CHÚ GIẢI

I. Ga 1,1-18 : NGÔI LƠI NHẬP THỂ

Nhập đề :

Theo truyền thống Sê-mít, thánh Gio-an bắt đầu sách ḿnh bằng gia phả Đức Giê-su. Nhưng, trái với thánh Mát-thêu, ngài viết gia phả thần linh thay v́ gia phả nhân loại.

Từ chính yếu của Lời tựa là “Lời” (Lôgôs). Tuy là một từ quen biết và quan trọng của sách Tin Mừng thứ tư, nhưng chỉ ở đây, (1,1-18), từ ấy mới có nghĩa đích thực là Ki-tô học (nghĩa này c̣n gặp trong Kh 19,13 và có lẽ trong 1Ga 1,1 nữa). V́ lẽ đó
cũng như v́ những lẽ khác, nhiều nhà Thánh kinh nghĩ rằng
lúc đầu Lời tựa này là một Thánh thi dùng trong phụng vụ để
ca tụng Đức Ki-tô là Thiên Chúa Ngôi Lời (tc Cl 1,15 ; 1Tm 3,16 ; Dt 1,3-4) ; sau này, thánh Gio-an mới lấy lại, sửa đổi và đặt làm Lời tựa cho sách Tin Mừng của ḿnh.

Nếu giả thiết này là đúng, th́ Ga 1,6-8.15 là những câu
tác giả thêm vào, để móc nối Thánh thi vào sách, nói rơ hơn, là để đề xướng ngay việc thánh Gio-an Tẩy giả làm chứng, và đồng thời để đề xướng những đề tài chủ yếu của tác phẩm.

Giả thiết này đă được nhiều người cho là đúng. Nhưng nhiều tác giả khác, sau khi nghiên cứu Lời tựa này, lại đi đến
một giả thiết khác. Theo họ th́ nguyên văn của Lời tựa là một Thánh thi Do-thái hoặc ngộ đạo ca tụng đức khôn ngoan được nhân cách hóa, hoặc ca tụng con người khuôn mẫu, thánh Gio-an Tẩy giả chẳng hạn ...[1].

Nhưng nguồn gốc của Lời tựa là ǵ đi nữa, sách Tin Mừng thứ tư đă lấy làm Lời tựa tuyên xưng gia phả thần linh của
Đức Giê-su
. Và lựa chọn Thánh thi ấy làm Lời tựa là một việc quan trọng. Trong những trang đầu của sách ḿnh, các tác giả Tin Mừng giới thiệu Đức Giê-su mỗi người một cách. Với tŕnh thuật về việc Đức Giê-su chịu phép rửa, thánh Mác-cô (1,9-11) giới thiệu người là Đấng Mê-si-a. Với hai tŕnh thuật về việc thánh Giu-se (Mt 1,18-25) và Đức Ma-ri-a (Lc 1,26-38) được truyền tin, hai thánh Mát-thêu và Lu-ca giới thiệu Người là con Thiên Chúa sinh bởi Đức Ma-ri-a đồng trinh. Nhưng, theo thánh Gio-an,
th́ giới thiệu như vậy là chưa đủ v́ hai lư do. Thứ nhất, trước khi là Đấng Mê-si-a và là Con Thiên Chúa theo nghĩa Cựu Ước,
Đức Giê-su đă là Ngôi Lời và là Thiên Chúa từ muôn thuở. Nên, nếu là gia phả, th́ phải nói đến nguồn gốc Người theo thần tính. Thứ hai, nếu nghe thánh Mác-cô giới thiệu mà thôi, thiên hạ
có thể lầm tưởng rằng Đức Giê-su là con nuôi (nghĩa tử) của
Thiên Chúa mà thôi. C̣n nếu nghe hai thánh Mát-thêu và Lu-ca giới thiệu mà thôi, thiên hạ lại có thể liên tưởng đến những chuyện thần tiên dân ngoại. V́ thế, tác giả sách Tin Mừng thứ tư thấy cần phải lấy Thánh thi nói trên làm Lời tựa, để giới thiệu Đức Giê-su là Ngôi Lời và là Thiên Chúa từ muôn thuở.


 

Chú giải :

Số 1

Lúc khởi đầu

Sách bắt đầu bằng những chữ : “Lúc khởi đầu.” Sách Sáng thế kư cũng bắt đầu như vậy. Từ đó, có thể biết rằng Thánh thi đă lấy lại mấy chữ đầu của sách Sáng thế kư, để nói lên và đối chiếu một số tư tưởng tương tự của đôi bên.

Thứ nhất, lúc đầu, chỉ có Thiên Chúa mà thôi. Cũng vậy, lúc đầu, chỉ có Ngôi Lời và Ngôi Lời cũng là Thiên Chúa. Thứ hai, Thiên Chúa sáng tạo vạn vật và Người đă nhờ Ngôi Lời mà sáng tạo. Thứ ba, lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo vũ trụ trong sáu ngày và nghỉ ngày thứ bảy. Th́ cũng vậy, Thiên Chúa Ngôi Lời đă bắt đầu hoạt động công khai bằng những sinh hoạt trong sáu ngày và kết thúc tuần sinh hoạt bằng dấu lạ đầu tiên.

đă có (en)

Đó là động từ êimi ở th́ quá khứ vị hoàn. Th́ ấy chỉ một t́nh trạng hoặc một hành động kéo dài trong thời gian, khác với th́ a-o-rít. Khi nói : “Ngôi Lời hiện hữu” mà dùng th́ quá khứ vị hoàn, thánh Gio-an muốn nói rằng Ngôi Lời đă hiện hữu, một hiện hữu kéo dài không bị hạn định trong thời gian.

Tư tưởng này càng nổi bật, khi so sánh động từ êimi ở câu một và động từ ginômai ở các câu 3,6 và 14. Khi nói “Ngôi Lời đă hiện hữu”, tác giả dùng động từ êimi ở th́ quá khứ vị hoàn, và khi nói : “Vạn vật được tạo thành” (câu 3), “có một người được Thiên Chúa sai đến” (câu 6) và “Ngôi Lời đă làm người” (câu 14), tác giả đă dùng động từ ginômai ở động từ a-o-rít. Nếu th́ quá khứ vị hoàn chỉ một t́nh trạng hoặc một hành động kéo dài trong thời gian, th́ th́ a-o-rít chỉ một t́nh trạng hoặc một hành động xác định, không kéo dài trong thời gian.

V́ thế, với những động từ và những th́ nói trên, tác giả muốn nói rằng Thiên Chúa đă sáng tạo vạn vật, đă sai phái thánh Gio-an Tẩy giả dọn đường và sai phái Ngôi Lời xuống thế làm người : những việc ấy đă xảy ra trong thời gian nào đó nhất định và chấm dứt trong thời gian ; nhưng, trái lại, Ngôi Lời đă hiện hữu trước thời gian và sau thời gian nữa. Chúng ta nói : Ngôi Lời hiện hữu từ muôn thuở.

(Ngôi) Lời

Từ Lôgôs (Lời) là một trong các từ Hy-lạp thường gặp
và độc đáo của sách Tin Mừng thứ tư. Nguồn gốc và ư nghĩa của các từ ấy là thuần túy Do-thái, tuy có liên hệ với tư tưởng Hy-lạp.

Trong Cựu Ước, Lôgôs có nghĩa là Lời Thiên Chúa nói ra, là điều Thiên Chúa mặc khải qua vũ trụ, qua biến cố và, nói chung, qua Thánh kinh (Cn 8,23-36 ; Hc 24,1-22). Tất cả những tư tưởng ấy đều gặp trong sách của thánh Gio-an. Nhưng, ở đây, thánh nhân c̣n nhấn mạnh rằng Ngôi Lời là lời nói cuối cùng của Thiên Chúa và c̣n là sự biểu thị hoàn hảo của Thiên Chúa. Quả vậy, Người là Thiên Chúa (Pl 2,6), là h́nh ảnh của Thiên Chúa vô h́nh (Cl 1,15), là phản ảnh vẻ huy hoàng và là h́nh ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa (Dt 1,3). Nhập thể, Người lại là sự biểu hiện tuyệt đẳng và cuối cùng của Thiên Chúa giữa ḷng nhân loại (1Ga 1,2).

(hướng về) Thiên Chúa

Ngôi Lời hướng về Thiên Chúa” (Ga 1,1). Thiên Chúa, ở đây, nghĩa là ǵ ? Trong Tân Ước, danh từ Thêôs với mạo từ (article) thường chỉ Chúa Cha. Thánh Phao-lô viết, chẳng hạn: “Ân sủng của Chúa Giê-su Ki-tô, t́nh thương của Thiên Chúa
(tôi Thêôu) và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần
” (2 Cr 13,13). Trong bản văn này, tác giả kêu tên rơ ràng Ngôi Con và Ngôi Thánh Thần ở những từ “Chúa Giê-su Ki-tô” (tôu Kuriôu Iesôu Khristôu) và “Thánh Thần” (tôu hagiôu pnêumatôs), th́ từ
tôu Thêôu c̣n lại phải hiểu là Chúa Cha (so sánh Ga 1,1 và 1,2). Ở Ga 1,1, danh từ Thêôs có mạo từ. Nên nói Ngôi Lời hướng về tôu Thêôs là nói Ngôi Lời hướng về Chúa Cha.

Chúng ta c̣n gặp tư tưởng này ở (Ga 7,29 ; 8,42 ; 16,28)

hướng về (Thiên Chúa Cha)

Người ta thường dịch là : Ngôi Lời ở gần hoặc ở cùng Thiên Chúa. Nhưng, giới từ Hy-lạp prôs chi phối đối cách có nghĩa là hướng về. Trong Thiên Chúa, thánh Gio-an phân biệt Chúa Cha và Chúa Con là hai Ngôi khác nhau. Nhưng Ngôi Lời hướng về Chúa Cha, hiện diện một cách mật thiết, như hai người thân hướng về nhau và hiện diện sát bên nhau. Đức Giê-su nói : “Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy” (Ga 14,11) [2].

Hơn nữa, tác giả c̣n so sánh Ngôi Lời với Luật Mô-sê
và Đức Khôn ngoan của Cựu Ước. Trong Cựu Ước cũng như
trong Do-thái giáo, có nói : “Luật Mô-sê và Đức Khôn ngoan ở nơi Thiên Chúa”. Mà, theo thánh Gio-an, th́ Ngôi Lời cũng ở
nơi Thiên Chúa, hướng về Thiên Chúa. Nên Ngôi Lời mới thực là luật Mô-sê và là Đức Khôn ngoan của Thiên Chúa.

Ngôi Lời là Thiên Chúa

Danh từ thêôs không có mạo từ (). Nó lại là thuộc từ, chứ không phải là chủ từ. Nghĩa là Ngôi Lời là Thiên Chúa,
chứ không phải Thiên Chúa là Ngôi Lời, như bản dịch Phổ thông (Deus est Verbum) có thể làm cho độc giả hiểu lầm.

Thế th́ Ngôi Lời, nghĩa là Chúa Con (Ga 1,14), không phải là Chúa Cha, nhưng cũng là Thiên Chúa như Chúa Cha. Đàng khác, Ngôi Lời là Thiên Chúa, nhưng không phải chỉ có Ngôi Lời là Thiên Chúa, v́ ngoài Chúa Cha (7,28 tt ; 8,42 ; 16,28), c̣n có Chúa Thánh Thần, như tác giả sẽ nói sau. Ở đây, tác giả chỉ muốn nói rằng Ngôi Lời cũng là Thiên Chúa.

Để có một ư niệm, tuy là sơ đẳng, về ngôn ngữ và tư tưởng của Thánh thi, chúng ta nh́n tổng quát số một của chương thứ nhất này. Lời tựa bắt đầu bằng ba mệnh đề ngắn gọn. Danh từ đơn sơ, nhưng tư tưởng vươn lên từng mệnh đề. Ở đây, động từ trong ba mệnh đề vẫn là êimi ; nhưng ư nghĩa của động từ ấy lại khác từng mệnh đề :

Trong mệnh đề thứ nhất, en là có, theo nghĩa hiện hữu : Ngôi Lời đă có, đă hiện hữu. Trong mệnh đề thứ hai, en là hiện diện, có mặt ở đâu : Ngôi Lời hiện diện trong tư thế ở gần
và hướng về Chúa Cha. Trong mệnh đề thứ ba, en là hô từ (copulatif) : Ngôi Lời là Thiên Chúa.

Số 3

Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành

Sau khi nói đến mối tương quan giữa Ngôi Lời và Chúa Cha, tác giả nói đến mối tương quan giữa Ngôi Lời và vạn vật. Ngôi Lời có từ muôn thuở; trái lại, vạn vật chỉ được sáng tạo trong thời gian mà thôi. Hơn nữa, chính nhờ Ngôi Lời mà vạn vật được tạo thành.

Nhưng, để nói lên tư tưởng ấy, thánh Gio-an không gọi Đức Ki-tô là Đấng Sáng tạo, một tước hiệu dành cho Chúa Cha
(tc Cl 1,15 tt). Ngôi Lời là nguyên nhân trung gian trong công tŕnh sáng tạo : “Nhờ Ngôi Lời”.

Trong Cựu ước, Thiên Chúa sáng tạo vạn vật nhờ lời
(Tv 33,6-9 ; Is 40,26 ; 48,3 ; St 1,3) hoặc nhờ Đức Khôn ngoan
của ḿnh (Cn 8,27-30). Trong Tân ước, nhất là trong sách của thánh Gio-an, Thiên Chúa sáng tạo vạn vật nhờ Ngôi Lời : tất cả công tŕnh sáng tạo ấy là của Chúa Cha và Ngôi Lời Chúa Con
(tc 1 Cr 8,6) [3].

vạn vật được tạo thành

Trong Cựu ước, ở sách Sáng thế (1,1-2,4a), khi nói
Thiên Chúa tạo thành vạn vật, tác giả dùng động từ ginômai vào th́ a-ô-rít (êgênêtô). Trong Tân ước, ở Ga 1,3, khi nói Thiên Chúa tạo thành vạn vật, tác giả cũng dùng động từ ấy vào th́ ấy. Đây là một sự trùng hợp cố ư.

Vả lại, tạo thành vạn vật trước khi có vạn vật, tác giả sách Sáng thế đă dùng một động từ đặc biệt bara và thần học gọi hành động ấy là sáng tạo, sáng tạo từ không không (ex nihilo), sáng tạo theo nghĩa tuyệt đối, chứ không phải theo nghĩa thường dùng, như khi ta nói óc sáng tạo.

Số 4

cái đă được tạo thành

Ở đây, có hai vấn đề : bản văn và ư nghĩa. Trước hết, là vấn đề bản văn.

Từ “đă được tạo thành” (hô gêgônên) thuộc số 3 hay số 4 ? Các nhà phê b́nh phân tách khác nhau ! Hai cách đọc quan trọng hơn hết là :


 

Cách thứ nhất :

3Nhờ Người (Ngôi Lời), vạn vật được tạo thành,
             Và không có Người, th́ chẳng có ǵ được tạo thành,
             cái đă được tạo thành
.

4Ở nơi Người, th́ là sự sống.

Cách thứ hai :

3Nhờ Người (Ngôi Lời), vạn vật được tạo thành.
             Và không có Người, th́ không ǵ được tạo thành
.

4Cái ǵ được tạo thành nhờ Người, th́ đó là sự sống.

Trước thế kỷ IV, chỉ có bản văn thứ hai mà thôi. Nhưng, sau đó, bản văn lại bị bỏ đi để rồi, ngày nay, lại được nhiều nhà Thánh kinh bênh vực. Các nhà Thánh kinh này (như Bultmann, Wikenhauser, Boismard, Cerfaux, Dupont, v.v.) lập luận một cách hữu lư như sau :

1) Bản văn thứ hai đă được chấp nhận và phổ biến khắp nơi trước thế kỷ IV. Trái lại, bản văn thứ nhất chỉ ra đời từ thế kỷ IV và chỉ phổ biến từ thế kỷ V mà thôi.

2) Nếu mệnh đề “cái đă được tạo thành” ở về số 3, th́ các mệnh đề trong hai số 3 và 4 mất hết thăng bằng đối đáp : mệnh đề cuối số 3 quá dài ; trái lại, mệnh đề đầu của số 4 lại quá ngắn, nhất là khi so sánh với ba mệnh đề tiếp sau của số 4. Ngoài ra, sự mất thăng bằng ấy cũng không thêm một chút ư nghĩa ǵ.

3) Ở số 1 và hai số 4-5, các mệnh đề được nối lại với nhau bằng “chữ móc”, các chữ móc ấy ở cuối mệnh đề trước và ở đầu mệnh đề sau.


 

Ví dụ :

số 1 :    ........ lôgôs
                        lôgôs .... thêôn
                        thêôs ...........

số 4-5 : ..............  Zoe
                         Zoe ....... phos
                         phos ...... skôtia
                         skôtia ..........

Nếu mệnh đề “cái đă được tạo thành” thuộc về số 3, th́ mệnh đề cuối của số 3 này có từ “đă được tạo thành” đến hai lần. Trái lại, nếu từ “đă được tạo thành” ném về số 4, th́ từ “đă được tạo thành” một lần nằm cuối mệnh đề sau hết của số 3 và, một lần, nằm đầu mệnh đề thứ nhất của số 4. Như thế, từ ấy làm chữ móc cho hai mệnh đề. Và, như thế, đúng là lối hành văn như ở số 1 và 4-5.

số 3 :    ...............
                        .............. được tạo thành.
                        Cái ǵ được tạo thành .......

4) Cách đọc thứ nhất đă xuất hiện vào thế kỷ IV, điều này dễ hiểu. Quả thực, đầu thế kỷ thứ IV, giáo phái A-ri-ô chủ trương rằng Đức Ki-tô Ngôi Lời không phải là Thiên Chúa theo đúng nghĩa, mà chỉ là dụng cụ của Thiên Chúa trong công việc sáng tạo. Để minh chứng, họ dẫn nhiều đoạn Thánh kinh, nhưng hiểu những đoạn ấy theo ư riêng ḿnh. Ga 1,3-4 là một trong những đoạn Thánh kinh ấy. Giáo phái này bị Giáo hội lên án năm 325 [4]. Đằng khác, bản văn thứ nhất chỉ bắt đầu xuất hiện vào lúc chống nạn A-ri-ô. Nên chắc là bản văn thứ nhất được đem vào và phổ biến để chống nạn A-ri-ô ; c̣n bản văn thứ hai mới là bản văn nguyên tác [5].

Bây giờ, chúng ta t́m hiểu ư nghĩa. Tiền từ của đại từ “ên auto” có lẽ không phải là “cái đă được tạo thành [6], mà là Ngôi Lời của Thiên Chúa [7]. Nên số 4 phải đọc là : Cái đă được tạo thành nhờ Người, th́ đó là sự sống. Nghĩa là sức sống của vạn vật đều bắt nguồn trong Ngôi Lời của Thiên Chúa. Ngôi Lời là nguồn mạch của tất cả những ǵ có thể đưa loài người đến cuộc sống trọn vẹn, cuộc sống tự nhiên cũng như cuộc sống siêu nhiên.

Số 5

không lấn át ánh sáng

Ở đây, động từ lambano, katalambano có thể có nhiều nghĩa.

Nghĩa thứ nhất là “hiểu biết” (Ga 1,10-13 ; Ep 3,18 ;
Pl 3,12-13 ; Cv 10,34 ; 4,13). Ánh sáng ám chỉ Ngôi Lời, bóng tối ám chỉ loài người. Ngôi Lời đă biểu hiện qua công tŕnh sáng tạo (1 Cor 1,21 ; Rm 1,19-23 ; Kn 13,1-9); nhưng loài người đă không hiểu biết, không nhận ra Người.

Nghĩa thứ hai là “lấn át” (7,33 tt ; 8,12 tt ; 8,21 ; 12,31.32 ; 14,30 ; 1 Ga 2,8.14 ; 4,4 ; 5,18). Ánh sáng ám chỉ Ngôi Lời ;
bóng tói ám chỉ các quyền lực ác thần. Ngôi Lời đă biểu hiện, nhưng các quyền lực ác thần không tài nào lấn át nổi.


 

Số 9

 đến

Bây giờ, tác giả bắt đầu đề cập đến việc Ngôi Lời đến với thế gian, để ảnh hưởng trên định mạng loài người.

Theo bản văn, th́ ai đến trong thế gian ? Động tính từ hiện tại Hy-lạp êrkhômênôn có thể ở trong hai trường hợp sau đây:

- Êrkhômênôn là đối cách giống đực, định nghĩa panta anthropôn (mọi người). Như thế, nghĩa của số 9 là : Ngôi Lời là ánh sáng chiếu soi mọi người đến trong thế gian.

- Nhưng động từ ấy cũng có thể là chủ cách giống trung, định nghĩa phos (ánh sáng). Như thế, nghĩa của số 9 là : Ngôi Lời là ánh sáng chiếu soi mọi người. Ánh sáng đến với thế gian.

Có lẽ giả thuyết thứ hai hợp lư hơn, v́ “ánh sáng đến trong thế gian” là cách nói đặc thù trong văn thể của thánh Gio-an. Đọc, chẳng hạn Ga 3,19 : “Ánh sáng đă đến thế gian, nhưng người ta đă chuộng bóng tối hơn ánh sáng” (xem thêm Ga 12,46 ; 9,5.39). Th́, ở đây, cũng vậy, phải đọc là : “Ngôi Lời là ánh sáng chiếu soi mọi người. Người đến với thế gian, (chứ không phải mọi người đến trong thế gian)”.

Vả lại, đem các chữ “đến trong thế gian” về cho các chữ “mọi người” cũng không có nền tảng. Quả thực, như Lagrange nhận xét, các thầy tiến sĩ Do-thái nói hoặc “các người” (theo nghĩa loài người), hoặc nói “những (kẻ) đến trong thế gian”, chứ không nói “những người đến trong thế gian”. Nói cách khác, trong văn chương Do-thái, các chữ “những kẻ đến trong thế gian” đồng nghĩa với các chữ “những ngườivà thay thế những chữ ấy, chứ không chỉ định, xác định những chữ ấy.


 

đích thực

Trong sách Tin Mừng thứ tư, phải phân biệt hai từ alethinôs alethes. Alethes là thật, chứ không láo. C̣n Alethinôs là thật chứ không giả, không “dỏm”. Thiên Chúa chúng ta là Chúa thật (alethinôs : Ga 17,3 ; 1Ga 5,20) ; trái lại, ngẫu tượng không phải là Chúa thật (tc 1 Ga 5,21). Cũng vậy, bánh Thiên Chúa ban, mới là bánh đích thực (alethinôs) ; trái lại, man-na chỉ là bánh giả hiệu (Ga 6,31-32).

Vậy, Đức Giê-su là ánh sáng thật (alethinôs), tức là Người mới đích thực, là ánh sáng, hội đủ mọi đặc tính của ánh sáng. Từ nay, mọi người, bất luận xuất xứ từ đâu hay ở địa vị nào, cũng có thể và c̣n phải lănh nhận nơi Đức Giê-su ánh sáng thật, nghĩa là lời chỉ giáo, nếu muốn sống thật, sống trọn vẹn.

đến trong thế gian

Sự sáng đến trong thế gian. Hỏi có phải thánh Gio-an bắt đầu nói đến sự việc Ngôi Hai Nhập thể chưa ?

Có kẻ (Lagrange, Bultmann) cho rằng tác giả muốn nói đến sự kiện Nhập thể, v́ lẽ tác giả đă nói đến thánh Gio-an Tiền hô. Nhưng nhiều giáo phụ lại cho rằng ở đây, Thánh thi chỉ muốn nói đến những cách Ngôi Lời hiện diện trước ngày Nhập thể : hiện diện khi sáng tạo (1,10), khi lựa chọn dân Ít-ra-en làm dân riêng (1,11). Sau nữa, c̣n có giả thuyết thứ ba, tổng quát hơn hai giả thuyết trên. Động tính từ êrkhômênôs không ám chỉ một thời gian nhất định, (như biến cố Nhập thể chẳng hạn), nhưng ám chỉ một sự việc kéo dài, bao gồm tất cả những lần Người đến với thế gian.

Như vậy, câu “Ánh sáng đến trong thế gian” ở Ga 1,9 có nghĩa là Ngôi Lời đă đến nhiều lần :

            đến khi sáng tạo (1,10),

            đến một cách đặc biệt với dân Ít-ra-en (1,11)

            và đến khi nhập thể nữa (1,14).

Số 10

Người ở giữa (thế gian)

Ngôi Lời ở giữa thế gian bằng ba cách : một là sáng tạo, hai là dạy dỗ dân Ít-ra-en, ba là nhập thể. Theo cách thứ nhất, sáng tạo thế gian là ở giữa thế gian. Cách nói này thường gặp trong văn chương Do-thái giáo và văn chương minh triết nữa
(Hc 24,5-31).

V́ lẽ mệnh đề tiếp theo (1,10b) nói về việc Thiên Chúa sáng tạo qua trung gian Ngôi Lời, nên trong mệnh đề này
(Ga 1,1), phải hiểu theo nghĩa thứ nhất : Ngôi Lời ở giữa thế gian, v́ lẽ Thiên Chúa đă nhờ Ngôi Lời mà sáng tạo thế gian.

thế gian

Trong sách Tin Mừng thứ tư, từ “thế gian” có nhiều nghĩa, rộng hoặc hẹp, là vũ trụ, trái đất và nhất là loài người (1,3.10.19), và loài người là thành phần chủ yếu của thế gian.

Nói chung, th́ thế gian không xấu, v́ chính Thiên Chúa đă tạo thành. Do đó, Thiên Chúa yêu thế gian và sai Con Một ḿnh cứu độ thế gian (3,15-17). Nhưng v́ đă từ khước Người Con Một của Thiên Chúa, nên “thế gian” bao hàm ư nghĩa không tốt,
là toàn thể các quyền lực chống đối Đức Ki-tô và các Ki-tô hữu (Ga 17).

Như vậy, theo sách của thánh Gio-an cũng như theo
Do-thái giáo, trong toàn thể vũ trụ, có hai thế gian, thế gian này và thế gian sắp đến. “Thế gian này” (8,23 ; v.v.) phục ṭng quyền lực của Xa-tan (12,31 ; 14,30 ; 16,11). Nhưng thế gian sắp đến
mới có sự sống muôn đời (12,25).

Nếu hiểu “Ngôi Lời ở giữa thế gian” theo nghĩa
Thiên Chúa đă nhờ Ngôi Lời mà sáng tạo thế gian, th́ từ thế gian ở Ga 1,10 phải hiểu là tất cả loài người và loài vật, v́ tất cả vũ trụ đều nhờ Người mà được sáng tạo.

nhận biết

Động từ Hy-lạp Ginosko có hai nghĩa. Thứ nhất là nghĩa Hy-lạp, nói về khía cạnh nhận biết, hiểu biết mà thôi. Thứ hai là nghĩa Sê-mít, nói về khía cạnh hiểu biết và c̣n nói về khía cạnh yêu thương nữa. Ở đây, phải hiểu theo nghĩa thứ hai : hiểu biết Thiên Chúa là nhận biết Người và c̣n tôn kính mến yêu Người nữa (tc Cr 22,15-16).

Thế gian phải nhận biết và mến yêu Ngôi Lời, v́ từ vạn vật, thế gian có thể đi đến Tạo hóa như từ kết quả đi đến nguyên nhân  (tc Rm 1,19-23 ; Kn 13,1-9). Nhưng thế gian đă ch́m đắm trong bóng tối là tội lỗi, nên đă khước từ ánh sáng là Ngôi Lời (3,19-21 ; 12,31 ; 14,17 ; 17,25).

Cựu ước cũng đă nhiều lần nói đến thái độ của thế gian,
là thế gian không nhận biết mến yêu Đức Khôn ngoan của
Thiên Chúa (Cr 3,10-14.23.31 ; Cn 1,2 ; 4,1 ; 9,10 ; 30,3 ;
Hc 6,27 ; 18,28). Ở đây (Ga 1,10), thay v́ Đức Khôn ngoan,
tác giả nói “Ngôi Lời”.

Số 11

đến nhà ḿnh, nhưng người nhà

Ngôi Lời đă đến nhà ḿnh, nhưng người nhà không chịu đón tiếp. Nhà Người ở đâu ? và người nhà là ai ? Có hai giả thuyết khác nhau.

Thứ nhất, "nhà ḿnh” có thể chỉ loài người nói chung. Ở số trên (10), thế gian chỉ loài người nói chung. Mà thế gian là sở hữu của Người. Nên thế gian (10) là nhà của Người, loài người là người nhà của Người (11) [8].

Thứ hai, “người nhà” có thể chỉ dân Do-thái. Theo giả thuyết thứ nhất, từ “thế gian” ở số 10 và từ “nhà ḿnh, người nhà” ở số 11 cũng là một. Tuy nhiên, không thể được. Theo số 10, th́ Ngôi Lời đă ở (en) với thế gian. Nhưng theo số 11, th́ Ngôi Lời c̣n đến (elthên), c̣n đi thêm một bước nữa trên con đường từ trời xuống thế. Nên từ “nhà ḿnh” và từ “người nhà” của số 11 phải hiểu khác với thế gian của số 10. Như vậy, “nhà ḿnh” của số 11 có thể hiểu là Đất Hứa, và người nhà là dân Ít-ra-en, theo nghĩa ngôn sứ, Ê-đê-kien (37,27) nói : Người ở giữa dân Người qua ông Mô-sê và các ngôn sứ, và phải cắt nghĩa Ga 1,11 như sau :

Lời của các ngôn sứ và nhất là Luật Mô-sê là Lời Chúa. Mà ông Mô-sê và sau đó, các ngôn sứ đến cùng dân Chúa qua các thời đại. Nên có thể nói là, qua Luật Mô-sê và lời các ngôn sứ, Ngôi Lời đă đến nhà ḿnh.

Số 12

Tin vào Danh Người

Đây là thành ngữ Thánh kinh quen thuộc trong sách của thánh Gio-an (Ga 2,23 ; 3,18 ; 1 Ga 3,23 ; 5,13). Trong ngôn ngữ Sê-mít, danh ai chính là người ấy. Tin vào Danh Ngôi Lời là
tin vào Ngôi Lời. Tin vào Ngôi Lời là nh́n nhận Người là
Con Thiên Chúa, là Đấng Mặc Khải Thiên Chúa. Hơn nữa, tin như vậy cũng là khẩn cầu Người v́ tin Người quyền phép.

Tin vào Ngôi Lời (3,15), con người được trở thành con Thiên Chúa (Ga 3,3-7 ; 11,52 ; 1 Ga 3,1-2.10 ; 3,2.4.18)


 

Số 13

do khí huyết, do ư muốn

Trong Tân ước, “thịt và máu” chỉ loài người đối với
Thiên Chúa (Mt 16,17 ; 1 Cr 15,30). Ở Ga 1,13, “thịt và máu” cũng hiểu theo nghĩa ấy.

Trong việc thụ thai, có khí huyết, xác thịt và phái nam. Khí huyết là hạt giống, xác thịt là sự lôi cuốn tự nhiên và phái nam là ư muốn của phái chủ động.

Trong bản văn Ga 1,13, một số chứng liệu, nhất là các bản dịch La-tinh ghi hoặc danh động từ gênnao ở số ít (êgênnethe). Trong trường hợp ấy, số 13 có nghĩa là Ngôi Lời không do loài người, nhưng do Thiên Chúa sinh ra. Như thế, tác giả ám chỉ
việc Ngôi Lời do Chúa Cha sinh ra từ muôn thuở. Nhưng,
đồng thời, tác giả cũng ám chỉ việc Đức Giê-su không do loài người sinh ra, nhưng do Đức Ma-ri-a và quyền năng Thiên Chúa (tc Mt 1,16.18-23 ; Lc 1,26-38).

Nhưng đa số cảo bản Hy-lạp ghi động từ ở số nhiều (êgênnêthesan). Trong trường hợp ấy, số 13 có nghĩa là : Ai tin (chứ không phải Ngôi Lời), ai tin, th́ sẽ được làm con Thiên Chúa. Họ được như vậy, không phải do khả năng con người, mà do quyền năng Thiên Chúa.

Với đa số, chúng ta theo bản văn thứ hai này.

Số 14

làm người  (sarx)

Sarx là thịt. Trong Thánh kinh, thịt không phải chỉ xác, mà c̣n chỉ cả hồn, tất cả con người. Vả lại, con người chưa hẳn là xấu xa và đối lập với Thiên Chúa. Có thế, Ngôi Lời mới làm người được.

Ngôi Lời làm người không có nghĩa là, khi đă làm người, Ngôi Lời không c̣n là Thiên Chúa. Ở đây, chỉ có cộng, mà không có trừ. Ngôi Lời vẫn là Thiên Chúa và, sau khi nhập thể, Ngôi Lời lại c̣n là con người. 4,2 đại khái, viết : Ai tuyên xưng Đức Giê-su Ki-tô đă đến trong xác thịt, người ấy thuộc về Thiên Chúa.

Con người chưa hẳn là xấu xa. Tuy nhiên, con người là con vật mỏng mảnh và, do đó, sẽ phải chết. Như thế, Nhập thể là một Mầu nhiệm cao cả, bởi lẽ Ngôi Lời vô hạn mà lấy xác phàm
hữu hạn, làm người như chúng ta trong mọi sự, ngoại trừ tội lỗi
(Dt 4,15), nghĩa là ngoại trừ những ǵ mâu thuẫn với Thần tính.

Trong số 14, tác giả nhấn mạnh mầu nhiệm Thiên Chúa toàn năng làm người yếu ớt (Ga 3,6 ; 17,2 ; St 6,3 ; Tv 56,5 ;
Is 40,6). Và có lẽ, qua mầu nhiệm ấy, tác giả c̣n nhằm sửa sai Nhóm “Đô-kê" theo đó Nhập thể chỉ là biểu kiến (4,2-3).

ở giữa chúng ta

Thánh Gio-an dùng động từ skenôo. Lúc đầu, động từ này có nghĩa là “cắm lều, ở lều”, nhưng, về sau, động từ ấy mất nghĩa gốc và chỉ c̣n có nghĩa đơn sơ là “”. Tuy nhiên, trong
Thánh kinh, từ ấy đă thành từ chuyên môn để chỉ sự Thiên Chúa ở giữa loài người. V́ thế mà thánh Gio-an đă dùng từ ấy khi nói về Ngôi Lời ở giữa loài người chúng ta.

Thiên Chúa “cắm lều” giữa chúng ta, thế nghĩa là ǵ ? Có kẻ nói, “cắm lều” là đến và ở tạm thời. Người du mục cắm lều nay đây mai đó. Cũng vậy, Ngôi Lời chỉ đến và ở giữa chúng ta một thời gian mà thôi, v́ Người phải về cùng Chúa Cha. Nhưng, nói đúng hơn, từ “cắm lều” muốn nhắc lại việc Thiên Chúa ở giữa dân Người trên đường từ Ai-cập về Đất Hứa. Trong thời gian Xuất hành ấy, dân Ít-ra-en sống dưới lều như dân du mục. Thiên Chúa đă hứa cùng ông Mô-sê rằng Người sẽ cùng dân Người lên Đất Hứa. Để giữ lời hứa và và nói lên sự hiện diện của Người giữa dân Ít-ra-en, Thiên Chúa bảo ông Mô-sê dựng cho Người một lều giữa các lều dân Ít-ra-en. Ngày khánh thành, Thiên Chúa cho lều của Người tràn ngập những áng mây và vinh quang rực rỡ, dễ ra dấu cho dân biết Người hiện diện trong lều. Thế là Thiên Chúa cắm lều giữa dân Người và ở lều như dân Người (Xh 33,9-10).

Từ đó, động từ “sakhan” trong tiếng Híp-ri cũng như
động từ “akenôo” trong tiếng Hy-lạp được dùng khi nói đến việc Thiên Chúa ở giữa dân Ít-ra-en, tuy hai động từ ấy, theo ngữ nguyên, có nghĩa là “cắm lều, ở lều” (Ds 12,5 ; 2 Sm 7,6 ;
Tv 78,60 ; Ge 4,17.21 ; Dcr 2,14 ; Hc 24,8).

Trong Cựu ước, Thiên Chúa ở giữa dân Người : Người ở dưới lều, Người ở trong Đền thờ (Xh 25,8 ; Ds 35,34) và Thiên Chúa, Đấng Khôn ngoan, c̣n ở trong Lề luật Mô-sê (Hc 24,7-22 ; Br 3,36-44). Nhưng, trong Tân ước, Thiên Chúa c̣n ở giữa dân Người một cách gần gũi hơn nhiều. Người hiện diện bằng chính bản thân và một cách hữu h́nh, chứ không bằng áng mây hoặc lề luật và một cách vô h́nh như xưa. Quả vậy, Thiên Chúa Ngôi Lời đă lấy xác phàm hữu h́nh để ở giữa chúng ta và đưa chúng ta từ thế giới chóng qua đến thế giới vĩnh cửu.

Vinh quang của Người

Trong Cựu ước, nói “vinh quang của Thiên Chúa” là nói “Thiên Chúa tỏ ḿnh, xuất hiện”. Người xuất hiện bằng quyền năng, một quyền năng đưa đến vinh quang. Nói chung, những phép lạ Thiên Chúa làm lúc dẫn đưa dân Người từ Ai-cập về Đất Hứa, là những dấu chỉ và là những kết quả của quyền năng và vinh quang Thiên Chúa (Xh 15,1-7 ; 16,7-8).

Thánh Gio-an hiểu từ “vinh quang” theo nghĩa này. Quả vậy, đối với ngài, hóa nước ra rượu (2,11), cho kẻ chết sống lại (11,40), ... là những phép lạ bày tỏ quyền năng và vinh quang của Đức Giê-su và cũng là của Thiên Chúa. Và, trong các phép lạ ấy phải kể trước hết sự kiện phục sinh (13,31 ; 17,2-5 ; 12,23.28)
và sự hiệp nhất giữa các môn đệ (17,22-23) [9]. V́ thế, câu “Chúng ta đă được nh́n thấy vinh quang của Người” có nghĩa là chúng ta đă được nh́n thấy các phép lạ Người làm lúc sinh thời. Những phép lạ khả dĩ làm cho thiên hạ phải tôn vinh Người.

Nhưng, ở đây chắc là thánh Gio-an có một ư tưởng rơ rệt hơn : ngài liên tưởng đến hôm Đức Giê-su biến đổi h́nh dạng. Hôm ấy, dung mạo Đức Giê-su bỗng đổi khác, ba thánh tông đồ Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an thấy Người chói ḷa “vinh quang” (Lc 9,32). Đồng thời, Chúa Cha phán : “Đây là Con yêu dấu của Ta” (Mt 17,5). “Con yêu dấu” trong sách nhất lăm và “Con Một” trong sách Tin Mừng thứ tư là hai cách nói đồng nghĩa, dịch cùng một từ Híp-ri [10]. Bây giờ, chúng ta so sánh câu Ga 1.14 với các tŕnh thuật về sự Đức Giê-su biến đổi h́nh dạng. Ở các tŕnh thuật có hai yếu tố : các tông đồ nh́n thấy vinh quang của Đức Giê-su và Đức Giê-su được Chúa Cha công bố là Con Một của Người. Mà, ở Ga 1,14, cũng có hai yếu tố ấy : Chúng ta đă được nh́n thấy vinh quang của Người (Đức Giê-su), vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người là Con Một. V́ thế, khi viết Ga 1,14, tác giả liên tưởng đặc biệt đến sự Đức Giê-su biến đổi h́nh dạng, một sự kiện mà chính tác giả đă được chứng kiến.

Nói tóm lại, vinh quang của Thiên Chúa là những ǵ làm cho loài người nhận biết Thiên Chúa hiện diện và quyền phép vinh quang ấy rực rỡ đến nỗi người phàm nh́n thấy là có thể chết ngay (Xh 24,16 tt). V́ thế, muốn xuất hiện cho loài người nh́n thấy, vinh quang ấy phải có cái ǵ phủ che, thời xưa là áng mây, ngày nay là nhân tính của Ngôi Lời Nhập thể. Tuy nhiên, vinh quang ấy, người phàm cũng được nh́n thấy đôi khi, như nhân dịp
Đức Giê-su biến h́nh dạng (tc Lc 9,32.35) hoặc qua các phép lạ (2,11 ; 11,40 ; tc 14,24-27 và 15,7 ; 16,7 tt), nhất là sự kiện Phục sinh là một cuộc xuất hiện thập phần vinh quang (17,5 tt) [11].

ân sủng và chân lư

Hai từ “ân sủng” và “chân lư” dịch hai từ Hy-lạp kharis alethêia hoặc, đi ngược lên Cựu ước, hai từ Híp-ri khesed
emeth. Trong Cựu ước, hai từ này thường đi với nhau và thường có nghĩa là “t́nh thương” và “thành tín”. Nói Thiên Chúa giàu t́nh thương và thành tín, là nói Thiên Chúa, trước sau như một, luôn luôn yêu thương và tha thứ  (Xh 34,6 ; Tv 25,10 ; 40,11 ; 61,8 và nhất là Tv 89). V́ thế, chúng ta có thể dịch và hiểu Ga 1,14 theo nghĩa : như Chúa Cha, Ngôi Lời cũng giàu yêu thương
và thành tín, cũng trọn niềm yêu thương, tha thứ [12].

số 16

Ơn này đến ơn khác

Đây là một chỗ đa nghĩa và, đại khái, được hiểu như sau:

1) ân sủng ngày một dồi dào trong thời Tân ước ;

2) ân sủng thời Tân ước thay thế ân sủng thời Cựu ước ;

3) ân sủng của chúng ta đổi lại, xứng hợp
                                    với ân sủng của Người Con Một.

V́ giới từ anti không có nghĩa (chồng chất) “trên nhau”, chúng ta không theo cách cắt nghĩa thứ nhất, chúng ta có thể hiểu theo hai cách sau, nhất là cách thứ hai. Nếu vậy, thiết tưởng thánh Gio-an muốn nói rằng : Ân sủng mà, ngày xưa, Thiên Chúa đă ban cho dân Ít-ra-en qua ông Mô-sê (1,17), th́ nay, Người lại ban cho chúng ta qua Người Con Một [13].

số 18

cho biết Thiên Chúa

Người phàm không thể nh́n thấy Thiên Chúa mà vẫn sống (Xh 33,20 ; Đnl 5,24). Nói cách khác, tự sức ḿnh, người phàm không thể nào hiểu biết Thiên Chúa (Đnl 4,12 ; Tv 97,2). Trái lại, Người Con Một hiểu biết Thiên Chúa v́ Người ở trong ḷng
Thiên Chúa, nghĩa là Người thông phần sự sống Thiên Chúa
một cách viên măn. Và, v́ thế, chỉ có Người mới có khả năng cho nhân loại biết Thiên Chúa và sống sự sống của Thiên Chúa. Người mặc khải và diễn tả Thiên Chúa qua chính bản thân cũng như qua lời nói và việc làm của Người. Nếu muốn thông phần sự sống và ân sủng thiêng liêng, người phàm phải nhận biết và tin vào Người Con Một ấy.

Nội dung

Với lời tựa danh tiếng này (Ga 1,1-18), thánh Gio-an giới thiệu Đức Giê-su : Người là Ngôi Lời xuống thế làm người để cứu độ.

Ngôi Lời có trước muôn vật. Người khác với Chúa Cha, nhưng cũng là Thiên Chúa : Ngôi Lời là Chúa Con (1,1).

Chúa Cha đă nhờ Ngôi Lời mà sáng tạo muôn loài  
(1,2-3) ; tc St 1,1 ; Cn 8,30). Ngôi Lời là nguồn sống của muôn loài. Ngôi Lời cũng là ánh sáng cho muôn vật. Ở đây, cũng như trong toàn thể cuốn sách, tác giả đă nói đến sự sống, “Ánh sáng”, “Chân lư” ; h́nh như tác giả không thể nói về Ngôi Lời mà không nói đến những yếu tố ấy. Mà cũng đúng, v́ đó là những đặc tính của Ngôi Lời và, đồng thời, cũng là những ước vọng của muôn vật.

Ngôi Lời đến thế gian, để đem cho thế gian những yếu tố ước vọng. Ngôi Lời đến qua ba giai đoạn :

Trước hết, Ngôi Lời đến qua công tŕnh sáng tạo muôn vật (1,10) ;

Thứ đến, Ngôi Lời đến qua công tŕnh tuyển chọn dân
Ít-ra-en (1,11) ;

Sau hết, Ngôi Lời đến qua công tŕnh Nhập thể (1,14).

Trong cả ba giai đoạn, thế gian đă không đón tiếp
Ngôi Lời. Nhưng ai đón tiếp, Ngôi Lời ban cho họ quyền làm
con Thiên Chúa. Họ làm con Thiên Chúa như vậy, không phải là do người phàm, mà là do Thiên Chúa (1,12-13).

Ngôi Lời đă làm người và ở giữa chúng ta (1,14).

Ngôi Lời vinh quang và trọn niềm yêu thương tha thứ.

Do đó, chúng ta cũng được thông phần t́nh thương.

Và, cũng chỉ do đó, chúng ta mới nhận biết Chúa Cha.

 

[1] BJ, 1529, a.

[2] TOB, 320.

[3] TOB, 291, c.

[4] tc L. Boyer, Dictionnaire théologique,
                                                Tournai 1963, Desclée, t Arianisme.

[5] tc M. E. Boismard, Le Prologue de Saint Jean, Paris 1953, Cerf,
                                                p. 25-32.

[6] A. Loisy.

[7] Origenes, Boismard, Wikenhauser.

[8] Bultmann, Wikenhauser.

[9]  tc TOB, 2546, u.

[10]  tc M. E. Boismard, Prologue, 72.

[11] tc BJ, 110, i.

[12] tc M. E. Boismard, Prologue, 75-79 ; TOB, 2546, v ; BJ, 1530, d.

[13] M. E. Boismard, Prologue, 83-84.