TIN MỪNG
CHÚA GIÊ-SU KI-TÔ
THEO THÁNH GIO-AN
(dẫn vào và chú giải)
TANILA HOÀNG ĐẮC ÁNH
Ḍng Đa-minh
Sài-g̣n 1996
II. GIÁO LƯ
1. Nhập thể
Các tác giả sách Tin mừng đều nói về
Đức Giê-su và về
sứ mệnh của Người, nhưng mỗi người nhấn mạnh một điểm . Điểm nổi bật trong sách
Tin Mừng của thánh Gio-an là : Đức Giê-su
là Ngôi Lời đă làm người, để ban sự sống cho loài người (1,14).
Mầu nhiệm Nhập thể này chi phối tất cả tư tưởng của thánh Gio-an.
Thần học Nhập thể được tác giả tŕnh
bày bằng ngôn ngữ “thừa sai” và “nhân chứng”. Đức Giê-su thành
Na-da-rét
(1,45 tt ; 4,9 ; 6,42 ; 7, 41.52 ; 19,19) là vị thừa sai (3,34 ; 9,4 ; v.v.), là
Con Thiên Chúa đến trong thế gian (11,27 ; 9,39 ; 12,46 ; 16,28 ; 18,37). Người
đến từ nơi cao, từ trời (3,31 tt), Người “đến từ Thiên Chúa” (6,46 ; 7,29
; 8,42 ; 16,28 ; 17,8 ; 3,13 ; 6,38.42).
Lời của Người không như lời của người trần thế (3,31 tt). Người là chứng nhân “những việc trên trời” (3,12.31-33). Người nói lời mắt thấy tai nghe bên Chúa Cha (8,38), điều Chúa Cha dạy Người (8,28). Đạo lư của Người “đến từ Thiên Chúa” (7,15-17).
Các việc Người
làm, cũng vậy. Các
việc ấy là “những việc của Đấng đă sai phái Người” (9,4), bởi Người không
làm ǵ
tự ḿnh (8,28) nhưng Người làm “nhân danh Chúa Cha” (10,25)
và do quyền phép Chúa Cha (10,32). Người thông hiệp với
Chúa Cha (10,30 ; 5,17.19-30), đến nỗi chính “Chúa Cha là Đấng ở trong Người”,
thực hiện các việc (14,10). Các việc này là “các việc của Chúa Cha”
(10,37). Những việc ấy, kỳ thực, làm thành một công tŕnh, một việc duy nhất, là
công tŕnh của Thiên Chúa, mà cái thiết yếu của công tŕnh ấy chính là Sứ mệnh
của
Đấng Thiên Chúa sai phái.
Các việc của Đấng Thiên sai, cũng như các lời của Người, có một đặc tính siêu phàm. Thế gian không biết các việc ấy đến từ đâu (2,9), do ai làm (5,12-18 ; 9,11-33 ; 12,37 tt ; 15,24) và nghĩa là ǵ (6,26). Nhưng phàm ai hiểu biết được, những việc ấy sẽ cho họ thấy vinh quang của Người Con Một (1,14 ; 2,11 ; 5,23 ; 11,4).
Vinh quang ấy là trung tâm ánh sáng chiếu trên tất cả cuốn sách. Trước hết, vinh quang ấy được mặc khải dưới tấm màn “các dấu hiệu” (2,11 ; 11,4), rồi tỏ hiện dưới ánh sáng tràn trề (12,23 ; 13,32 ; 17,1.5), khi Con Người được Thiên Chúa “nâng lên” (3,14 ; 8,28 ; 12,32) và, qua cây thập giá, lên lại “nơi mà Người đă ở trước” (6,62) [1] .
Vinh quang ấy đă có nơi Thiên Chúa
trước khi có thế gian (17,5.24) và cũng chính là vinh quang mà Thiên
Chúa mặc khải cho các ngôn sứ : ngôn sứ I-sai-a trong thị kiến Thiên Chúa
vinh quang tại Đền thờ (Is 6,1 tt ; Ga 12,41), ngôn sứ Đa-ni-en trong thị kiến
Con Người cùng đến với mây trời (Đn 7,13 tt ;
Ga 5,27 ; 12,31 tt), ngôn sứ Da-ca-ri-a trong thị kiến Người bị đâm thâu (Dcr
12,10-13; Ga 19,37).
Vinh quang “Ngày Chúa Gia-vê”
được ứng nghiệm
trong “Ngày của Đức Giê-su” (8,56) và đặc biệt là trong “Giờ” của
Đức Giê-su (2,11 ; 7,30 ; 8,20 ; 12,23-27 ; 13,1; 17,1),
“Giờ Người được nâng lên”. Bấy giờ người phàm mới thấy
Đấng Thiên Chúa sai phái là vĩ đại một cách siêu phàm. Danh xưng nhân loại của
Người là “Giê-su thành Na-da-rét” (19,19) xuất hiện gắn liền một cách mầu
nhiệm với danh xưng của Thiên Chúa, là “Êgo êimi” (8,28 ; 13,19). Người
là Đức Chúa và là Thiên Chúa (20,28).
Thiên Chúa sai phái Con của Người đến
thế gian (3,17) để mặc khải ḿnh trong Người Con ấy (1,18 ; tc 14,9 ; 10,38 ;
14,10) và để cứu độ thế gian (3,17 ; 4,42 ; 12,47) : Người Con Thiên Chúa
đem cho loài người sự sống đời đời (3,15
tt.36 ; 4,14 ; 5,21.24 tt. 40 ; 6,40.50.53 tt.57 tt ; 10,10 ; 11,25 tt ;
20,31). Người “có sự sống” (5,26), Người là sự sống (14,6 ; tc 1,4), là “ánh
sáng soi đường
đưa tới sự sống” (8,12). Ai nghe lời Người và tin vào Đấng sai Người (5,25),
“ai ăn thịt và uống máu Người, kẻ ấy sẽ được sống muôn đời” (6,54). Ai
tin vào Người, th́ sống lại (th́ hiện tại), v́ Người là “sự sống lại” (11,25).
Sự sống lại thiêng liêng ấy chính là “sự bảo đảm chắc chắn cho sự sống lại
sau cùng” (6,39 tt, 44.54).
2. Đức tin
Đức tin là sự đáp ứng của con
người trước Mầu nhiệm nhập thể ; Tin mừng nhằm đưa tới đức tin (20,31).
Nhờ tin,
loài người tiếp nhận ơn Thiên Chúa ban cho họ trong Con Một
của Người, tức là sự sống (3,16) và, do đó, sẵn sàng tái sinh “từ nơi cao”
(3,3 tt).
Đức tin này thuộc lănh vực hiểu
biết (17,3). Tin là gắn bó vào “Chân lư” (8,32; 14,6), nghĩa là
Ngôi Lời Nhập thể. Mà,
theo Tin Mừng thứ tư, Ngôi lời Nhập thể là Con Thiên Chúa, do Chúa
Cha sai đến thế gian (7,28 tt ; 8,14 ; 16,30). Người kết hiệp với Chúa Cha
(14,10 tt). Người có từ muôn thuở (8,58). Người là Thiên Chúa (20,29). V́ vậy,
tin là, qua lời nói và việc của Đức Giê-su, tin Đức Giê-su là như thế. Ai tin sẽ
từ chỗ nh́n nhận đầu tiên ấy đi đến chỗ nhận biết sâu rộng hơn. Nhờ đó, đức tin
sẽ được bền vững và kiện toàn (6,69 ; 8,31 tt ; 10,38 ; 11,40 ; 17,8).
Nhưng hiểu biết như vậy không phải chỉ là một sinh hoạt lư trí mà thôi : sự hiểu biết ấy c̣n dẫn đương sự đến hành động. Quả vậy, theo Tin Mừng thứ tư, tin là “lănh nhận” Con Thiên Chúa (1,12 ; 5,43). Tin là “theo” Người Con ấy (1,39 ; 8,12 ; 10,27). Tin là “đến” với Người Con ấy ((5,40 ; 6,35.37.44 tt. 65 ; 7,37). Tin là “ở trong Người”, nghĩa là sống kết hiệp với Người (6,56 ; 15,4 tt). Tin là “chấp nhận lời chứng của Người” (3,11.32 tt), là lắng nghe lời Người (5,24 ; 8,43.47 ; 10,16 ; 12,47).
Việc thiết yếu của người Ki-tô hữu là tin vào Đức Giê-su Ki-tô, Đấng Chúa Cha đă sai phái đến (6,29 ; 17,3). Tuy nhiên, đức tin không miễn trừ “việc làm”. Thật vậy, không tác giả Tin Mừng nào nhắc đi nhắc lại các “điều răn” Đức Giê-su dạy và bổn phận “phải giữ” (14,15.21 ; 15,10-12) cho bằng thánh Gio-an. Và, theo Ngài, các điều răn ấy, tóm lại, là t́nh thương và phục vụ anh em, dù phải hy sinh mạng sống (15,13).
Đức tin cũng không miễn trừ các nghi thức bí tích. Những nghi thức ấy thật là hợp lư và cần thiết trong Mầu nhiệm Nhập thể và tôn giáo của Mầu nhiệm này. Chính nhờ nước mà con người được tái sinh (3,3.5 ; tc 9,7 tt). Và chính nhờ ăn thịt Đức Giê-su mà con người có sự sống vĩnh cửu. Dĩ nhiên, không có đức tin, th́ những nghi thức sẽ không có sức ban sự sống (6,63), cũng như không có đức tin, th́ con người không hưởng nguồn nước sống và không lănh nhận Thánh Thần được (7,39). Nhưng, nếu Thánh Thần ban sự sống, th́, đối lại, chính xác phàm cần đến nghi thức và cũng chính xác phàm mới khả dĩ làm cho vinh quang của Ngôi Lời chiếu sáng (1,14) [2].
3. Cánh chung
1) Đức Ki-tô trở lại
Những người Ki-tô hữu đầu tiên tưởng rằng Đức Ki-tô sẽ trở lại nay mai (14,1-3), nên họ mong chờ. Các thư của thánh Phao-lô cũng cho thấy như vậy. Nhưng năm tháng trôi qua mà họ cũng không thấy Người trở lại tức th́. Nên, dù vẫn mong chờ Người trở lại theo nghĩa đen, họ đă thấy Người trở lại theo nghĩa bóng.
a) Người đă trở lại trong ḷng người tín hữu, mặc khải Chúa Cha cho họ và dẫn họ đến cùng Chúa Cha (14,4-11).
b) Người đă trở lại trong những lần Người hiện ra sau khi sống lại (16,16-22).
c) Và, một cách
đặc biệt và lâu dài hơn, Người đă trở lại qua Thánh Thần
: Người sai phái Thánh
Thần đến thay Người
để dẫn đưa Giáo Hội đến cùng Chúa Cha (16,4b-11).
2) Từ cơi chết đến cơi sống
a) Theo quan niệm Do-thái, khi chết, con người biến mất vào âm phủ. Ở đó, con người chỉ là cái bóng không có khả năng suy tư, ước muốn. Sách ngôn sứ Đa-ni-en (12,2) đem cho họ một ánh sáng: sẽ có ngày, những ai trung tín với Thiên Chúa, sẽ được sống lại, Thiên Chúa sẽ trả lại cho thân xác của họ hơi thở sự sống (tc Ed 37, 1-10). Nhưng, trong sách Tin Mừng theo thánh Gio-an, quan niệm về sự con người chiến thắng Tử thần có khác. Ngày từ cơi dương gian, người môn đệ của Đức Giê-su đă được Lời Chúa ở cùng và thông ban sự sống mới (14,21), họ đă được thông phần vào sự sống của Thiên Chúa (3,16 ; 5,24 ; 6,40.47.54 ; 10,28 ; 12,50 ; 17,2). Họ đă từ cơi chết bước vào cơi sống (5,24 ; tc 1Ga 3,14), họ không thể chết được nữa, nghĩa là không thể rơi vào âm phủ và mất cả khả năng suy tư, ước muốn. Hiểu theo nghĩa đó, người môn đệ đă sống lại, v́ họ có Đức Ki-tô là sự sống lại và là sự sống : “ngày sau” không c̣n phải đến nữa, v́ đă đến rồi (11,25-26).
b) Tuy nhiên, tác giả c̣n ghi lại về quan niệm về sự sống lại theo nghĩa của sách ngôn sứ Đa-ni-en. Theo tư tưởng của sách này th́, “ngày sau hết” mọi người sẽ sống lại để được sống hoặc bị phạt theo việc lành hoặc dữ đă làm (5, 27-29 ; Đn 12,1-3) [3]. Sách c̣n giữ vững quan niệm cánh chung nhiều nơi, như khi nói về bánh ban sự sống (6,39.40.44.54) hoặc khi cho ông La-da-rô sống lại (11,25-26).
3) Phán xét
Nói cánh chung th́ phải nói đến phán xét. Sau khi tiên báo việc phán xét thế gian (12,31), Đức Giê-su nói rằng ai không đón nhận Lời Người, th́ sẽ có kẻ phán xét họ (12,48a). Kẻ phán xét họ là Thiên Chúa (12,48a ; tc Đnl 18,19). Nhưng tác giả cũng nói rằng ai không tin, người ấy đă bị phán xét rồi (3,18a). Đó là điều tất nhiên. Nếu người tuân giữ lời Đức Giê-su được sống, th́ trái lại, người khước từ lời Đức Giê-su không được sống, tức là phải chết, phải bị phán xét. Hơn nữa, kẻ phán xét họ không phải là Đức Giê-su (5,22-23), mà chính họ : họ khước từ lời Đức Giê-su, là họ tự phán xét và lên án ḿnh (12,48). Nếu c̣n phải có ngày phán xét (1Ga 4,17), th́ cũng chỉ là đưa ra ánh sáng một thực tại đă có trong ḷng mỗi người (1Ga 3,2).
Tư tưởng vừa nói trên là độc đáo ; tuy nhiên, tác giả vẫn giữ quan niệm truyền thống, là sẽ có ngày cánh chung và, ngày ấy, sẽ có việc phán xét (12,48).
4. Giáo Hội
Thánh Gio-an đề cao, chủ nghĩa cá nhân. Nói vậy cũng không phải là hoàn toàn vô lư, v́ sách tin Mừng của Ngài nhấn mạnh mối tương quan giữa cá nhân và Đức Ki-tô trong niềm tin. Tuy nhiên, nói ngược lại rằng sách Tin Mừng thứ tư nhấn mạnh Giáo Hội, th́ cũng không phải là nói quá.
Đức Giê-su kêu gọi các môn đệ đầu tiên (1,35-51), Người dự lễ cưới tại Ca-na (2,1-11), thánh Gio-an Tẩy giả làm chứng (1,29-36; 3,29-36). Sách bắt đầu bằng những sự việc ấy. Và, như vậy, sách Tin Mừng mở đầu với cái vui ngày cứu độ, như cái vui ngày lễ cưới. Tân lang là Đức Giê-su, Con Thiên Chúa. Trước mặt Người, là Cộng đoàn c̣n nhỏ bé kết hiệp với Người bằng niềm tin. Ngay từ đầu, ông Si-mon đă được gọi là Phê-rô (1,42). Nhóm môn đệ đầu tiên ấy làm thành rường cột được Đức Giê-su tuyển chọn (6,70 ; 13,18 ; 15,16) và đặt riêng ra (15,19) : Giáo Hội đă xuất thân từ đó.
Rồi, trong các tượng trưng của những chương đầu sách, đều có ư niệm về Dân Chúa, như : Đền thờ mới (2,21), Đấng Cứu độ được nâng lên trên cây thập giá như con rắn bằng đồng ngày xưa (3,14), bánh ban sự sống là man-na xác thực, bởi trời thực sự (6,32 tt. 49 tt), sống nước ban sự sống (7,37 tt), ánh sáng dẫn bước người nào tin cậy (8,12). Tất cả những h́nh ảnh ấy nhắc lại những h́nh ảnh cộng đoàn thời sa mạc và gợi lên h́nh ảnh một Ít-ra-en mới dưới h́nh ảnh truyền thống một đoàn chiên Thiên Chúa, do người mục tử nhân hậu dẫn dắt (10,16 ; 21,15-17).
Sự liên hệ giữa Giáo hội và Ít-ra-en cũ c̣n xuất hiện trong tượng trưng gốc nho thứ thiệt. Đây là một trong những tượng trưng truyền thống của dân Ít-ra-en (tc 1S 5,1-7). Nhưng gần như lúc nào tượng trưng ấy cũng ám chỉ dân này bất trung, và trái cây họ dâng lên Thiên Chúa là cay đắng. C̣n, trái lại, Đức Giê-su là gốc nho thứ thiệt. Kết hiệp với Người, Cộng đoàn được Thiên Chúa tuyển chọn để thay thế dân Ít-ra-en xưa (15,16) sẽ sinh hoa kết quả, nghĩa là những việc bác ái mà lúc nào Thiên Chúa cũng trông đợi nơi những kẻ thuộc về Người (15,1-17).
Giáo Hội ra đời chiều ngày Phục sinh, lúc Đức Giê-su thổi hơi vào các môn đệ và ban Thánh Thần [4]. Người sai phái Giáo Hội đến thế gian với quyền năng tha tội (20,19-23). Màn đánh cá nhờ phép lạ tượng trưng sứ mệnh thừa sai của các tông đồ (21,1-14).
V́ là phổ quát, Giáo Hội phải vượt khỏi biên cương của Do-thái giáo (10,16) để đi tới những người kính thờ Thiên Chúa theo thần khí và sự thật (4,25 tt), tập hợp những người con Thiên Chúa đă bị phân tán (11,52), mà dân Sa-ma-ri-a và dân Hy-lạp (12,20 tt) là những dân đầu tiên như của đầu mùa.
Giáo Hội là một xă hội có phẩm trật, và thánh Phê-rô lănh nhận quyền điều khiển (21,15-17). Sáng ngày Phục sinh, người môn đệ được Đức Giê-su thương mến đă tới mộ trước, nhưng không vào trước thánh Phê-rô và, như thế, đă nh́n nhận quyền tối thượng của thánh Phê-rô (20,5 tt).
Giáo Hội sống do niềm tin vào thiên tính của Đức Giê-su (6,69 ; 17,8). Luật pháp và đặc tính của Giáo Hội là t́nh thương và phục vụ anh em (13,12-17.34 tt ; 15,12 tt). Giáo Hội được nâng đỡ nhờ niềm hy vọng Chúa Ki-tô sẽ trở lại (14,3 ; 21,22). Đang khi chờ đợi, Giáo Hội sống an (14,1.27 ; 16,33) vui (15,11 ; 16,20 tt; 17,13), một thứ an vui mà thế gian không biết được.
Nhưng, trước hết, Giáo Hội là
một mầu nhiệm Hiệp nhất (17,20-23).
Chẳng những là hiệp nhất của một cá nhân, một phần chu toàn phận sự của ḿnh,
nhưng là hiệp nhất do sự hiệp thông giữa người và người. Lư tưởng và nguồn gốc
của sự hiệp nhất ấy chính là sự hiệp nhất giữa Chúa Cha và Chúa Con (17,20-23) :
Chúa Cha ở trong Chúa Con và Chúa Con ở trong Chúa Cha (10,38 ; 14,10 ; 17,21).
Giữa Đức Giê-su Phục sinh và những kẻ thuộc về Người, th́ cũng vậy : Người trong
họ và họ ở trong người (6,56 ; 14,20 ; 15,1-7 ; 17,23.26). Nhờ Người ở trong mọi
người và mọi người nên một trong Người và trong Chúa Cha. Chúa Cha và Chúa Con
hiệp nhất với nhau trong t́nh thương. Và, qua Giáo Hội, sự hiệp nhất ấy hiện
diện giữa loài người. Vậy th́, theo Tin Mừng thứ tư, Mầu nhiệm Giáo hội là :
trong Đức Giê-su Ki-tô, mọi người thông phần vào t́nh yêu độc nhất vô song mà,
từ muôn thuở,
Chúa Cha đă dành cho Con một ḿnh (17,26).
Như vậy, Giáo Hội thông phần vào cái
vinh quang cũng như niềm an vui của Chúa Con (1,14 ; 17,22). Chúa Con và Giáo
Hội là một. Cũng như Người, Giáo Hội không thuộc về thế gian này
(15,19 ; 17,14). V́ đó, thế gian ghét Giáo Hội như họ đă ghét chính Người
(15,18-21). Tuy nhiên, nhờ có Thần khí Chân lư,
tức là Đấng bênh vực do Đức Giê-su phái đến (14,16 tt.25 tt ;
16,5-15), Giáo Hội sẽ làm chứng về Người và sẽ làm cho Người được vinh quang
(15,26 tt ; 17,10). Đức Ki-tô mặc khải và đem t́nh yêu của Chúa Cha đối với loài
người cho loài người : công tŕnh ấy được hoàn thành trong Giáo Hội (3,16 ;
17,23.26).
5. Thánh Thần
Trong sách Tin Mừng thứ tư, Thánh
Thần là một trong những đề tài quan trọng. Các sách nhất lăm (nhất là thánh
Mác-cô) nói rất ít về Thánh Thần ; trái lại, thánh Gio-an nói rất nhiều
và một cách độc đáo.
Trong khi thi hành sứ vụ tại dương thế, Đức Giê-su được đầy tràn Thánh Thần và hoạt động với quyền năng Thánh Thần. Tŕnh thuật về sự việc Đức Giê-su chịu phép rửa, chẳng hạn, cho thấy điều ấy. Thánh Gio-an không tường thuật sự việc ấy, có lẽ là để độc giả khỏi lầm tưởng về sự hơn kém giữa Đức Giê-su và thánh Gio-an Tẩy giả mà thôi [5], chứ tác giả cũng biết rằng Thánh Thần có xuống và, hơn nữa, c̣n ở trong Đức Giê-su (Ga 1,33). Chỉ có điều là, trong giai đoạn đầu của sứ vụ, Đức Giê-su không nói ǵ về Thánh Thần : Người chỉ nói và nói rất nhiều khi sắp về cùng Chúa Cha.
Thánh Gio-an ghi lại những điều Đức Giê-su nói về Thánh Thần ở Ga 14,15-17 ; 14,25-26 ; 15,26-27 ; 16,7-11 ; 16,12-15). Trong những bản văn này, có hai điều cần phải nói :
1) Thánh Thần là một Ki-tô khác ;
2) Thánh Thần là Parakletôs.
1) Thánh Thần là một Ki-tô khác
Thánh Gio-an coi Thánh Thần như một Ki-tô khác. Khi Đức Giê-su về cùng Chúa Cha, Thánh Thần sẽ đến thay thế và tiếp tục công tŕnh mặc khải, nghĩa là nhắc lại những ǵ Đức Giê-su đă nói và giúp các môn đệ hiểu một cách đầy đủ hơn (Ga 14,25-26 ; tc 16,12-13). Để nhấn mạnh sự liên tục giữa công tŕnh của Đức Giê-su và công tŕnh của Thánh Thần là một Ki-tô khác, tác giả đă áp dụng cho Thánh Thần những từ ngữ và công thức mà Ngài đă dùng để nói về sứ mệnh và công tŕnh của Đức Giê-su, như : bởi Thiên Chúa mà đến (13,3 và 15,26), được Chúa Cha sai phái (14,26 và 8,42), ở lại với anh em (14,17 và 14,25), dạy dỗ (14,26 và 18,20), không tự ḿnh mà nói nhưng nói những ǵ đă nghe (16,13 và 12,49 ; 8,4).
2) Thánh Thần là Parakletôs
Parakletôs là một từ Hy-lạp. Từ này là động tính từ của động từ parakalêin. Động từ này có 2 nghĩa chính :
a) kêu đến ḿnh ; do đó, kêu cứu, kêu chứng trước ṭa ;
b) khuyên bảo ; khuyến khích ; do đó, an ủi.
Trong Hy-ngữ cổ điển, từ parakletôs luôn luôn có nghĩa pháp luật và thường chỉ luật sư, người được kêu đến bênh vực bên bị trước ṭa án. Chúng ta thử theo dơi ư nghĩa của từ ấy trong văn chương Cựu ước và trong thư của thánh Gio-an, để thấy rơ hơn nghĩa của từ ấy trong sách Tin Mừng của thánh Gio-an.
- Trong văn chương Cựu ước. Từ Hy-lạp
parakletôs đă được phiên âm là peracleita trong văn chương
Do-thái.
Cũng vậy, từ Hy-lạp kategor đă được phiên âm là qateigor. Qateigor
là người nguyên cáo, th́ peraqleita là người luật sư. Nguyên cáo và luật sư là
hai nhân vật trong ṭa án. Theo nghĩa bóng, hai nhân vật ấy cũng có trong ṭa án
Thiên Chúa. Trong Cựu ước, cũng vậy. Ví dụ trong
Dcr 3,1-6, Xa-tan là nguyên cáo, c̣n Thiên Thần
Thiên Chúa là luật sư. Thiên Thần Thiên Chúa,
tượng trưng cho ḷng nhân hậu Thiên Chúa, đă thắng Xa-tan, tượng trưng cho tính
nghiêm khắc trừng trị. Trong Gióp 1,6 tt ; 2,1 tt và 33,23-25, cũng có hai nhân
vật nguyên cáo và Thiên Thần Chúa luật sư với nghĩa như trong Dcr 3,1-6.
- Trong 1 Ga 2,1-2. Bước sang Tân
ước, chúng ta gặp
Kh 12,10-11 và 1 Ga 2,1-2, hai bản văn bổ túc cho nhau
để nói lên cùng một tư tưởng ấy, nhưng trong phối cảnh
Ki-tô giáo. Theo Kh 12,10-12, Xa-tan tố cáo loài người trước ṭa Thiên Chúa. Đó
là tên tố cáo (kategor) của truyền thống và văn chương Do-thái. Tên ấy bị từ
trời nhào xuống đất, v́ người Ki-tô hữu đă được Máu Con Chiên
rửa sạch và, nhờ đó, đă thắng tên ấy. Theo 1 Ga 2,1-2, nếu có ai phạm tội, th́
chúng ta có một parakletôs bên cạnh Chúa Cha, là Đức Giê-su Ki-tô.
Ở đây, phối cảnh thuộc Ki-tô giáo và, hơn nữa, Thiên Thần Parakletôs trong
truyền thống Do-thái hóa thành Đức Ki-tô Parakletôs.
- Trong Ga 14,24-26 ; 15,26-27 ;
16,12-15, Parakletôs lại không phải là Đức Ki-tô như trong 1Ga
2,1-2 nữa, nhưng là Thánh Thần. Hơn nữa, vai tṛ của Thánh Thần Parakletôs
khác hẳn với vai tṛ của Ki-tô Parakletôs. Quả vậy,
Thánh Thần Parakletôs không can thiệp cùng Chúa Cha cho loài người, nhưng là
giảng dạy chân lư cho loài người (14,24-26 ; 16,12-15), làm chứng cùng với các
môn đệ về sự việc Đức Giê-su sống lại (15,26-27), bắt lỗi thế gian bằng cách phi
bác những lư lẽ thế gian đưa ra để khước từ sứ mệnh của Đức Giê-su. Như thế, từ
parakalêin
và parakletôs không c̣n giữ nghĩa kêu luật sư nữa, mà giữ nghĩa “khuyến
khích”.
Khuyến khích cái ǵ ? khuyến khích ai ?
- Trong các văn phẩm của của thánh
Lu-ca và thánh Phao-lô, động từ parakalêin và danh từ paraklesis thường đi
với Thánh Thần. Mà theo các bản văn ấy, Thánh Thần khuyến khích các môn đệ
giữ vững niềm tin, v́ phải
qua gian khổ mới vào Nước Thiên Chúa (Cv 14,22 ;
tc 2 Tx 2,9-12.15.16-17).
- Trong những cách khuyến khích,
có việc giảng dạy
bằng cách chú giải Thánh kinh, như Cv 13,15 cho biết. Tại An-ti-ô-khi-a
xứ Pi-xi-đi-a, vào ngày sa-bát, thánh Phao-lô đến một Hội đường cầu nguyện. Sau
phần đọc Luật Mô-sê và sách Ngôn sứ, các viên chức hội đường cho người nói với
nhóm thánh Phao-lô : “Nếu anh em có lời paraklesis nào muốn nói, th́
xin nói”. Bấy giờ, thánh Phao-lô, đại khái, nói là ơn cứu độ mà, xưa kia,
Thiên Chúa đă hứa ban, và Luật Mô-sê cũng như các ngôn sứ đă tiên báo th́, ngày
nay, Đức Giê-su đă thực hiện. Đó là paraklesis thường có sau phần đọc Thánh
kinh. Mà, như thế, paraklesis là giảng dạy. V́ thế mà, như đă nói trên, một
trong các vai tṛ của Thánh Thần là giảng dạy.
- Công việc thứ ba của Thánh Thần là
bắt lỗi thế gian :
thế gian đưa ra nhiều lư lẽ để khước từ sứ mệnh của
Đức Giê-su ; Thánh Thần sẽ phi bác các lư lẽ ấy. Nói rơ hơn, th́ Thánh Thần bắt
lỗi ai ? về tội ǵ ? Trong các thư của thánh Phao-lô, động từ êlêgkhêin (bắt
lỗi, biện bác) thường đi đôi với động từ parakalêin (khuyến
khích). Trong Tt 1,9, chẳng hạn, tác giả bảo người giám sự phải nắm giữ giáo
điều, để vừa khuyến khích (parakalêin) vừa biện bác (êlêgkhêin) những người
chống đối. Những người chống đối này là những người dạy những việc sai lầm
(1,11). Ông Ti-tô, với tư cách là giám sự, phải biện bác (êlêgkhêin), để tín hữu
giữ vững niềm tin, đừng nghe theo những chuyện hoang đường thất thiệt (Tt
1,13-14 ; tc 2,1.15 ; 2Tm 4,1-2)
Nói tóm lại, theo những bản văn Ga 14,15-17 ; 14,25-26 ; 15,26-27 ; 16,7-11 ; 16,12-15, th́ Thánh Thần đóng vai tṛ giảng dạy (14,26), dẫn đưa loài người trên đường chân lư (16,13), và làm chứng cho sự việc Đức Giê-su sống lại (15,26) và bắt lỗi thế gian để tín hữu giữ vững niềm tin (16,8.11).
Trong những bản văn nói trên, phải
quan tâm một chút
đến Ga 14,15-23. Trong bản văn này, tác giả tuần tự nói về
Chúa Thánh Thần, Chúa Ki-tô và Chúa Cha. Chúa Thánh Thần, Chúa Ki-tô và Chúa Cha
được tŕnh bày song song như Ba Ngôi khác nhau, nhưng kết hiệp với nhau chặt
chẽ. Đoạn văn này là một trong những đoạn văn nói về Ba Ngôi một
cách rơ ràng nhất trong toàn bộ Tân ước.
6. Người môn đệ tuyệt hảo
Môn đệ là người đi theo Đức Giê-su (1,43). Nhưng phải biết rằng, trước hết, Chúa Cha có dẫn đến, nghĩa là dạy dỗ và chỉ cho (6,45), con người mới đến cùng Đức Giê-su được (6,37.44-48; 17,2.9.24) [6]. Thánh Gio-an Tẩy giả rao giảng ; Đức Giê-su cũng rao giảng. Nếu thiên hạ đến với Đức Giê-su, th́ đó là Thánh ư Chúa Cha. Người ban cho họ ân huệ làm môn đệ Đức Giê-su. Người ban cho Đức Giê-su được có các môn đệ (3,27) [7].
Nhưng, sau khi được ân huệ, người môn đệ cũng phải có những điều kiện tối thiểu. Ngay trong tŕnh thuật về việc Đức Giê-su gọi các môn đệ đầu tiên (1,35), tác giả đă nêu lên những đặc tính của người môn đệ. Họ t́m Đức Giê-su và gặp được Người. “T́m” và “gặp”, họ đi theo Người và ở với Người. “T́m” và “theo” là hai điều kiện của người môn đệ. “Gặp được” và “ở với” là phần thưởng của người môn đệ. Về điểm này, hai môn đệ An-rê và Phi-líp-phê (nếu không phải là Gio-an), cũng như cô Ma-ri-a Mác-đa-la, là những mẫu người môn đệ: họ đă t́m và đă gặp, họ đă theo và đă ở với Đức Giê-su (1,35-39).
Người môn đệ, theo Đức Giê-su v́ đă nhận ra Người là vị Thầy tuyệt đẳng, rồi tin theo. Họ tin, v́ thánh Gio-an Tẩy giả làm chứng, giới thiệu (1,7), v́ họ thấy những dấu lạ Đức Giê-su làm (11,41-42) và, sau hết, v́ họ thấy mồ trống và tin chắc rằng Đức Giê-su đă sống lại (20,8). Họ tin Đức Giê-su là Đấng Thiên Chúa phái đến thế gian, là vị Ngôn sứ (viết hoa). V́ người môn đệ nhận ra và đi theo, nên Đức Giê-su so sánh họ như con chiên : con chiên nhận ra tiếng ông chủ và theo ông chủ, chứ không theo một ai khác. Về điểm này, người mù vừa thuở mới sinh là mẫu người môn đệ: khác với nhóm chính quyền tôn giáo Do-thái Giê-ru-sa-lem, anh ta nhận ra Đức Giê-su và chọn Người thay v́ chọn ông Mô-sê; đối với anh, Đức Giê-su là ông Mô-sê mới.
Người môn đệ lắng nghe lời Đức
Giê-su, rồi c̣n đem ra thực hành.
Theo thánh Gio-an, tin không phải chỉ là tiếp thu một số chân lư trừu tượng, mà
là đón nhận lời Đức Giê-su là lời của Thiên Chúa và nhất là đem ra thực hành
triệt để. Đức Giê-su đă tuân giữ các điều răn Chúa Cha ban và, v́ thế, đă ở
trong t́nh thương của Chúa Cha. Cũng vậy, người môn đệ phải tuân giữ
các điều răn Đức Giê-su ban và, v́ thế, sẽ ở trong t́nh thương của Đức Giê-su
(15,9-10). Về điểm này, Đức Giê-su là mẫu người môn đệ tuyệt hảo.
Người môn đệ thực hành các điều răn Đức Giê-su dạy. Nhưng các điều răn ấy được tóm lại trong điều răn “yêu thương anh em” (15,12-14). V́ thế, t́nh thương đối với anh em là dấu chỉ ai là người môn đệ hoàn hảo của Đức Giê-su (13,34-35). Hơn nữa, có yêu thương nhau, Đức Giê-su mới yêu thương ḿnh (15,9-10). Về điểm này, thánh Gio-an Tông đồ là mẫu người môn đệ. Đức Giê-su được Chúa Cha thương mến, được ở trong ḷng Chúa Cha và sẽ tỏ cho chúng ta thấy Chúa Cha (1,18). Th́, cũng vậy, người môn đệ mà sách Tin Mừng thư tư gọi là “người Đức Giê-su thương mến” cũng đă được tựa đầu vào ḷng Đức Giê-su, đă cho thánh Phê-rô biết là “Thầy” khi Đức Giê-su hiện ra ở biển hồ Ti-bê-ri-a (21,7) và, trong bữa Tiệc ly, đă làm trung gian để biết ai sẽ nộp Thầy (13,25), ...
Như vậy, người môn đệ sẽ t́m lại được sự sống (5,24 tt) và, do đó, sẽ không bao giờ phải chết (6,31 tt). Từ nay, Đức Giê-su Phục sinh sẽ tỏ ḿnh cho họ (14,21) và cho họ thông phần vào hạnh phúc trên trời (13,8), vào Vương quyền của Người, một Vương quyền không thuộc về thế gian này (18,36), nhưng thuộc về thế giới thần linh (8,23).
7. Đức Giê-su là ai ?
Ở Ga 1,19-51, tác giả kể một số tước hiệu của Đức Giê-su. Đó là :
Chiên Thiên Chúa (1,19.36 ; tc 19,36).
Đấng Thiên Chúa tuyển chọn
và, do đó, cũng là Người tôi trung của Thiên Chúa
(1,34 ; tc 19,1-3 ; Is 42,1-2).
Ráp-bi, nghĩa là tôn sư (1,38),
Mê-si-a, nghĩa là Đấng Ki-tô (1,41 ; 4,25-26 ; 11,27),
Giê-su, người Na-da-rét (1,45),
Con Thiên Chúa (1,49),
Vua dân Ít-ra-en (1,49), Con Người (1,51).
Nhưng tước hiệu h́nh như chính yếu đối với tác giả, đó là vị Ngôn sứ tuyệt đẳng, được ông Mô-sê tiên báo trong sách Luật (Đnl 18,18).
Ông Phi-líp-phê quả quyết với ông Na-tha-na-en là đă gặp được vị Ngôn sứ sách Luật đă tiên báo (1,45), nghĩa là vị Ngôn sứ Thiên Chúa đă hứa ngày xưa (Đnl 18,18). Chị người Sa-ma-ri-a cũng nhận thấy như vậy (4,19). Thấy phép lạ Đức Giê-su làm, chính dân chúng đă, trên một lần, nhận ra rằng Đức Giê-su là vị Ngôn sứ, Đấng phải đến thế gian (6,14 ; 7,46). Và chính tác giả của sách Tin Mừng thứ tư cũng tin chắc Đức Giê-su là ông Mô-sê của thời đại. V́ quan tâm đến tư tưởng ấy, tác giả thường để ư đến những lời nói hoặc việc làm có liên quan. Dưới đây, chúng ta thử đưa ra một vài bằng chứng.
Đức Giê-su chuyển đạt cho loài người “những lời của Thiên Chúa” (3,34 ; 5,30 ; 6,38 ; 8,26.40b ; 14,10). Và Người đề nghị cho nhân loại hai con đường đối nghịch là sống và chết, tùy theo nhân loại đón nhận hoặc từ khước (5,24.30). Mà ông Mô-sê cũng đă chuyển đạt “những lời của Thiên Chúa” (Đnl 18,18), cũng đề nghị hai con đường sống và chết (Đnl 30,15-20).
Làm sao biết rằng đó là lời của Thiên Chúa ? Thưa có phép lạ làm bằng chứng rằng Đức Giê-su là người của Thiên Chúa (3,2), đến từ Thiên Chúa (9,30.33). V́ thế, thấy phép lạ, dân chúng theo Người (6,2), nhận ra Người là vị Ngôn sứ (6,14). Và cũng v́ thế, không tin là tội tầy trời, vô phương chạy chọt (15,22-24) và đưa đến sự chết (8,21.24). Ba phép lạ Đức Giê-su làm đầu tiên là :
Hóa nứơc ra rượu tại Ca-na (2,1-11),
Chữa bệnh con một sĩ quan (4,46)
Và cho lưới đầy cá (21,6) [8].
Ba phép lạ ấy làm chứng rằng Người có sứ mệnh. Mà, ngày xưa, ông Mô-sê cũng phải làm ba phép lạ, để làm chứng rằng ông được Thiên Chúa sai phái (Xh 4,1-9). Ba phép lạ ấy là : gậy hóa rắn, tay bị hủi và nước hóa máu.
Và cũng v́ thế mà ư nghĩa của phép lạ trong sách Tin Mừng thư tư khác với ư nghĩa trong các sách nhất lăm. Đúng vậy, trong các sách nhất lăm, phép lạ đi sau niềm tin như hậu quả đi sau nguyên nhân và là phần thưởng của niềm tin (Mc 5,36 ; 9,23-24 ; 11,23 ; Mt 8,13 ; 9,28 ; Lc 8,50). “Ḷng tin của con đă cứu chữa con” là một công thức rất quen thuộc trong sách nhất lăm (Mc 5,34 ; 10,52 ; Mt 9,22 ; Lc 7,50 ; 8,48 ; 17,19). Trong sách của thánh Gio-an, th́ phép lạ đi trước và khơi dậy niềm tin, nhằm chứng minh rằng Đức Giê-su là vị Ngôn sứ Thiên Chúa sai phái (7,4), là Tân Mô-sê dẫn đầu cuộc Tân Xuất hành, để đưa loài người về cùng Chúa Cha.
Về mối tương quan giữa phép lạ và niềm tin, sách Tin Mừng thứ tư có uyển chuyển một chút v́ thế hệ sau này. Thấy phép lạ, thiên hạ tin ; nhưng chúng tôi không thấy phép lạ, th́ làm sao chúng tôi tin ? Tác giả trả lời rằng: phải tin, mới được thấy phép lạ. Đồng ư rằng thấy phép lạ, thiên hạ mới tin (11,26) ; hơn nữa, chúng ta tin ông Gio-an Tẩy giả v́ ông đă thấy Thánh Thần ngự xuống trên Đức Giê-su và ông đă làm chứng (1,33-34), chúng ta tin người môn đệ Đức Giê-su thương mến v́ ông đă thấy máu cùng nước từ cạnh sườn chảy ra và ông đă làm chứng (19,35). Nhưng một đức tin như thế thật là yếu ớt, nhất là một đức tin phát xuất từ phép lạ “bánh hóa nhiều” (6,14-26). V́ thế mà Đức Giê-su đă nói rơ ràng khi khiển trách thánh Tô-ma : “Phúc thay những người không thấy mà tin” (Ga 20,29). Họ có phúc, v́ họ không đ̣i hỏi và, đối với họ, Lời Chúa không kém ǵ phép lạ (5,39 ; 15,22-24), lại c̣n hơn hẳn phép lạ : hôm ấy, các người Sa-ma-ri-a bảo người phụ nữ : “Không phải v́ lời chị kể lại mà chúng tôi tin; chính chúng tôi đă nghe và biết rằng Người thật là vị Cứu tinh của trần gian” (4,42).
Nói tóm lại, Đức Giê-su là vị Ngôn sứ tuyệt đẳng, vượt hẳn các ngôn sứ kể cả ông Mô-sê, Người là sự Khôn ngoan (viết hoa) và là Lời của Thiên Chúa [9].