TIN MỪNG
CHÚA GIÊ-SU KI-TÔ
THEO THÁNH GIO-AN
(dẫn vào và chú giải)
TANILA HOÀNG ĐẮC ÁNH
Ḍng Đa-minh
Sài-g̣n 1996
VI. TÁC GIẢ SÁCH TIN MỪNG THỨ TƯ
1. Đặc tính đồng nhất của sách Tin Mừng về mặt văn chương
Trước khi nói đến tác giả của sách, phải nói đến đặc tính đồng nhất của sách về văn chương. Vấn đề này đă được đặt ra. Có một số các nhà huấn hỗ Thánh kinh cho rằng : trong sách Tin Mừng thứ tư, có nhiều đoạn văn thuộc nguồn gốc khác nhau và, lúc đầu, độc lập với nhau : một sưu tập diễn văn, một sưu tập phép lạ, và các sử liệu song song với các sách Tin Mừng nhất lăm như tŕnh thuật Thương khó. Các đoạn văn ấy được một biên tập viên góp lại, bổ túc và thực hiện; và biên tập viên ấy chắc là chính tác giả sách Tin Mừng.
Tuy nhiên, giả thuyết ấy không được vững. Những chương tŕnh nghiên cứu các đặc tính của sách, về mặt văn chương cũng như về mặt đạo lư, cho thấy khác hẳn : các đặc tính ấy đều có trong toàn thể cuốn sách, chứ không phải là những đặc tính của một tầng lớp đoạn văn nào. Thế nên phép lạ, diễn văn, tŕnh thuật Thương khó, tất cả đều do một cây bút. Không có ǵ minh chứng được rằng trong nguyên thủy, không phải là tác phẩm của một tác giả. Đó là điều căn bản.
Nhưng chúng ta có thể công nhận rằng các môn đệ của tác giả đă đóng một vai tṛ trong việc thực hiện tác phẩm lần chót, v́ tác phẩm ra đời sau khi tác giả đă qua đời. Ư kiến này dựa trên chương 21, câu 24, v́ câu này là dấu chứng của một nhóm môn đệ cho ra sách.
Thực th́ giả thuyết thứ hai này cũng gặp khó khăn do chương 21 gây ra. Sách đă kết thúc ở chương 20, câu 30-31. Nhưng chương 21 lại mở ra và nối tiếp câu kết thúc ấy, rồi c̣n kết thúc bằng một câu kết thúc khác (Ga 21,25). Các nhà Thánh kinh đă thử đưa ra nhiều cách giải thích cho sự việc bất thường ấy. Nhưng dầu sao chương 21 cũng là phụ lục chỉ được thêm vào khi sách đă h́nh thành. Ai đă viết phụ lục ấy ? Có thể là chính bàn tay đă viết hai mươi chương trước. Nhưng cũng có thể là một môn đệ của tác giả, người ấy đă phản ảnh trung thực các kỷ niệm, các ư nghĩ và cả văn thể của thầy ḿnh.
2. Niên canh của sách Tin Mừng thứ tư
Sách Tin Mừng thứ tư đă ra đời khá sớm, điều này ít ai chối căi. Quả vậy, thánh Giút-ti-nô (năm 150), thánh I-nha-xi-ô thành An-ti-ô-khi-a (năm 107) đă dẫn sách Tin Mừng này.
Năm 1935, các nhà chuyên môn có khám phá và xuất bản một miếng vỏ chỉ thảo Ai-cập, trong đó có những đoạn văn của sách Tin Mừng thứ tư. Chỉ thảo ấy ra đời chắc là vào thượng bán thế kỷ II. Nên sách phải ra đời trước thời gian đó. Và sách phải ra đời trước khá lâu, nếu sách được sáng tác tại Ê-phê-xô hay tại An-ti-ô-khi-a, v́ phải có thời gian sách mới phổ biến tới Ai-cập.
V́ thế, sách Tin Mừng thứ tư đă ra đời ít ra là vào đầu thế kỷ II hoặc năm 90 [1] hoặc 95 [2] hoặc 100 [3].
3. Lời chứng của sách Tin Mừng
Như đă nói trên, sách Tin Mừng thứ tư được người môn đệ Đức Giê-su thương mến bảo đảm : người môn đệ này vừa là chứng nhân các sự việc, vừa là tác giả của sách. Người môn đệ ấy là ai ?
Chính sách Tin Mừng cho biết rằng người môn đệ nặc danh ấy là thánh Gio-an. Trước hết, Sách ấy không nói ǵ về người con ông Dê-bê-đê, là thánh Gia-cô-bê và thánh Gio-an. Sách Tin Mừng thứ tư thường kêu đích danh các tông đồ. Mà thánh Gia-cô-bê và thánh Gio-an thuộc nhóm tông đồ ưu huệ : các ngài có mặt khi Đức Giê-su cho con gái ông Gia-ia sống lại (Mc 5,3) xem thấy Đức Giê-su biến h́nh dạng trên núi (Mc 9,2), dự cuộc đàm đạo riêng tư với Đức Giê-su về ngày Đền thờ sẽ bị phá (Mc 13,3) và chứng kiến cảnh Đức Giê-su hăi hùng xao xuyến tại vườn Ghết-sê-ma-ni (Mc 14,33). Thế mà sách Tin Mừng thứ tư không kêu đích danh hai thánh Gia-cô-bê và Gio-an. Nên đây là điều lạ. Điều lạ thứ hai là sách không nói đến hai thánh Gia-cô-bê và Gio-an, nhưng lại nói nhiều đến người môn đệ Đức Giê-su thương mến (13,23 ; 19,26 ; 20,2 ; 21,7.20). Vậy, nếu người môn đệ Đức Giê-su thương mến là thánh Gia-cô-bê hoặc thánh Gio-an, th́ hai điều lạ ấy sẽ hết lạ : tuy giấu tên, sách cũng có nói đến các ngài. Nhưng hỏi người môn đệ Đức Giê-su thương mến đó là ai, thánh Gia-cô-bê hay thánh Gio-an ? Thưa hiển nhiên không phải là thánh Gia-cô-bê, v́ ngài đă tử đạo năm 44 (Cv 12,2). Nên người môn đệ Đức Giê-su thương mến ấy phải là thánh Gio-an tông đồ, như truyền thống đă để lại.
Thứ đến, sách Tin Mừng thứ tư luôn luôn gọi thánh Gio-an Tẩy giả là Gio-an, mà không xác định ǵ khác, đang khi các sách nhất lăm xác định rơ. Trong Tân Ước, có hai nhân vật cùng tên Gio-an cần phải phân biệt khi nói cũng như khi viết, nếu người nghe hay người đọc có thể lẫn lộn. Mà khi viết, các tác giả nhất lăm là các thánh Mat-thêu, Mác-cô và Lu-ca phải sợ người ta lẫn lộn giữa hai nhân vật và, do đó, phải thêm chữ “Tẩy giả” khi nói đến thánh Gio-an, con ông Da-ca-ri-a. Vậy th́, khi nói về thánh Gio-an Tẩy giả, tại sao tác giả sách Tin Mừng thứ tư không sợ người ta lẫn lộn và không thêm chữ “Tẩy giả” ? V́ thế, đó cũng là dấu tác giả sách ấy là thánh Gio-an tông đồ : Khi viết về thánh Gio-an Tẩy giả, thánh Gio-an tông đồ thấy không cần phải xác định v́, đối với ngài, chỉ có một Gio-an mà thôi, là Gio-an Tẩy giả.
Sau hết, đem đối chiếu một đàng mối tương quan giữa người môn đệ Đức Giê-su thương mến và thánh Phê-rô được mô tả trong sách Tin Mừng thứ tư và, đằng kia, mối tương quan giữa thánh Gio-an và thánh Phê-rô được mô tả trong sách Công vụ Tông đồ, chúng ta sẽ thấy những mối tương quan được mô tả trong hai sách phù hợp với nhau (Ga 13,23 tt ; 18,15 ; 20,3-10 ; 21,20-23 ; Cv 1,13 ; 3,1-4.11 ; 4,13.19 ; 8,14). Nên người môn đệ nặc danh được Đức Giê-su thương mến của sách Tin Mừng thứ tư phải là thánh Gio-an tông đồ của sách Công vụ Tông đồ.
4. Lời chứng của Truyền thống
Có nhiều sử liệu cho sách Tin Mừng thứ tư là của thánh Gio-an Tông đồ. Những bản văn minh nhiên về vấn đề này thuộc thế kỷ II. Và bản văn chính là bản văn của thánh I-rê-nê : “Đoạn, thánh Gio-an là người môn đệ của Chúa và cũng là người đă dựa vào ngực Chúa, cũng đă cho ra sách Tin Mừng lúc ở tại Ê-phê-xô” (Chống lạc giáo III,1,1). Lời chứng ấy có giá trị ở chỗ thánh I-rê-nê quen biết thánh Pô-ly-cáp, người môn đệ trực tiếp của thánh Gio-an Tông đồ. Đôi khi, lời chứng của thánh I-rê-nê không được hoàn toàn chính xác. Tuy nhiên, trong việc này, lời chứng của ngài có giá trị v́ là lời chứng trực tiếp.
Đồng thời với thánh I-rê-nê, c̣n có Cơ-lê-men-tê thành A-lê-xan-ri-a (150-211), Téc-tu-li-a-nô (155-220) và Kinh bộ Mu-ra-tô-ri cũng nói rằng sách Tin Mừng thứ tư do thánh Gio-an Tông đồ ghi chép. Sau đó, nhiều tác giả khác c̣n chấp nhận và lấy hứng ở sách Tin Mừng này.
Vào thế kỷ II, có vài nhóm tín hữu không công nhận thánh Gio-an Tông đồ là tác giả sách Tin Mừng thứ tư v́ một vài lư do không chính đáng. Nhóm của Mon-ta-nô, chẳng hạn, nói rằng Thánh Thần đă nhập thể và đă mặc khải cho họ nhiều điều mới lạ. Để phản đối nhóm “thánh linh” này, có kẻ đă không công nhận các ân sủng của Thánh Thần và, rốt cục, không công nhận thánh Gio-an Tông đồ là tác giả của sách Tin Mừng thứ tư v́ sách nói nhiều về Thánh Thần. Hoặc một linh mục Rô-ma, tên là Cai-ô, cũng không công nhận sách Tin Mừng thứ tư, chỉ v́ lẽ sách ngày khác với những sách nhất lăm.
5. Ông Gio-an Trưởng lăo
Thánh Gio-an Tông đồ là tác giả sách Tin Mừng thứ tư. Nhưng, để phủ nhận điều ấy, có kẻ lại đưa ra một bản văn của Pa-pi-át [4]. Theo bản văn này, có hai người tên Gio-an, Gio-an môn đệ của Chúa và Gio-an Trưởng lăo. Và, theo thánh Đi-ô-ni-xi-ô thành A-lê-xan-ri-a (thế kỷ III), lúc ấy, tại Ê-phê-xô, có hai mộ mang tên Gio-an [5]. Thế là, lúc ấy, tại Ê-phê-xô, có hai nhân vật cùng tên là Gio-an.
Nhưng vấn đề là ai đă trước tác sách Tin Mừng thứ tư. Và thưa là thánh Gio-an Tông đồ, v́ thánh I-rê-nê đă nói chính kỷ niệm bản thân và v́ truyền thống ở cuối thế kỷ thứ II và đầu thế kỷ thứ III cũng nói như vậy.
6. Thánh Gio-an Tông đồ tử đạo năm 44 ?
Tác giả Tin Mừng thứ tư là thánh Gio-an tông đồ. Giả thuyết này c̣n gặp một vấn nạn khác, là thánh Gio-an đă tử đạo năm 43 hoặc 44, tại Giê-ru-sa-lem với thánh Gia-cô-bê, anh ngài, do lệnh vua Hê-rô-đê Ác-ríp-pa (Cv 12,22), c̣n, theo các nhà Thánh kinh, sách Tin Mừng thứ tư được sáng tác vào năm 95. Vậy, nếu thánh Gio-an tông đồ đă chết năm 43 hoặc 44, th́ làm sao ngài sáng tác vào năm 95 được?
Vấn nạn này dựa trên 3 bằng chứng :
Thứ nhất, theo lời Đức Giê-su (Mc 10,39 ; Mt 20,23), th́ hai người con ông Dê-bê-đê sẽ uống cùng một ly và chịu cùng một phép rửa với Người, nghĩa là hai thánh Gia-cô-bê và Gio-an sẽ cùng tử đạo.
Thứ hai, Pa-pi-át, th́ “nhà thần học Gio-an và Gia-cô-bê bị người Do-thái giết”.
Thứ ba, trong lịch các Tử đạo tiếng Xy-ri-a vào đầu thế kỷ thứ V, có chép tại ngày 27 tháng 12 rằng : “Hai Tông đồ Gio-an và Gia-cô-bê, tại Giê-ru-sa-lem”. Và, trong lịch các Tử đạo ở Các-tha-gô vào đầu thế kỷ thứ VI, có chép cũng tại ngày 27 tháng 12 rằng : “Thánh Gio-an Tẩy giả và thánh Gia-cô-bê tông đồ, là người bị vua Hê-rô-đê giết”. Ở đây, có lẽ phải đọc là Gio-an tông đồ thay v́ Gio-an Tẩy giả.
Tuy nhiên, những bằng chứng ấy, có cộng lại, cũng chẳng mạnh bao nhiêu :
Thứ nhất, giả thuyết thánh Gio-an tử đạo năm 44 mâu thuẫn với Thánh kinh. Thật vậy, sách Công vụ Tông đồ (12,2) nói chỉ có thánh Gia-cô-bê tử đạo mà thôi. Vả lại, đồng ư rằng thành ngữ “uống chén và chịu phép rửa của Đức Giê-su” có nghĩa là thông phần vào sự Thương khó của Người, nhưng không phải tử đạo mới thông phần vào sự Thương khó.
Thứ hai, là bản văn của Pa-pi-át : chúng ta cần phải dè dặt lắm, v́ bản văn này đă bị sửa chữa, hiểu sai.
Thứ ba, về lịch các tử đạo tiếng Xy-ri-a. Lịch này có lẽ do lịch tiếng Hy-lạp mà ra. Nhưng lịch tiếng Hy-lạp là một bản tóm và không được trung thực lắm. Và, nói chung, phải biết tính chất của một cuốn lịch các tử đạo và đừng t́m ở đó những ǵ không thuộc phạm vi của nó. Nhưng lịch các tử đạo chỉ làm chứng có các tập quán phụng vụ, có những ngày giỗ được nhắc đến trong nhiều Giáo Hội khác nhau. Đằng khác, khi đă định ngày Giáng sinh, nhiều Giáo Hội đă gắn liền vào lễ trọng này việc tưởng niệm những thánh lớn trong Tân Ước, thánh Tê-pha-nô và thánh Gia-cô-bê đứng đầu với tước vị là tử đạo tiên khởi. Thánh Gio-an được gắn liền với thánh Gia-cô-bê v́ bà con và v́ chỗ đứng của thánh Gio-an trong Tông đồ đoàn và trong các sách Tin Mừng, chứ không thấy nói là v́ tử đạo.
7. Nơi và ngày sáng tác
Theo Truyền thống, th́ thánh Gio-an đă trước tác sách Tin Mừng tại Ê-phê-sô, vào lúc tuổi già. Truyền thống này dựa trên lời chứng của thánh I-rê-nê. Thánh Gio-an có ở tại Ê-phê-sô, đó là điều chắc ; nhưng chưa chắc là thánh Gio-an đă trước tác sách Tin Mừng ở Ê-phê-sô. Có kẻ cho rằng thánh Gio-an đă trước tác tại An-ti-ô-khi-a v́ hai lư do. Thứ nhất, là lời chứng của thánh Ép-rem (306-378). Thứ hai là sách Tin Mừng thứ tư đă ảnh hưởng nhiều đến các thư của thánh I-nha-xi-ô thành An-ti-ô-khi-a (+ 115). Thiết tưởng không nên đưa ra một giải pháp quá đơn giản. Và đừng quên rằng sách Tin Mừng thứ tư là kết quả của một sứ vụ lâu dài được thi hành lần lượt tại nhiều giáo đoàn khác nhau.
C̣n về ngày sáng tác th́, như đă nói trên, các nhà Thánh kinh đề nghị là 90-100.
VII. NGÔN NGỮ VÀ LỜI VĂN
1. Ngôn ngữ
Sách Tin Mừng thứ tư được viết bằng tiếng Hy-lạp b́nh dân, gọi là “kôine”, thông dụng trong vùng Địa trung hải vào thế kỷ thứ I. Hơn nữa, tiếng gốc là tiếng Hy-lạp, nhưng do một người Sê-mít viết. Ảnh hưởng Sê-mít được biểu lộ trong từ ngữ. Khoa học phê b́nh ngày càng công nhận rằng ngôn ngữ và văn thể của sách là ngôn ngữ và văn thể Sê-mít.
1) Ngôn ngữ của sách đầy những từ ngữ Sê-mít
Ví dụ :
- Vô ra, nghĩa là đi lại thường ngày (10,9) ;
- Gieo vào ḷng, nghĩa là xui giục (13,2) ;
- Làm chân lư, nghĩa là
sống đúng theo
chân lư Chúa dạy (3,21) ;
- Việc ǵ cho tôi và cho bà, nghĩa là có sự lủng củng (2,4) ;
- Tên, nghĩa là chính con người (15,16 ; 17,6.11 tt.26) ;
- Dâm ô, nghĩa là phản bội Giao ước (8,41) ;
2) Văn thể của sách cũng mang màu sắc Sê-mít
Trước hết, ở trang đầu, tức là Lời tựa các mệnh đề bắt đầu bằng liên từ “và”, y như ở trang đầu sách Sáng thế kư. Thứ đến, tác giả thường dùng thể văn “mở đóng” hoặc “thủ vĩ ngâm” (tc Ga 1,4 và 20,31 ; 2,1-11 và 19,25-27 ; tc Jean (BJ/1955) 28-30). Sau hết, tác giả c̣n dùng các thể văn khác thuộc loại song song của ngữ pháp Híp-ri : đồng nghĩa (3,11 ; 6,35), đối cách (3,6 ; 3,36), diễn tiến (6,37), vừa diễn tiến vừa đối cách (5,44), ...
V́ thế, nếu chỉ tham chiếu ngôn ngữ Hy-lạp đời mà thôi, th́ không thể cắt nghĩa được những ư niệm chính yếu mà thánh Gio-an thường nói đến, như : Lời, vinh quang, chân lư, ánh sáng, xét xử, sự sống, t́nh yêu. Nhưng cần phải để ư đến cách sử dụng các từ ngữ ấy trong Thánh kinh Hy-lạp và để ư đến các từ ngữ Híp-ri tương ứng trong Thánh kinh Híp-ri.
2. Lời văn
Lời văn của thánh Gio-an không được uyển chuyển như lời văn của thánh Lu-ca, cũng không linh hoạt như lời văn của thánh Mác-cô. Từ vựng của thánh Gio-an thật là hạn hẹp, đi đi lại lại cũng chỉ có vài ư niệm chính yếu nói trên. Tuy nhiên, lời văn ấy đă đạt tới mật độ đầy hùng mạnh và sinh khí hiếm có.
Cảm giác đầu tiên về toàn diện là cảm giác một thứ độc điệu hùng tráng. Cảm giác ấy phát sinh do nhiều yếu tố : một số từ lập đi lập lại. Và những câu ngắn kế tiếp nhau như sóng lúc thủy triều lên mà thành một th́ vận đầy vẻ trang nghiêm phụng vụ.
Tuy trang nghiêm, lời văn ấy rất sống động. Thánh Gio-an có thiên tài truyền thông cho các danh từ trừu tượng một sự sống mới mẻ.
Thật là hồi hộp khi đọc những cuộc đối thoại chấm dứt bằng hành động ném đá :
“Tôi đă cho các ông thấy nhiều
việc tốt đẹp,
V́ việc nào mà các ông ném đá tôi ?”
(10,22-31 ;
8,31-59).
Không ǵ khổ tâm cho bằng khi nghe những câu như :
“Người ở giữa thế gian,
Nhưng thế gian lại không nhận biết Người.
Người đă đến nhà ḿnh,
Nhưng người nhà chẳng chịu đón tiếp” (1,10-11).
Và cảm thấy lâng lâng khi cuộc đối thoại đưa lên tận đỉnh cao vút :
“Thật, tôi bảo thật các ông :
trước khi có ông Áp-ra-ham,
th́ vẫn có tôi” (8,58).
Tuy nhiên, thánh Gio-an không ác nghiệt, cục cằn. Bằng chứng là ngài có những ư tưởng chan chứa t́nh yêu:
“Phải, Thiên Chúa yêu thế gian,
Đến nỗi đă ban Con Một” (3,16).
Và c̣n nhiều câu khác đầy tràn âu yếm, nói lên t́nh của mục tử đối với đàn chiên (10,11-15), t́nh nghĩa Thầy tṛ lúc vĩnh biệt (13,33), tiếng người Phục sinh gọi cô Ma-ri-a đang khóc bên mồ (20,16) và tâm trạng b́nh thản của Đức Giê-su trên thập giá : một vài lời để giao phó loài người cho Đức Ma-ri-a (19,26) hoặc để công bố bế mạc công tŕnh cứu độ (19,30).
VIII. BẢN VĂN
Bản văn của sách Tin Mừng thánh Gio-an thật là đông đặc và vắn gọn. Nhưng, khi truyền lại, người chép đă thêm vào những tiếng phụ, như : đại danh từ, túc từ, chủ từ, động từ, cho bản văn dễ hiểu hơn. V́ thế, đôi khi, bản văn không c̣n rắn rỏi như xưa.
Với khoa học ngày nay, các nhà Thánh kinh ra công t́m lại bản văn nguyên thủy. Nhà xuất bản khoa học nhất về môn này có lẽ là “The Greek New Testament” [6].
C̣n về cảo bản, th́ có lẽ Xi-nai-ti-cô là cảo bản trung thực nhất đối với nguyên văn.