vào Đức Giê-su lịch sử
(6,29), dựa trên lời chứng và thuộc lănh vực tín lư, nếu xét về căn bản.
Nói tóm lại, giữa sách Tin Mừng thứ
tư và triết lư ngộ đạo, không có mối tương quan rơ ràng và sâu rộng về phương
diện
tín lư
[2].
3) Trào lưu Do-thái
Với thời gian và khoa học, người ta
ngày càng thấy
mối tương quan chặt chẽ giữa sách Tin Mừng với văn chương Thánh kinh, Do-thái và
Cum-ran.
a) Về mối tương
quan với Cựu ước :
Trong sách Tin Mừng thứ tư, có những cách đặt câu của tiếng Sê-mít, những chuyện
hoặc những lời mượn ở Cựu Ước, nhất là những đề tài trong văn chương minh
triết, như : nước, man-na, mục tử, vườn nho, Đền thờ. Đó là những dấu
chứng rơ ràng rằng tác giả đă sử dụng Cựu ước, tuy cách sử dụng có tính cách độc
đáo.
b) Về mối tương
quan với văn chương Do-thái, nói chung
: Sách Tin Mừng thứ tư
c̣n có nhiều điểm giống với văn chương Do-thái về cách suy luận, lối sáng tác và
những kiểu nói
thông dụng thời ấy, nhất là những phong tục và lề lối suy tư của
môi trường Do-thái tại Pa-lét-ti-na vào thế kỷ I. Tuy nhiên, những điểm giống
nhau ấy chỉ là hời hợt. Gia dĩ, sách Tin Mừng c̣n đối chọi với Do-thái giáo (tc
Ga 9,22 ; 12,42) v́, xét về phương diện mặc khải, đạo Do-thái đă lỗi thời. Chẳng
hạn :
- Thay v́ Đức Khôn ngoan được nhân hóa trong luật Mô-sê, th́ Ki-tô giáo có Ngôi Lời, Đấng ban sự sống và ánh sáng, mạc khải Chúa Cha cho loài người.
- Tác giả c̣n như chống đối việc suy tôn quá đáng vai tuồng của ông Gio-an Tẩy giả (1,8.15.30 ; 5,35). Theo tác giả, ông Gio-an Tẩy giả chỉ là một chứng nhân, phải nghiêng ḿnh trước Đấng đến sau ông (1,7.19.36 ; 3,27-30 ; 5,33 ; 10,40 tt).
V́ những sự việc ấy, có lẽ sách Tin
Mừng thứ tư đă ra đời trong môi trường Ki-tô giáo quen thuộc, về mặt văn hóa,
với một Do-thái giáo nặng về minh triết và pháp luật và, thứ đến,
sách cảnh giác đề pḥng khuynh hướng đề cao Do-thái giáo
và thánh Gio-an Tẩy giả.
c) Về mối tương quan với văn chương Cum-ran : Văn kiện Cum-ran, được khám phá từ năm 1947, cho thấy một môi trường Do-thái nữa, giống với môi trường sách Tin Mừng thứ tư. Đôi bên đều có đề cập đến một số vấn đề. Chẳng hạn : ánh sáng/tối tăm, chân lư/giả dối, cộng đoàn của ḿnh khai mạc thời đại cánh chung. Vị Thầy công chính đóng vai tṛ chủ yếu và, cũng vậy, Tinh Thần Chân Lư cũng rất là quan trọng.
Tuy nhiên, giữa hai văn kiện, có
nhiều điểm khác nhau. Sách Tin Mừng thứ tư không quá nặng về khía cạnh khải
huyền
và tinh thần câu nệ luật pháp. Cũng vậy, trong sách Tin Mừng, Đức Giê-su là Đấng
Mê-si-a, mà cũng là Thiên Chúa, c̣n Vị Thầy Công chính mà giáo phái Cum-ran gọi
là Mê-si-a, không phải là Thiên Chúa. Hơn nữa, Đức Giê-su cứu độ những ai tin
vào Người, c̣n Vị Thầy Công chính th́ chuẩn bị tâm hồn đón nhận ơn cứu độ mà
thôi
[3].
4. Văn thể tượng trưng
Để nói lên tư tưởng thần học, thánh Gio-an thường dùng văn thể tượng trưng : nhân vật, sự việc và cả con số đều có thể mang một ư nghĩa. Dưới đây là một vài tượng trưng thường gặp.
1) Nhân vật
Trong sách Tin Mừng thứ tư, các nhân
vật vừa là những nhân vật lịch sử, lại vừa mang ư nghĩa tượng trưng. Hai môn đệ
An-rê và Phi-líp-phê là những mẫu người môn đệ tuyệt đẳng
và c̣n là những mẫu người tông đồ có nhiệm vụ đem thiên hạ đến cùng Đức Giê-su.
Dưới cây thập giá, Đức Ma-ri-a là Bà E-va mới, nghĩa là Giáo Hội ra đời (tc St
2,21-23).
2) Các sự việc
Trong sách Tin Mừng thứ tư, nước có
thể chỉ sự khôn ngoan hoặc giáo huấn của Thiên Chúa (Ga 4,14 ; Cn 18,4) và, hơn
nữa, Thánh Thần (Ga 7,37-38). Rượu ngon trong tiệc cưới tại
Ca-na chỉ giáo huấn của Đức Giê-su đối với giáo huấn của
ông Mô-sê. “Đêm” nói ở Ga 13,30 chỉ thế lực đen tối chống đối Đức Giê-su.
Chiếc áo dài của Đức Giê-su không có đường khâu
và không bị xé (Ga 19,23-24), cũng như chiếc lưới đầy cá
mà không bị rách (21,11), cả hai ám chỉ Giáo Hội phải là duy nhất. Có rất nhiều
loại cá trong lần đánh cá nói ở Ga 21,11, nghĩa là
có nhiều người tín hữu thuộc mọi thời đại trong Giáo Hội.
3) Các con số
Con số 7 tượng trưng cho sự
viên măn. Định nghĩa về ḿnh ở Ga 7,28 tt, Đức Giê-su nói Người là Êgo êimi
(chính Ta là)
và cách nói mầu nhiệm ấy đếm được 7 lần. Ở Ga 21,2, có 7 người môn đệ dự bữa với
Đức Giê-su, tượng trưng cho tất cả các môn đệ. Giờ thứ bảy là giờ chiến thắng tử
thần (4,52). Trái lại, số 6 tượng trưng cho sự bất toàn, v́ thiếu một.
Đức Giê-su đi đường bị mỏi mệt vào giờ thứ sáu (4,6). Người bị lên án cũng vào
giờ thứ sáu (19,14). Trong bữa tiệc cưới tại Ca-na, chỉ có 6 chum nước thanh tẩy
và, do đó, cần phải được thanh tẩy (2,6). Số 153, xuất phát từ số 17.
Mà số 10 tượng trưng cho sự đông đảo, c̣n số 7 tượng trưng cho sự trọn vẹn. Nên
số 153 chỉ sự đông đảo trọn vẹn. Nếu
cá tượng trưng cho người Ki-tô hữu, th́ lưới bắt được 153 con cá, có nghĩa là
qui tụ được tất cả các tín hữu thuộc mọi thời đại, và đó là Giáo Hội vô cùng
đông đảo (Ga 21,11).
5. Một sách Tin Mừng “thiêng liêng”
Khi đối chiếu với các sách Tin Mừng nhất lăm là những sách tường thuật các sự việc theo “thể xác”, thánh Cơ-lê-men-tê thành A-lê-xan-ri-a định nghĩa sách Tin Mừng thứ tư là sách “thiêng liêng”, theo đó thánh Gio-an đă cố ư làm nổi bật ư nghĩa của lời nói và việc làm của Đức Giê-su.
Điều này, chúng ta thấy rơ. Quả vậy,
tác giả sách
Tin Mừng thứ tư coi các biến cố của đời sống Đức Giê-su là những “dấu
hiệu”, dấu chỉ, tuy lúc đầu độc giả chưa biết dấu ấy chỉ ǵ. Chẳng hạn,
lời tiên báo về việc tái thiết Đền thờ trong ba ngày (2,19), lời hứa ban nước sự
sống (7,37), tiếng hoan hô Đấng Cứu độ ngày Đức Giê-su cưỡi lừa vào thành
Giê-ru-sa-lem (12,13-15) : những lời ấy, các môn đệ chỉ hiểu khi Đức Giê-su đă
sống lại (2,22) và được tôn vinh (7,39 ; 12,16). Và c̣n nhiều từ ngữ khác mà
người ta chỉ hiểu một khi Đức Giê-su đă chu toàn sứ mệnh
và về cùng Chúa Cha. Chẳng hạn : Con Người được nâng lên
(3,14 ; 8,28 ; 12,32), Đức Giê-su lên (6,62 ; 7,8-10 ; 20,17), ra đi (7,33 ;
8,21 ; 12,35 ; 13,33 ; 14,4), trở lại (14,18 ; 16,16) và xuống (6,32 tt ; 50 tt
.58), v.v.
Và chính Đức Giê-su cũng đă nói : “Thầy
nói với anh em bằng dụ ngôn. Nhưng đă đến giờ Thầy không c̣n nói với anh em bằng
dụ ngôn nữa” (16,25). Lúc c̣n tại dương thế, Đức Giê-su đă dùng ngôn ngữ bí
ẩn, nhiệm mầu. Đó là thời mạc khải thứ nhất. Nhưng thời mạc khải thứ hai sẽ đến.
Thời kỳ ấy, nghĩa là sau khi Đức Giê-su sống lại, Chúa Thánh Thần sẽ đến và sẽ
mạc khải nhân danh Đức Giê-su Phục sinh, sẽ dạy dỗ và nhắc lại mọi điều Đức
Giê-su đă nói với họ (14,26), dẫn đưa họ đến chân lư
toàn diện (16,12 tt). Thời kỳ thứ hai này là chính thời kỳ của sách Tin mừng thứ
tư, một thời kỳ được Chúa Thánh Thần soi sáng đầy đủ. Sách ấy đúng
là bài chú giải những dụ ngôn của Đức Giê-su, phát hiện những mầu nhiệm mà những
dụ ngôn chứa giấu, ví dụ : Đền thờ mới, tái sinh, phượng thờ theo tinh thần và
theo sự thật, bánh ban sự sống, nước ban tinh thần, Con Người được nâng lên.
Hiểu như vậy, th́ sách Tin mừng của
thánh Gio-an c̣n đi vào truyền thống văn chương Do-thái, truyền thống chú
giải những “dấu hiệu” và những “dụ ngôn” của Mặc khải. Tác
giả của sách
đă là sứ giả và chứng nhân của truyền thống Tin mừng, lại c̣n là nhà huấn hỗ
được linh hứng. Trong công tŕnh huấn hỗ này, lời
chú giải kết hiệp chặt chẽ với việc làm và lời nói của Đức Giê-su, chặt chẽ đến
nỗi lắm chỗ khó mà phân biệt đâu là lời nói, việc làm của Đức Giê-su, đâu là lời
chú giải của nhân chứng.
6. Một Tin mừng về Giáo Hội qua Phụng vụ và Bí tích
Văn thể sách Tin mừng thứ tư c̣n hai
nét độc đáo nữa,
là Giáo Hội qua Phụng vụ và Bí tích. Trước hết, sách quan tâm đến
phụng tự. Đời sống Đức Giê-su được mô tả trong khung cảnh đời sống Phụng
vụ. Người làm phép lạ, đọc diễn từ, hô hào
kêu gọi : tất cả đều liên quan đến các lễ quan trọng, và thường là trong Đền
thờ. Tôn giáo mà chính Người là trung tâm, được định nghĩa đúng với các chế định
phụng tự và các nghi lễ của Do-thái giáo, tuy là một phụng tự mới mẻ về tinh
thần và về chân lư.
Đàng khác, mật độ tôn giáo của các
diễn văn, đặc tính
của các h́nh ảnh, như : con chiên, Đền thờ, nước, bánh, mục tử, gốc nho,
v.v., sự biến bi kịch Tin mừng thành một cuộc xung đột giữa ánh sáng và tối tăm,
giữa thế gian và Thiên Chúa, và sự
sử dụng bất ngờ các đại từ "chúng tôi” (1,14 ; 3,11), “anh em”
(19,35 ; 20,31) : những điểm ấy cho sách Tin mừng một đặc tính phụng vụ. Lời
nguyện của Đức Giê-su, cũng gọi là lời nguyện cầu cho Linh mục (17,1-24), được
tŕnh bày theo các kinh nguyện trọng thể của Cộng đoàn Ki-tô hữu. Sau hết, một
đôi trang, như : Lời tựa, diễn từ về t́nh yêu của Thiên Chúa và về sự lên án
(3,16-21), chúng ta có thể coi đó là những thánh thi bằng phú
(prose rythmée).
Từ đó, có người kết luận rằng Sách
Tin mừng của thánh Gio-an là một sách phụng vụ : những phần tŕnh thuật của sách
th́ do chủ tế đọc, các phần Thánh thi th́ do ca đoàn đọc hoặc hát. Nói như vậy
là mạo hiểm. Tuy nhiên, chắc là sách có liên quan với huấn giáo, đặc biệt là
huấn giáo về Phục sinh và Bí tích. Có bao nhiêu đoạn ám chỉ các bí
tích ? Thật khó mà xác định. Nhưng cuộc đàm luận giữa Đức Giê-su và ông
Ni-cô-đê-mô (3,1-21) có tất cả các yếu tố của một bài huấn giáo về phép Rửa tội,
tợ như bài ở
Ep 5,8-14 ; c̣n theo tŕnh thuật về việc Đức Giê-su chữa người mù thuở mới sinh
(9,1-39), th́ tác giả h́nh như muốn nói rằng
được rửa tội là được soi sáng và có lẽ, theo tŕnh thuật về phép lạ Đức Giê-su
làm tại Bét-da-tha (5,1-14.24 tt ; 7,21-24), th́ được
rửa tội là được sống lại. Trong chương VI, có cả một số giáo lư về bí tích Thánh
Thể. Mầu nhiệm Vượt qua Ki-tô giáo thay thế mầu nhiệm Vượt qua Do-thái giáo :
trong sách, chỗ nào cũng gặp thấy tư tưởng này (1,29.36 ; 2,13 ; 6,4 ; 19,36).
Thay thế các nghi lễ thanh tẩy của Do-thái giáo (2,6 ; 3,25), th́ có sự thanh
tẩy các linh hồn bằng Lời của Đức Giê-su (15,3), và c̣n có quyền năng tha tội
bởi phép Thánh Thần (20,22 tt). Sách Tin mừng quy chiếu đời sống Đức Ki-tô với
Mầu nhiệm Ki-tô giáo mà người tín hữu đang sống qua việc phụng tự và qua các bí
tích. Khi quy chiếu, tác giả c̣n được cái ưu huệ này, là : một đàng, nhờ mắt
thấy tai nghe
Đức Ki-tô, nên tác giả đă móc nối một cách dễ dàng đời sống
bí tích của Giáo Hội và lời nói việc làm của Ngôi Lời Nhập thể, và, đàng khác,
nhờ kinh nghiệm bản thân về đời sống Giáo Hội, nên tác giả c̣n khám phá, trong
những bối cảnh Tin mừng
c̣n nóng hổi trong kư ức, những khía cạnh đă không được mặc khải tức thời
(7,39).
Vậy, Sách Tin mừng thứ tư là một tác
phẩm phức tạp.
Lúc ban sơ, Tin Mừng được loan báo dựa trên lời chứng của một vị tông đồ. Th́
sách Tin mừng của thánh Gio-an cũng là Tin mừng theo nghĩa ấy ... Nhưng, đồng
thời, sách Tin mừng ấy là điểm tới của sức cố gắng dưới sự hướng dẫn của Thánh
Thần, nhằm thấu hiểu Mầu nhiệm đời sống Đức Giê-su. Trong sức cố gắng ấy,
có những đoạn bút chiến về giáo lư, những cách diễn tả theo lối Hy-lạp cũng như
cuộc xung đột đưa đến sự đoạn tuyệt với Do-thái giáo. Những yếu tố ấy đă đánh
dấu trên sức cố gắng, và đă ảnh hưởng trên h́nh thức văn chương của sách. Tuy
nhiên, điều nổi bật hơn cả trên các trang sách Tin mừng thứ tư này, là Mầu
nhiệm Giáo Hội, một Giáo Hội dùng các Bí tích mà đồ lại những cử chỉ,
lời nói và việc làm của Đức Giê-su.