TIN MỪNG
CHÚA GIÊ-SU KI-TÔ
THEO THÁNH GIO-AN

(dẫn vào và chú giải)

TANILA HOÀNG ĐẮC ÁNH

Ḍng Đa-minh

Sài-g̣n 1996

 

III. BỐ CỤC

1. Thứ tự của bản văn

Khi đọc sách Tin Mừng thứ tư, chúng ta thấy thứ tự các sự việc nhiều khi khó hiểu. Chỗ khó hiểu hơn hết là các chương IV, V, VI và VII. Ở chương IV, Đức Giê-su tránh xung đột với nhóm Pha-ri-siêu miền Giu-đê và, do đó, Người về hoạt động ở miền Ga-li-lê (4,1-3,43). Người vừa về Ga-li-lê th́, theo chương V, Người lại quật lên Giê-ru-sa-lem mừng lễ (5,1). Nhưng, theo chương VI, th́ Người đang ở Ga-li-lê, dường như Người không có lên Giê-su-sa-lem (6,1). Sau hết, ở chương VII, Người c̣n lên Giê-ru-sa-lem một lần nữa và tranh luận với dân Do-thái về chuyện Người đă chữa anh tê liệt (7,19-24 ; tc 5,8-18), dường như Người chẳng gặp sự chống đối nào cả.

Chỗ khó thứ hai là thứ tự các chương XIV và XV-XVII. Ở cuối chương XIV, Đức Giê-su nói : “Hăy đứng dậy! Ta đi khỏi đây nào!”. Nhưng, ở đầu chương XV, chúng ta không thấy Người và các môn đệ ra đi ; trái lại, Người c̣n nói một bài dài đến ba chương (XV, XVI và XVII) không liên hệ ǵ đến chương XIV và, đến chương XVIII, chúng ta mới thấy Đức Giê-su và các môn đệ đi ra ...

Trong sách, c̣n nhiều chỗ khó hiểu khác nữa.

V́ thế, các nhà huấn hỗ, công giáo và không công giáo, giả thuyết rằng thứ tự đầu tiên của sách Tin Mừng thứ tư đă bị xáo trộn v́ có một số tờ, số đoạn bị sắp sai chỗ. Và họ cũng đề nghị nên sắp lại một vài chỗ như sau :

1) 3,21; 3,31-36 ; 3,22-30 ; 4,1 ; v.v...

2) 4 ; 6 ; 5 ; 7 ; v.v...

3) 9 ; 10,19-29 ; 10,1-18 ; 10,30 ; v.v...

4) 12,36a ; 12,44-50 ; 12,36b-43 ; 13 ; v.v...

5) 13,31a ; 14,32-16,33 ; 13,31b-14,31 ; 17 ; v.v... [1].

Các nhà Thánh kinh c̣n đưa ra một lối cắt nghĩa khác. Những dị thường của bản văn có thể là do cách sáng tác và xuất bản. Các đoạn văn của sách Tin Mừng thứ tư không cùng một loạt. Sách ấy là một công tŕnh dài hạn, gồm nhiều đoạn được viết, rồi sửa, thêm, lập lại và biên soạn qua nhiều giai đoạn khác nhau. Chẳng hạn, hai chương XV và XVI là phần thêm và là dị bản của diễn văn sau bữa tiệc ly : có thể là tác giả đă bỏ hai chương ấy xen vào sách sau chương XIV mà không bận tâm đến mạch văn.

Nhưng cũng có thể là chính tác giả đă không coi lại bản văn lần cuối cùng trước khi xuất bản. Và, lúc chết, tác giả đă để lại tác phẩm thế nào, các môn đệ đă xuất bản y như vậy. Vả lại, tác giả c̣n để lại những mảnh văn. V́ không muốn đánh mất những mảnh ấy, các môn đệ đă giữ lấy hoặc bỏ xen vào sách mà không quá bận tâm đến mạch văn. Có lẽ đó là trường hợp của Ga 12,44-50, một đoạn văn không ghi ngày, chỗ, cả thính giả cũng không. Và Ga 3,31-36, cũng vậy.

2. Bố cục

Sách Tin Mừng thứ tư phức tạp và phong phú : chỉ đếm những bố cục các nhà Thánh kinh đưa ra, là đủ thấy :

Bố cục dựa trên niên biểu và địa dư.

Bố cục văn kịch từng màn đưa đến cuộc Thương khó.

Bố cục dựa trên số tốt, như số 3 và số 7.

Như vừa nói trên, sách Tin Mừng thứ tư không phải là cuốn sách được viết cùng một loạt : nhiều đoạn mới được xen vào sau và, trong nhiều chỗ, thứ tự của các đoạn cũng không chắc là như lúc đầu. V́ những lẽ ấy, tất cả những bố cục nói trên đều hữu lư ít nhiều.

Theo quan niệm chúng tôi, muốn phác họa hoặc, nói đúng hơn, khám phá bố cục của sách Tin Mừng thứ tư, thiết tưởng phải bắt đầu từ điểm khách quan nhất : đó là đặc tích của sách. Mà, như đă nói trên, đặc tính ấy là loan báo Tin Mừng. Nên bố cục của sách, trước hết, phải là bố cục nhằm việc loan báo Tin Mừng, phải là bố cục của sứ mệnh đầu tiên.

Trong khung cảnh Tin Mừng được loan báo, các sách Tin Mừng nhất lăm đă khai triển những sinh hoạt của Đức Giê-su tại miền Ga-li-lê và thu gọn các sinh hoạt của Người tại Giê-ru-sa-lem vào trong một tuần và kết thúc tuần bằng cuộc Thương khó. Đằng khác, các tác giả tŕnh bầy đời sống công khai của Chúa Giê-su mỗi người theo phương diện của ḿnh : thánh Mát-thêu tŕnh bầy đời sống của Người qua năm bài giảng để tŕnh bầy năm khía cạnh chính yếu của Nước Trời. Thánh Lu-ca th́ tŕnh bầy qua những hành tŕnh chính yếu của Đức Giê-su.

C̣n thánh Gio-an th́ chỉ tŕnh thuật các sinh hoạt của
Đức Giê-su tại Ga-li-lê vào chương VI. Tất cả các yếu tố quan trọng của các sinh hoạt này, là : Đức Giê-su làm phép lạ giữa những đám đông theo Người (6,2.5) ; thiên hạ hy vọng Người là Đấng Cứu độ v́ thấy phép lạ Người làm (6,14 tt) ; dân chúng không hiểu Người nổi (6,26), c̣n đa số môn đệ cũng hiểu lầm nên lẩm bẩm (6,41), bỏ cuộc và ra đi (6,52.60.66) nhưng các tông đồ th́ lại tin xưng (6,67-69), nên Đức Giê-su tiên báo cho các ngài cuộc Thương khó (6,70 tt).

Ngoài ra, sách Tin Mừng thứ tư tập chung tất cả tŕnh thuật của ḿnh vào các sinh hoạt của Đức Giê-su tại Giê-ru-sa-lem. Mà các nét chính của tŕnh thuật là các ngày lễ phụng vụ Do-thái, là : ba lễ Vượt Qua (2,13 ; 6,4 ; 11,55), một lễ không được xác định, có lẽ là lễ Ngũ tuần (5,1) [2], một lễ Lều (7,2) và một lễ Cung hiến (10,22).

Những lễ ấy như là những móc nối, những khâu thiết yếu của sách Tin Mừng thứ tư.

Hoạt động công khai được một tuần, Đức Giê-su lên Giê-ru-sa-lem mừng lễ Vượt qua (2,13). Trong đại lễ này, Người thanh tẩy Đền thờ, để nói rằng chính thân xác Phục Sinh, thân xác “Vượt qua” của Người, mới là Đền thờ thực sự. Dân Do-thái bắt đầu tranh luận (2,18.20).

Nhân dịp một đại lễ (5,1), có lẽ là lễ Ngũ tuần, Đức Giê-su lại lên Giê-ru-sa-lem. Năm ấy, lễ ấy rơi vào ngày Sa-bát. Dù vậy, Người đă chữa một anh tàn tật, để dạy rằng dù là ngày Sa-bát, Người vẫn làm việc theo gương Chúa Cha là Đấng luôn luôn điều hành và xét xử vũ trụ [3]. Nhưng dân Do-thái không chịu hiểu và bắt đầu chống đối (5,16.18).

Trong dịp một lễ Vượt qua sắp đến (6,4), Đức Giê-su làm bánh hóa nhiều để nuôi dân chúng và, đồng thời, dạy rằng bánh lễ Vượt qua Người sắp ban tặng mới là bánh ban sự sống. Nghe vậy, dân chúng tranh luận (6,52), môn đệ cũng xầm x́ (6,66).

Rồi đến lễ Lều (7,2) Kỷ niệm những năm tổ tiên It-ra-en sống trong Sa mạc (Lv 23,42-43). Trong những ngày lễ ấy có nghi thức múc nước ở hồ Si-lo-a và nghi thức chưng đèn. Nhân dịp ấy Đức Giê-su nói Ngài là nguồn nước (7,37-39), là ánh sáng (8.12,9,1-41) và, theo truyền thống [4] lễ này c̣n nhắc lại chuyện tổ phụ Áp-ra-ham vui mừng khi nghe I-xa-ác sẽ ra đời (St 17,17 ; 21,6) và, v́ thế, niềm vui mừng chờ mong Đấng Cứu độ là một điểm nổi của ngày lễ (Đnl 16,13-15). Nhân dịp lễ Lều nói trên, Đức Giê-su dạy rằng Người là nguồn vui ấy (8,56) [5] và, đồng thời, mặc khải Người là ai (8,58). Lần này, dân chúng định ném đá Người, nhưng Người đă tránh đi (8,59).

Sau đó là lễ Cung hiến (10,22), nhắc lại sự thanh tẩy Đền thờ sau khi bị vua An-ti-ô-khô Ê-pi-phan xâm phạm (tc 1 Mcb 4,36-59) và, do đó, nhắc lại lần giải phóng dân tộc năm 164/163 tcn. Nhân dịp lễ Cung hiến này, Đức Giê-su c̣n đương đầu với dân Do-thái. Không chấp nhận lời Người, họ lại định ném đá (10,31). Họ càng quyết tâm giết Người khi thấy Người cho ông La-da-rô sống lại và khơi dậy niềm tin nơi dân chúng. Theo tinh thần ngày lễ, họ đă quyết tâm như thế, kẻo đế quốc Rô-ma đem quân dẹp loạn, giết hại đồng bào. Nhưng, trên b́nh diện thiêng liêng, thế là Đức Giê-su được thánh hiến và chịu chết cho dân khỏi bị Thiên Chúa công minh trừng phạt (10,36 ; 11,51).

Tiếp đến là lễ Vượt qua (11,55). Trong đại lễ này,
Đức Giê-su chịu chết và chết như Con Chiên Vượt qua, v́ họ không đánh dập một xương nào (19,36).

Sau hết là ngày Phục sinh (20,1), lễ Vượt qua của Giao ước mới, đem lại cho loài người chiến thắng tử thần (20,8-9) và sự sống vĩnh cửu (20,31).

Như thế, chúng ta có thể đưa ra một bố cục :

Lời tựa (1,1-18)

 I. Đức Giê-su hoạt động (1,19 - 12,50)

1. Lễ Vượt qua đầu tiên.

            Sự sống vĩnh cửu (1,19 - 4,54)

2. Lễ Ngũ tuần (?)

            Cuộc chống đối thứ nhất (5,1-47)

3. Lễ Vượt qua

            Cuộc chống đối thứ hai (6,1-71)

4. Lễ Lều

            Cuộc chống đối thứ ba (7,1 - 10,21)

5. Lễ Cung hiến

            Nghị án giết Đức Giê-su (10,22 - 11,54)

6. Lễ Vượt qua

            Thi hành nghị án (11,55 - 19,42)

II. Giờ của Đức Giê-su (13,1 - 20,29)

            a) Tiệc ly (13,1 - 17,26)

            b) Thương khó (18,1 - 19,42)

7. PHỤC SINH (20,1-29)

Kết thúc (20,30-31)

Phụ chương (21,1-25)

Như vậy, đối với chúng ta, là bảy lễ.

Tại sao bảy lễ ? Có phải chăng thánh Gio-an chơi số như người ta chơi chữ ? Nói cách khác, theo biểu tượng Do-thái, th́ số bảy là số viên măn. Mà, qua bảy ngày đại lễ, Đức Giê-su đă sống, đă hoạt động và đă thực hành nhiệm vụ cứu độ một cách vẹn toàn. Nên có thể đó là ư nghĩa thánh Gio-an muốn nói bằng cách tŕnh bày sứ vụ cứu độ của Đức Giê-su qua bảy ngày lễ. Chúng ta càng có lư để kết luận như thế, khi nhớ rằng thánh Gio-an thường dùng biểu tượng mà nói lên ư nghĩa.

Dầu sao, từ một sơ đồ như trên, chúng ta phải đi đến kết luận này, là : cho đến nay, Do-thái giáo được diễn tả bằng những h́nh thức hoặc những tổ chức, như : Đền thờ, ngày Sa-bát, các đại lễ, nghi lễ và hy lễ. Th́, từ nay, nhờ Đức Giê-su, đạo ấy phải đi đến tột điểm là phượng thờ theo thần khí và sự thật (4,24). Nền phụng tự ấy, chính Đức Giê-su là hiện thân. Và, muốn đạt tới tột điểm ấy, con người phải tái sinh, thay đổi năo trạng và đường hướng.

IV. SÁCH TIN MỪNG THỨ TƯ
        VÀ CÁC SÁCH NHẤT LĂM.

Sách Tin Mừng thứ tư cũng là sách Tin Mừng như ba sách Tin Mừng nhất lăm, nhưng có nhiều tài liệu mới mẻ, và, nhiều khi, khác hẳn. Vậy th́, đâu là mối tương quan giữa sách Tin Mừng thứ tư và các sách Tin Mừng kia ?

1. Đối với các sách nhất lăm nói chung

Về mặt văn chương, sách Tin Mừng thứ tư có liên quan ǵ với các sách Tin Mừng nhất lăm ? Về câu hỏi này, các nhà Thánh kinh có nhiều ư kiến khác nhau và đôi khi mâu thuẫn.

Những công tŕnh mới nhất cho thấy rằng vấn đề thật là phức tạp. Có nhiều triệu chứng cho thấy rằng thánh Gio-an có biết các truyền thống nhất lăm. Chẳng hạn, có nhiều sự việc quan trọng, nhưng ngài lại bỏ qua hoặc ám chỉ và, hơn nữa, c̣n xác định. Những sự việc quan trọng ngài bỏ qua, là : Đức Giê-su chịu phép rửa, Đức Giê-su lập phép Thánh Thể. Và những sự việc Ngài ám chỉ mà thôi, là : nguyên quán của Đức Giê-su, là Na-da-rét (1,45 ; 6,42 ; 7,41.52 ; 19,19), thánh Gio-an Tẩy giả bị bỏ tù (3,24), Đức Giê-su làm nhiều phép lạ (2,23 ; 6,2 ; 7,3 tt ; 11,47 ; 20,30). Đức Giê-su tuyển chọn các môn đệ (6,70 ; 15,16 ; 20,24), ông Giu-đa nộp Thầy (6,64 ; 12,6 ; 13,2.27 tt). Sau nữa, có nhiều trường hợp theo đó tác giả sách Tin Mừng thứ tư muốn xác định hoặc bổ túc truyền thống nhất lăm, ví dụ : tác giả nói Đức Giê-su đă bắt đầu hoạt động lúc thánh Gio-an Tẩy giả c̣n hoạt động
(3,2 tt), hoặc khi tác giả viết Đức Giê-su chịu Thương khó ngày 14 tháng Ni-san (18,28 ; 19,31) và bị án giờ thứ sáu (19,14). Nhất là khi tác giả nhắc đến ba (hoặc bốn) lễ Vượt qua, và phụ diễn các sinh hoạt của Đức Giê-su tại Giê-ru-sa-lem.

Nhưng các nhà nghiên cứu cũng thấy rằng sách Tin Mừng thứ tư đúng là độc lập và độc đáo. Sách Tin Mừng thứ tư và sách Tin Mừng thánh Lu-ca có liên quan với nhau (chúng ta sẽ trở lại vấn đề này) và những đoạn nói về các cuộc bách hại trong diễn văn sau Tiệc ly (15,18 - 16,4) và trong diễn văn cánh chung của các sách nhất lăm cũng có nhiều điểm giống nhau. Nhưng, ngoài ra, mối tương quan về văn chương giữa sách Tin Mừng thứ tư
và các sách nhất lăm chỉ c̣n ở một vài chỗ mà thôi.

Thứ nhất, ở một vài châm ngôn đanh thép, như : “ngôn sứ không được tôn trọng nơi quê nhà” (4,44), “tôi tớ không cao trọng hơn ông chủ” (13,16 ; 15,20), “ai đón nhận người Thầy sai đến, là đón nhận Thầy ; và ai đón nhận Thầy, là đón nhận Đấng đă sai Thầy” (13,20).

Thứ hai, ở một vài bản văn Cựu Ước được dẫn, nhân một vài sự việc quan trọng, như : Is 40,3 nhân chuyện thánh Gio-an Tẩy giả (1,23), Dcr 9,9 nhân việc Đức Giê-su vào thành Giê-ru-sa-lem (12,15), Is 6,9 tt nhân sự dân Do-thái cứng đầu (Ga 1,2,40).

Ngay trong những tŕnh thuật mà cả thánh Gio-an và các tác giả nhất lăm đều có, ví du : các người buôn bán bị đánh đuổi khỏi Đền thờ (2,13-22), bánh hóa ra nhiều (6,1-21), bữa ăn tại Bê-ta-ni-a (12,1-8), Đức Giê-su vào thành Giê-ru-sa-lem (12,12-19), th́ sách của thánh Gio-an có nhiều điểm khác.

H́nh như thánh Gio-an nghe biết sự việc qua một nguồn khác. Bởi vậy, cho dù thánh Gio-an có biết các sách nhất lăm và tham chiếu, bổ túc hay xác định đôi chỗ đi nữa, th́ thánh Gio-an vẫn không lệ thuộc. Nên, đối với sử gia, sách Tin Mừng thứ tư phản ảnh một sử liệu độc lập, một chứng nhân chính nguồn của truyền thống sơ khai. Có tác giả c̣n cho rằng thánh Gio-an hiểu biết sự việc một cách sâu xa và phản ảnh truyền thống dưới nhiều h́nh thức xưa nhất.

2. Đối với sách Tin Mừng của thánh Lu-ca

C̣n về mối tương quan giữa hai sách Tin Mừng của hai thánh Gio-an và Lu-ca, công tŕnh nghiên cứu cho tới nay, tuy chưa được đầy đủ, nhưng cũng đă cho thấy rằng hai tác giả có nhiều điểm giống nhau. Ví dụ : thánh Lu-ca cũng như thánh Gio-an chỉ có một tŕnh thuật về việc Đức Giê-su hóa bánh ra nhiều [6]. Hơn nữa, hai tác giả gắn liền việc Đức Giê-su hóa bánh ra nhiều với việc thánh Phê-rô tuyên xưng đức tin (Lc 9;10-20 ; Ga 6,1-69)  [7]. Nghĩa là, khác với hai thánh Mát-thêu và Mác-cô, hai thánh Luca và Gio-an không đặt hành tŕnh của Đức Giê-su ra ngoài nước giữa hai sự việc (tc Mt 14,22-16,12 và Mc 6,45-8,26) [8]. Một vài ví dụ nữa, là : Đức Giê-su quí mến hai chị em Mát-ta và Ma-ri-a (Lc 10,38-42 ; Ga 11,1 tt ; 12,1 tt), Hai thánh Phê-rô và Gio-an thường đi đôi với nhau (Lc 8,51; 9,28 ; 22,8 ; Ga 13,23 tt ; 18,15 tt ; 20,3-9 ; 21,7.20 tt ; tc Cv 1,13 ; 3,1 tt.11 ; 4,13.19 ; 8,14), vai tṛ của Xa-tan trong vụ Giu-đa nộp Thầy (Lc 22,3 ; Ga 13,2.27), nhiều nét trong các tŕnh thuật về Thương khó và Phục sinh như : thiên thần an ủi (Lc 22,44 và ss.), tai bên phải của tên đầy tớ (Lc 22,50 và ss.), ông Phi-la-tô muốn thả (Lc 23,20) ... , sự Đức Giê-su thăng thiên được coi như là sự kiện kết thúc sứ mệnh của Đức Giê-su tại trần thế (Lc 9,51 ; 24,50 tt ; Ga 6,62 ; 13,1 ; 20,17), Thánh Thần được công bố cho các môn đệ như một hồng ân Chúa Cha sẽ ban xuống v́ lời cầu của Đức Ki-tô Phục sinh và được tôn vinh, ... Những điểm chung ấy thuộc nhiều lănh vực khác nhau, như : thần học, lịch sử, văn chương, ...

Nhưng điều đáng chú ư là ảnh hưởng giữa hai tác giả h́nh như không phải một chiều. Cũng không chắc là thánh Lu-ca ảnh hưởng đến thánh Gio-an nhiều hơn, như người ta đă có lúc lầm tưởng. Trái lại, có lẽ là thánh Gio-an hoặc truyền thống của thánh Gio-an ảnh hưởng đến thánh Lu-ca nhiều. Thật vậy, trong những điểm giống nhau, có nhiều điểm là những quan niệm đặc thù của thánh Gio-an, thuộc hợp đề thần học của thánh Gio-an. H́nh như, khi điều tra, về đời sống của Đức Ki-tô (Lc 1,1-4), thánh Lu-ca
đă thu thập các truyền thống của thánh Gio-an và đă dựa vào
tác phẩm của ḿnh. Nói thế, tức là nói đă có một truyền thống
Tin Mừng của thánh Gio-an và truyền thống ấy đă được làm thành từ xưa, trước khi sách Tin Mừng thánh Gio-an được biên soạn và xuất bản lần chót. Rồi, trong h́nh thức cuối cùng, sách của thánh Gio-an có bị ít nhiều ảnh hưởng của thánh Lu-ca hoặc, ít ra, đă để ư đến sách của thánh Lu-ca [9]. Điều này chúng ta thấy được là nhờ một đôi đặc ngữ của thánh Lu-ca, một vài chỗ trong đó sách của thánh Gio-an muốn ám chỉ hoặc xác định để bổ túc một tŕnh thuật của sách Tin Mừng thánh Lu-ca, ví dụ : tên làng của hai cô Mát-ta và Ma-ri-a (Lc 10,38 ; Ga 11,1 ; 12,1) tên của đầy tớ vị Thượng tế (Lc 22,50 ; Ga 18,10), việc nhắc đến vết thương cạnh sườn của Đấng Phục sinh (Lc 24,40 ; Ga 20,20), ...

Nh́n toàn diện và tóm lại, các nhà nghiên cứu về mối tương quan giữa thánh Gio-an và thánh Lu-ca xác nhận rằng sách Tin Mừng của thánh Gio-an đúng là độc lập đối với các sách Tin Mừng nhất lăm kể cả sách của thánh Lu-ca. Họ c̣n cho thấy rằng truyền thống và uy thế của thánh Gio-an trong Giáo hội thật là xưa và đă có từ đâu.

V. SÁCH TIN MỪNG THỨ TƯ VÀ LỊCH SỬ

Đă có lần giá trị lịch sử của sách Tin Mừng thứ tư bị nghi ngờ. Họ đặt vấn đề v́ hai nguyên nhân. Một là sách có nhiều điểm khác với các sách nhất lăm. Hai là sách có đặc tính biểu tượng.

1. Vấn đề

Sách Tin Mừng của thánh Gio-an và các sách nhất lăm khác nhau rơ ràng, và điểm mà các sách ấy khác nhau một cách quan trọng, là giáo huấn của Đức Giê-su.

Trước hết là về thể loại văn chương. Trong các sách nhất lăm, lời văn thật là cụ thể, bóng bẩy, linh động và b́nh dân ; c̣n trong sách Tin Mừng thứ tư, th́ lời văn thật là trừu tượng và giáo điều. Trong sách Tin Mừng thánh Gio-an, gần như không có được một dụ ngôn sống động, khả dĩ gợi h́nh xứ Pa-lét-ti-na thời Đức Giê-su.

Thứ đến là về nội dung của giáo lư. Trong các sách nhất lăm, Nước Thiên Chúa là đối tượng của giáo huấn, nhưng sách của thánh Gio-an nói đến Nước Thiên Chúa chỉ có một lần : trong cuộc đàm đạo giữa Đức Giê-su và ông Ni-cô-đê-mô (3,3.5). Thay vào đó, thánh Gio-an nói đến sự sống, ánh sáng, chân lư (18,37). Các cuộc tranh luận giữa Đức Giê-su và dân Do-thái cũng không cùng một đối tượng. Trong các sách nhất lăm, các cuộc tranh luận đề cập đến nhiều vấn đề khác nhau liên quan đến lề luật, khác nhau tùy câu hỏi đặt ra cho Đức Giê-su, như : ăn chay, Sa-bát, nghi lễ để được thanh khiết, hôn nhân, cách sống hoàn thiện. Trong sách của thánh Gio-an, các cuộc tranh luận chỉ có một vấn đề duy nhất, là niềm tin vào Đức Giê-su, Đấng được Chúa Cha phái đến : việc Thiên Chúa muốn chúng ta làm đều thu gọn vào một câu yêu sách ấy (6,29). Về những đặc tính nghèo khó, siêu thoát, phó thác, tỉnh thức và các khía cạnh khác nhau của đời sống luân lư, không thấy nói nữa. Và các điều luật được tóm vào một điều luật duy nhất, đó là t́nh thương huynh đệ (13,34 tt ; 15,12 tt) theo mẫu t́nh thương của Đức Giê-su đối với những ai thuộc về Người. C̣n về h́nh dung của Đức Giê-su, chỉ c̣n một nét căn bản và duy nhất, là Người là Con Thiên Chúa, xuống thế làm người để mặc khải Thiên Chúa. Các phép lạ là những hành vi bác ái, nhưng trước hết là dấu hiệu biểu thị vinh quang của Đức Giê-su (2,11 ; 11,4.40) và nhằm khơi dậy niềm tin đă có trước.

Từ đó, người ta muốn kết luận rằng sách Tin Mừng thứ tư chỉ là một bản dịch biểu tượng hoặc một bài suy niệm thần học về đời sống Đức Giê-su, không có giá trị lịch sử.

2. Giải đáp

Kết luận như thế, tuy nhiên, là sai lầm.

1) Trước hết, là xét về văn thể của sách Tin Mừng

Theo thánh Ga 20,30 tt, th́ đây là sách Tin Mừng. Mà mục đích của sách Tin Mừng là tường thuật những dấu hiệu vững chắc, để loan báo biến cố Ngôi Lời nhập thể và, qua Ngôi Lời, Thiên Chúa mặc khải và ban sự sống. Vậy, nếu những dấu hiệu là những kỳ công nhằm chứng thực biến cố mà lại thiếu giá trị lịch sử, th́ làm sao minh chứng được rằng sự kiện Nhập thể và sự sống do sự kiện ấy đem đến, là có thực và có giá trị lịch sử? Không, tác giả dư biết rằng dấu hiệu phải có thực, th́ độc giả mới có thể tin vào Mầu nhiệm Nhập thể và đón nhận sự sống do Ngôi Lời Nhập thể đem xuống cho họ. Sau nữa, tác giả muốn làm chứng. Đối với tác giả, đời sống của Đức Giê-su là một cuộc tranh luận trước pháp luật giữa Đức Giê-su và dân Do-thái. Một bên, Đức Giê-su xưng ḿnh là “Đấng được Thiên Chúa phái đến” và là Con Thiên Chúa. C̣n bên kia, dân Do-thái đă phũ phàng từ khước (2,18 ; 5,18 ; 8,13-18). Và kết cục, Đức Giê-su bị kết án tử h́nh “theo Lề luật” (19,7). Mà muốn làm lại vụ án đó, tác giả phải đưa ra những lời chứng vững vàng, xác thực. Và, tác giả đă ghi vào hồ sơ lời chứng của thánh Gio-an Tẩy giả (1,19 ; 3,26 tt ; 5,33 ; 10,41), lời chứng của những công tŕnh (5,36 ; 9,5 ; 10,25.37 tt ; 14,10 tt ; 15,24) và lời chứng của chính ḿnh (19,35). V́ thế, những lời chứng ấy về đời sống Đức Giê-su không thể là thuần túy biểu tượng, trống rỗng nội dung lịch sử được.

2) Thứ đến, là xét về nội dung

Sách Tin Mừng thứ tư có rất nhiều chứng cứ về chân lư lịch sử.

Thứ nhất là về diễn tiến của đời sống Đức Giê-su. Trên một lần, sách xác nhận và xác định các dữ kiện các sách nhất lăm đă ghi lại. Ví dụ : về lúc Đức Giê-su bắt đầu hoạt động công khai, sách cho biết Người bắt đầu sứ vụ ở Giu-đê, lúc thánh Gio-an Tẩy giả c̣n làm phép rửa (3,22 tt). Sách cũng cho biết tại sao Đức Giê-su trở về Ga-li-lê (4,1-3). Sách c̣n cho biết một số chi tiết về hành tŕnh của Đức Giê-su lúc cuối đời (10,40 ; 11,54). Về ngày Thương khó, theo thánh Gio-an, th́ Đức Giê-su chịu chết áp ngày Lễ Vượt qua ; c̣n, theo các tác giả nhất lăm, th́ Người chịu chết chính ngày lễ Vượt qua: về điểm này, thánh Gio-an nói đúng hơn các tác giả nhất lăm. Hơn nữa, nếu không có sách Tin Mừng thứ tư, độc giả có thể lầm tưởng rằng Đức Giê-su đă thu hẹp sứ vụ của ḿnh tại Ga-li-lê và chỉ lên Giê-ru-sa-lem để chịu đóng đinh vào thập giá. Và độc giả c̣n có thể lầm tưởng rằng Đức Giê-su đă thu ngắn sứ vụ của ḿnh vào một năm mà thôi.

Thứ hai là ngày thanh tẩy Đền thờ. Trong đoạn văn tường thuật việc thanh tẩy Đền thờ, sách Tin Mừng thứ tư có một dữ kiện thời gian thuộc loại rơ ràng nhất trong các sách Tin Mừng. Dân Do-thái nói với Đức Giê-su rằng : “Phải mất 46 năm mới cất xong Đền thờ này” (2,20). Mà, theo sử gia Gio-xê-phô, th́ Đền thờ đă được vua Hê-rô-đê Cả bắt đầu xây cất khi ông trị v́ được 18 năm, nghĩa là lối năm 20/19 tcn. Nên biến cố thanh tẩy Đền thờ đă xẩy ra vào lễ Vượt qua năm 28 scn [10]. Đoạn văn này c̣n đặt ra một vấn đề khác, cũng về thời gian. Trong sách của thánh Gio-an, biến cố thanh tẩy Đền thờ là một trong những công việc đầu tiên của Đức Giê-su : nhưng, trong các sách nhất lăm, th́ biến cố ấy lại là một trong những công việc cuối đời. Sự thực là thế nào, khó mà phán quyết. Tuy nhiên, xét về mặt tâm lư, th́ một cuộc xung đột to tát như vụ xẩy ra nhân dịp thanh tẩy Đền thờ, phải xẩy ra ở cuối sứ vụ mới là hợp lư. Tuy nhiên, khung cảnh của sách Tin Mừng thứ tư vừa chính xác, lại vừa uyển chuyển để phục vụ tư tưởng thần học, và, do đó, tác giả được dễ dàng đặt một biến cố này vào khung cảnh kia [11].

Thứ ba là địa h́nh. Sách của thánh Gio-an phong phú và chính xác hơn các sách Tin Mừng khác. Sách có đến 20 địa danh hơn các sách nhất lăm : con số ấy quả là to tát trong một số nhỏ những sự việc tác giả tường thuật trong sách. Nhiều tên chắc chắn là có, là đúng. Ví dụ : một là Bê-ta-ni-a tả ngạn sông Gio-đan (1,28). Ở đây, tác giả không thể bịa đặt hoặc kêu tên v́ hứng, nhưng kêu tên để phân biệt với Bê-ta-ni-a gần Giê-ru-sa-lem (11,1.18). Hai là Ca-na miền Ga-li-lê (2,1.11 ; 4,46). Ở đây, cũng vậy, tác giả phải xác định là miền Ga-li-lê, v́ có một Ca-na khác ở phía Đông Nam thành Tia (Gs 19,28). Ba là Ê-non : các sách nhất lăm đă chỉ rơ ràng sông Gio-đan là nơi thánh Gio-an Tẩy giả làm phép rửa ; nhưng sách Tin Mừng thứ tư lại chỉ Ê-non (3,23). Bốn là hồ Bét-da-tha (5,1) với năm hành lang. Năm hành lang có vẻ như là một công tŕnh kiến trúc không thực và thuần túy biểu tượng. Tuy nhiên, các công tŕnh khảo cổ ngày nay đă cho thấy là có năm hành lang ấy, và c̣n cho thấy vị trí của các hành lang ấy nữa. Biểu tượng, nếu có, cũng dựa trên địa h́nh có nền tảng vững chắc.

Thứ tư là môi trường lịch sử. Pa-lét-ti-na của sách Tin Mừng thứ tư chính là xứ Pa-lét-ti-na thời Đức Giê-su. Một Pa-lét-ti-na với những mối hận thù ác liệt giữa dân Do-thái và dân Sa-ma-ri-a (4,9 ; 8,48) dầu đang cùng sống dưới ách nô lệ đế quốc Rô-ma (18,28-31), với những tập tục tôn giáo đặc thù, như : thanh tẩy (2,6 ; 3,25 ; 11,55), tang chế (11,38.44 ; 12,7 ; 19,31.40), cấm kỵ (18,28 ; 19,31). Một Ga-li-lê bị khinh thường (7,52) với vua Hê-rô-đê An-ti-pa (4,46) và đoàn lũ sẵn sàng mạo hiểm trong những phong trào chờ mong Cứu Chúa (6,11 tt). Nhất là một Giê-ru-sa-lem với đoàn người hành hương và những người ṭng giáo (12,20), với nhóm Pha-ri-siêu khinh miệt thường dân “là dốt đặc về Lề luật” (7,49), với Đền thờ vừa được tái thiết (2,20), đầy nghẹt những con buôn tiền bán vật (2,13 tt).

Thứ năm là giáo huấn. Bước sang lănh vực giáo huấn, chúng ta thấy các đề tài, những cách thức tranh luận và lập luận giữa Đức Giê-su và đối thủ đều có đặc tính Do-thái. Về điểm này, cuộc tranh luận ghi ở chương V là tiêu biểu. Và đề tài của đoạn sách cũng phù hợp với những dữ kiện nhất lăm. Đó là việc vi phạm ngày Sa-bát: kẻ khỏi bệnh đă vi phạm v́ đă vác chơng đi, mà chính Đức Giê-su cũng vi phạm v́ đă chữa bệnh. Cách Đức Giê-su biện minh cũng là cách thuần túy Do-thái, là “Cha của tôi làm việc không ngừng”, nghĩa là, để biện minh, Đức Giê-su đưa ra sự việc Thiên Chúa làm việc không ngừng, là làm việc cả ngày Sa-bát nữa. Đề tài này cũng đă được bàn căi giữa các môn phái Do-thái. Sau đó, Đức Giê-su c̣n vin vào một luật trừ trong luật giữ ngày Sa-bát, một luật đă được các tiên sinh Do-thái chấp nhận. Đó là được phép cắt b́ ngày Sa-bát (7,23), th́ lại càng được phép chữa bệnh ngày Sa-bát [12].

Thứ sáu là chân dung Đức Giê-su. Chân dung của Đức Giê-su trong sách Tin Mừng thứ tư thật là sống động và đúng thực. V́ muốn độc giả thấy vinh quang của Ngôi Lời Nhập thể, tác giả đă nhấn mạnh uy nghi của Ngôi Lời hơn các tác giả nhất lăm. Điều này dễ thấy nhất trong tŕnh thuật Thương khó. Đức Giê-su “biết những ǵ phải xảy đến cho ḿnh” (18,4 ; tc 13,1.3 ; 19,28). Người làm chủ mọi biến cố và mọi hạng người (18,4-8 ; 19,11 ; tc 14,30). Việc Người phải hăi hùng xao xuyến (Mc 14,33) trong vườn Ghết-sê-ma-ni cũng như tiếng Người kêu gào trên thập giá (Mc 15,34), tác giả không ghi lại. Người làm chủ cả những phút chót đời ḿnh và dâng hơi thở cuối cùng một cách sáng suốt và cao thượng như một vị Tư tế hành lễ (19,28-30). Mạng sống của Người, chính Người hy sinh, chứ không ai cướp được (10,18).

Nhưng, ngược lại, Đức Giê-su cũng là một hữu thể có xác có thịt (1,14). Thấy Đền thờ là “Nhà của Cha” Người bị thiên hạ xúc phạm, Người cũng phẫn uất (2,13-17). Đi đường mệt nhọc, Người cũng kiệt sức (4,6 tt). Dân chúng cứng đầu làm Người đau khổ (4,48). Người “trốn” kẻo dân chúng bắt Người (6,15). Người chống lại kẻ vu khống từng điều (5,18-47 ; 7,20-24 ; 8,48-58 ; 10,36). Người cũng có bạn hữu (11,5) và môn đệ thương mến (13,23 ; 19,26 ; 21,7.20). Người cũng xao xuyến, cũng khóc tại mồ ông La-da-rô (11,35.38). Bị người môn đệ nộp, Người cũng xúc động (13,21). “Giờ” của Người sắp đến, làm cho Người xao xuyến đến nỗi phải kêu xin cầu cứu (12,27). Bị tên lính tát tai, Người cũng khó chịu (18,23). Trên thập giá, Người cũng la khát (19,28).

Thứ bẩy là sách Tin Mừng thứ tư và các sách nhất lăm phù hợp với nhau trên nhiều điểm, giáo huấn, chẳng hạn :

Trong sách Tin Mừng thứ tư, cũng có những ư niệm đặc sắc đă có trong các sách Tin Mừng nhất lăm. Ví dụ :

- “Nước Trời” (3,3.5) ;

- “Con Người” (1,51 ; 3,13-14 ; 5,21-29 ; v.v.) ;

- “(Đấng Cứu độ) đến” (Mt 3,11 ; 5,17 ; 11,19 ; 23,39 ;                                   Mc 1,24 ; Lc 19,10 ; v.v...) ;

- “Phải (chịu chết)” (Ga 3,14 ; 12,34 ; 20,9 ;
                        tc Mt 16,21 ; Mc 8,31 ; Lc 17,25) ;

- “Sự sống” (Mt 7,14 ; 18,8 tt ; 19,16 tt ; ss.) ;

- Ánh sáng và “con cái ánh sáng” (Mt 4,16 ; 5,14.16
                        và ss ; 6,23 ; 17,2 ; Lc 2,32 ; 16,8) ;

- “Lời” (Mt 13,19 tt và ss ; Mc 2,2 ; 8,32 ;
                        Lc 1,2 ; 5,1 ; 10,39 ; 11,28).

Và đoạn văn danh tiếng nhất là Mt 11,25-27. Ở đây, Đức Giê-su khẳng định mối tương quan giữa Người với Chúa Cha và, đồng thời, quyền bính tối cao của Người. Điều lạ thường là Đức Giê-su của các sách nhất lăm lại khẳng định bằng ngôn ngữ của thánh Gio-an. Nhưng chúng ta không có lư do ǵ xác đáng để nói rằng đoạn văn này không do chính các tác giả nhất lăm viết ra. Hơn nữa, đoạn văn ấy c̣n nằm trong tầng lớp thuộc loại xưa nhất của truyền thống Tin Mừng. Sự việc ấy bảo đảm một cách vững chắc điều này là, về ngôn ngữ và về đạo lư, sách Tin Mừng của thánh Gio-an cũng có giá trị lịch sử như các sách nhất lăm, dầu thánh Gio-an có phu diễn hơn các thánh nhất lăm mà thôi.

3. Lịch sử và biểu tượng

Vậy, giá trị lịch sử của sách Tin Mừng thứ tư là một dữ kiện không thể chối căi. Chỉ có một điều phải để ư, là quan niệm của tác giả về lịch sử thật là khác với quan niệm của sử gia ngày nay. Tác giả của sách Tin Mừng không nghĩ rằng ḿnh đă nghiên cứu đầy đủ. Tác giả không bận tâm đến những chi tiết. Điều tác giả bận tâm, là đưa ra ánh sáng ư nghĩa của một lịch sử, một lịch sử vừa nhân loại lại vừa thần linh, một lịch sử đă diễn tiến trong thời gian, mà c̣n đi sâu vào hậu thế. Tác giả muốn tường thuật một cách trung thành và mong ước cho loài người tin một sư kiện thiêng liêng đă xẩy ra trong thế gian qua Đức Giê-su Ki-to : đó là Ngôi Lời Nhập thể để cứu độ chúng ta. Nếu vậy, th́ tuyển chọn một vài sự việc chủ yếu và có ư nghĩa, đă đủ (20,33 tt) : một vài dấu lạ, một vài diễn văn, đôi cuộc tranh luận, đôi lời tuyên bố quan trọng, rồi sự chết và sống lại. Thế là có lịch sử. Lịch sử ấy không thỏa măn những ai ṭ ṃ tọc mạch, nhưng cống hiến một nguồn bất tận cho ai chịu suy tư (7,37-39).

V́ thế mà sách Tin Mừng thứ tư có đặc tính biểu tượng. Chúng ta thử đưa ra ư nghĩa biểu tượng của một vài phép lạ, một vài sự việc cũng như một vài h́nh ảnh thường gặp trong sách Tin Mừng thứ tư :

Thứ nhất là về các phép lạ. Các sách nhất lăm tường thuật phép lạ rất nhiều ; trái lại, sách của thánh Gio-an chỉ tường thuật có bẩy mà thôi (2,1-11 ; 4,46-54 ; 5,1-15 ; 6,1-15 ; 6,16-21 ; 9,1-41 ; 11,1-44), và làm cho những phép lạ ấy nổi bật lên như những “dấu lạ” mặc khải quyền năng cùng vinh quang của Đức Giê-su và biểu thị các ơn Người đem xuống cho nhân loại.

Phép lạ “nước hóa rượu” trong các chum người Do-thái dùng trong nghi lễ thanh tẩy, có nghĩa là Thiên Chúa ban Giao ước mới thay thế và hoàn hảo hơn Giao ước cũ. Phép lạ “đứa con của viên chức nhà vua được chữa khỏi” nói lên sức mạnh của niềm tin. Phép lạ “người bệnh tật được chữa khỏi tại hồ Bét-da-tha” minh chứng rằng công tŕnh của Đức Giê-su, Con Thiên Chúa, có khả năng ban sự sống lại thiêng liêng. Phép lạ “bánh hóa nhiều” tiên báo Thiên Chúa sẽ ban bánh trường sinh. Phép lạ “Đức Giê-su đi trên mặt nước” cho chúng ta thấy trước vinh quang của Người một khi đă phục sinh. Phép lạ “người đui từ thuở mới sinh được chữa khỏi” tỏ ra Đức Giê-su là ánh sáng cho đời. Phép lạ “ông La-da-rô sống lại” hàm ư Đức Giê-su đem đến cho loài người sự sống lại và sự sống vĩnh cửu.

Con số bảy (7) phô diễn một cái ǵ trọn vẹn, ở đây, bảy phép lạ công bố rằng Đức Giê-su là hoàn hảo, v́ Người là Thiên Chúa (Ga 1,1) và, đồng thời, Người đầy tràn ân sủng v́ Người là Ngôi Lời nhập thể (1,14.16).

Thứ hai là về các sự việc. Tác giả có tài triệt thấu ư nghĩa thiêng liêng của các sự việc và khám phá ra các mầu nhiệm thần linh trong các sự việc ấy.

Qua việc Đức Giê-su thanh tẩy Đền thờ (2,19-21), tác giả nhận thấy dấu chỉ này là Đức Giê-su sẽ chịu chết và sống lại để canh tân Do-thái giáo ; Ngài c̣n thấy biểu tượng này là Đức Giê-su sẽ dùng thân xác phục sinh của Người mà thiết lập Đền thờ mới và đích thực. Qua việc Đức Giê-su bảo người mù đến hồ Si-lô-a mà rửa, tác giả khám phá ra mối tương quan giữa địa danh Si-lô-a (nghĩa là “người được sai phái") và Đức Giê-su, Đấng do Chúa Cha sai phái (9,7). Lời Thượng tế Cai-pha nói trong Thượng Hội đồng các nhà lănh đạo dân Do-thái (11,51 tt) được tác giả coi như là lời tiên tri vô ư thức về công tŕnh cứu độ. Tên Giu-đa bỏ tiệc ra đi giữa đêm : đối với thánh Gio-an, đêm ấy gợi lại tâm trạng tối tăm của linh hồn người phản bội (13,30). Đức Giê-su bị kết án áp lễ Vượt qua lúc 12 giờ trưa và chết cũng vào chiều ngày hôm ấy : đối với thánh Gio-an, ngày và giờ ấy ám chỉ Đức Giê-su chết như con chiên lễ Vượt qua, tự hiến để cứu độ thế gian. Lưỡi đ̣ng đâm vào cạnh sườn Đức Giê-su, đối với thánh Gio-an, là mầu nhiệm đă được Thánh kinh tiên báo và là khuôn dấu được Thiên Chúa đóng trên hy lễ cứu độ (19,14.31.36).

Thứ ba là về các h́nh ảnh nói về Đức Giê-su. Chân dung thánh Gio-an phác họa về Đức Giê-su gồm những nét sống động và gồm cả những biểu tượng quan trọng tôn giáo Đức Giê-su dùng để nói về ḿnh. Ví dụ :

Đức Giê-su Na-da-rét là con chiên của Thiên Chúa (1,29.36), là Đền thờ mới (2,21), là Con Người được nâng lên như con rắn bằng đồng trong sa mạc (3,14), là tân lang (3,19), là bánh ban sự sống (6,35), là nguồn nước ban sự sống (7,37 tt), là ánh sáng cho đời (8,12), là cửa ra vào (10,7.9), là mục tử nhân hậu (10,11.14), là sự sống lại (11,25), là con đường, là sự thật, là sự sống vĩnh cửu (14,6), là cây nho chính hiệu (15,1 tt). Chân dung ấy, vừa hiện thực, lại vừa thần thiêng, đă cho khuôn mặt lịch sử của Đức Giê-su tất cả kích thước một Đấng cứu độ thế gian (4,42).

Vậy th́ văn thể biểu tượng ấy không phải là văn thể ẩn dụ thiếu căn bản thực tại, như đă có người lầm tưởng. Trái lại, đây là một văn thể biểu tượng của thực tại, bắt nguồn từ lịch sử, nói đến ư nghĩa của lịch sử và, đối với vị chứng nhân ưu huệ của Ngôi Lời nhập thể, chỉ có giá trị với điều kiện ấy. V́ thế, phủ nhận đặc tính lịch sử của sự việc v́ lẽ sự việc có ư nghĩa biểu tượng là không chính đáng, cũng như phủ nhận văn thể biểu tượng của sự việc để biện hộ đặc tính lịch sử của sự việc, là không chính đáng. Hai đàng, đàng nào cũng là sai, cũng cắt xén một cách trầm trọng một tác phẩm rơ ràng là độc nhất trong loại của nó, bởi lẽ tác phẩm ấy tường thuật một sự việc độc nhất, là đời sống Ngôi Lời Nhập thể, một đời sống mà mọi hành động cũng như mọi cử chỉ đều có ư nghĩa trong chương tŕnh cứu độ, và làm cho lịch sử loài người có ư nghĩa của nó.


 

[1] BJ. 1953, trg. 26.

[2] tc BJ, 1536, a.

[3] tc BJ, 1953, a.

[4] tc D. Mollat, Jean, trong BJ 1953, trang 33.

[5] tc BJ, 1953, 33.

[6] tc BJ, 1495, e.

[7] tc TOB, 148, m.

[8] TOB, 224, n.

[9] tc C. K. Barett, St John, London 1962, SPCK, p. 401-493.

[10] JBC, NT, 429.

[11] tc C. K. Barrett, John, 163. Xem phn chú gii Ga 2,13-22, trang

[12] BJ, 1541, b.