Tâm Linh Vào Đời

 

 

 

Số 05 Ngày 13.01.2006

 

Chúa gọi    trang 1

Đó là khúc nhạc dạo đầu dẫn vào con đường tâm linh huyền nhiệm.

Nghe Chúa kêu mời, chúng ta bắt đầu Hành tŕnh sống đạo với 4 bước căn bản

Từ khao khát tới Loan báo   trang 4

Trong quá tŕnh sống đạo, giai đoạn quan trọng nhất là: gặp gỡ Chúa.

Từ cảm nghiệm lung linh này, chúng ta biết rằng:

Chúng ḿnh đă thực sự ở lại trong Người    trang 6

Rồi khi chia sẻ, chúng ta nghiêm chỉnh đặt lại vấn đề với anh chị em

Hiển linh: Chuyện của Thiên Chúa hay của loài người    trang  9

Cuối cùng, chúng ta nhắc nhở nhau

Đừng an tâm và ngủ quên trong tôn giáo chân chính của ḿnh   trang 12

 

 

Chúa gọi

Trần Mỹ Duyệt

 

Bạn đă bao giờ được “Chúa gọi” chưa?

Nếu chưa, bạn có muốn nghe “Chúa gọi” không? Bạn nghĩ sao về việc Chúa gọi bạn, nhưng tôi, tôi thâm tín và xác tín rằng ḿnh đă được “Chúa gọi”. Không những một lần, mà Ngài đă gọi tôi nhiều lần. Có điều là lần th́ tôi nghe, lần th́ tôi không nghe. Và lần th́ tôi nghe và tôi làm, cũng có lần tôi nghe nhưng lại không làm những ǵ Ngài bảo tôi phải làm.

 

Thông thường, khi nghe hai tiếng “Chúa gọi”, phần đông chúng ta, cách riêng những Kitô hữu Việt Nam, thường cho rằng đó là tiếng gọi theo đời sống tu tŕ, tiếng gọi để làm linh mục. Nhưng ít người nghĩ rằng, đó là tiếng Chúa gọi mỗi người để làm việc Ngài muốn. Ngài gọi chúng ta đến gần với Ngài hơn. Thí dụ, người cha gọi người con để bảo ban, khuyên nhủ, hoặc trao đổi những suy tư và nói truyện với con ḿnh.

 

Thật vậy, Chúa đă gọi tôi và gọi bạn từ lâu lắm rồi. Thánh Kinh đă ghi nhận: Thiên Chúa đă gọi tôi từ lúc mới sinh. Ngài đă gọi tên tôi ngay khi tôi c̣n trong ḷng thân mẫu (Isaia 49:1). Ngài không những gọi chúng ta bằng tên gọi của riêng ḿnh, mà c̣n gọi chúng ta là “con” qua Đức Kitô, người Con duy nhất của Ngài, và cũng là Đấng Cứu Chuộc chúng ta: “Con là Con Cha, hôm nay Cha đă sinh ra Con” (Ps 2:7).

 

Chúa Cha sinh ra Chúa con từ muôn thuở, như vậy, qua Chúa Con, chúng ta cũng đă được Chúa cha biết đến không phải hôm qua, hôm nay, ngày mai, mà là từ muôn thuở và măi măi. Ngài không gọi chúng ta ra khỏi hư vô, mà c̣n kêu đích danh của từng người. Và khi chúng ta đă có mặt trên trần gian, th́ Ngài vẫn gọi chúng ta bằng cách trao cho chúng ta những nhiệm vụ khác nhau, và hơn nữa, gọi chúng ta đến gần với Ngài hơn.

 

1. CHÚA GỌI RIÊNG MỖI NGƯỜI:

Như tiên tri Samuen được Thiên Chúa gọi lúc cậu đang ngủ trong Đền Thờ Giêrusalem. Các Tông Đồ được Chúa gọi trong khi đang lo sinh kế, thả lưới, hoặc vá lưới. Chúng ta mỗi người cũng được Chúa gọi đi vào một cuộc sống riêng tư và cần thiết cho xă hội, cũng như Giáo Hội.

Với những người Ngài gọi vào đời sống tu hành, Ngài trao cho mỗi người một địa vị riêng biệt: nữ tu, nam tu, linh mục, giám mục, hồng y, hay giáo hoàng.

Với những người Ngài gọi sống đời hôn nhân gia đ́nh, Ngài cũng trao cho mỗi người một địa vị khác nhau: làm chồng, làm vợ, làm cha, làm mẹ, làm con, cháu, làm anh chị em với nhau trong cùng một gia đ́nh. Ngoài ra, v́ phải sống giữa ḍng đời, phải tham gia vào nhiều công tác xă hội, Ngài lại kêu gọi và trao cho mỗi người một vai tṛ khác nhau. Thí dụ, bác sĩ, luật sư, giáo sư, kỹ sư, nhân viên, hay bất cứ ngành nghề nào mà Ngài biết là cần thiết và phù hợp với mỗi người.

Để có một cái nh́n về loại ơn gọi này, chúng ta hăy h́nh dung thế giới này là một sâu khấu rộng lớn, và trên sân khấu đang diễn ra một vở kịch vỹ đại, trong đó mỗi người chúng ta đóng một vai. Thượng Đế là nhà soạn kịch và cũng là nhà đạo diễn. Ngài biết tâm lư và đ̣i hỏi của mỗi vai nên trao cho từng người chúng ta thủ một vai. Do đó, sự có mặt của mỗi người chúng ta trong thời gian và không gian, việc chúng ta đóng những vai tṛ khác nhau trong Giáo Hội cũng như xă hội không những được nh́n với cái nh́n ơn gọi, mà c̣n là một trách nhiệm cần thiết của mỗi người cần chu toàn trong một không gian và thời gian nhất định.

 

2. CHÚA GỌI TA ĐẾN GẦN NGÀI:

Việc Ngài gọi riêng mỗi người và đặt chúng ta vào mỗi vai tṛ riêng là điều cần thiết cho lịch sử và cho lợi ích chung. Mỗi người cần phải hoàn tất ơn gọi hay đời sống riêng mỗi người như chúng ta hiện có và đang có.

Nhưng điều ấy xem như không quan trọng. Điều quan trọng là Ngài muốn gọi chúng ta đến gần với Ngài. Ngài muốn chúng ta hiểu Ngài, và qua sự hiểu biết ấy, yêu mến Ngài. Và đây là lư do tại sao Chúa Giêsu đă nói với 2 môn đệ trong đó có Andrê khi hai ông muốn theo Ngài: “Hăy đến mà xem” (Gioan 1:39). 

Đây là tiếng gọi cần thiết mà mỗi người chúng ta cần phải nghe, mặc dù chúng ta đă được Ngài đặt để vào mỗi vai tṛ khác nhau bằng tiếng gọi riêng tư của mỗi người. Như hai môn đệ đầu tiên, chúng ta phải “đến mà xem”. Có nghĩa là chúng ta phải đến gần Chúa. Phải khám phá Ngài bằng cặp mắt tâm linh và phải hài ḷng với Ngài cũng như để Ngài hài ḷng với ta. Chỉ khi nào chúng ta làm được như vậy, chúng ta mới có hy vọng đáp lại tiếng gọi của Ngài.

 

Thánh kư Gioan kể tiếp về cuộc hội ngộ giữa Chúa Giêsu và Andrê: “Việc đầu tiên ông làm là t́m anh ḿnh là Simon và nói với ông: “Chúng tôi đă gặp Đức Kitô” (Có nghĩa là Đấng được xức dầu). Ông đă mang anh ḿnh đến gặp Chúa Giêsu (Gioan 40-42). Ông Andrê nếu không được Chúa kêu gọi, chắc chắn không đến với Ngài được. Nhưng dù là được Ngài kêu gọi, nếu Andrê không đến và không xem Chúa tỏ tường, như một h́nh thức chấp nhận và khâm phục th́ chắc chắn ông cũng không giới thiệu anh ḿnh với Đức Giêsu.

 

“Đến mà xem”. Đây là một tiếng gọi mà chúng ta phải chú ư lắm mới nghe rơ, v́ nó phảng phất trong tất cả những biến cố lớn, nhỏ của cuộc sống. Nghe rồi th́  phải suy nghĩ kỹ mới mong thấu hiểu Ngài muốn làm ǵ và làm như thế nào trong từng cảnh ngộ ấy. Như vậy, chúng ta mới thật sự biết được Ngài, mới mới làm trọn vẹn và sáng tỏ ơn gọi của ḿnh. Cụ thể như: vợ đẻ, con đau, cha mẹ già yếu, bản thân ḿnh bệnh tật. Bị khinh bỉ, bị coi thường, bị nghèo túng, bị đối xử bất công. “Hăy đến mà xem”.

 

Chúng ta phải mở mắt tâm linh ra để xem Chúa Giêsu đối xử, và sống như thế nào trong những cảnh ngộ ấy. Ngài đang nói với ta những ǵ qua những biến cố ấy. Phải chăng, Ngài đang lợi dụng những biến cố ấy để gây chú ư đối với chúng ta, hoặc qua đó, Ngài muốn chúng ta t́m hiểu hơn về Ngài. Trong tâm lư học, khi cần một sự chú ư của người khác, ngoài việc con người dùng những phương thế tích cực như nụ cười, ánh mắt, bắt tay, thăm hỏi. Nhiều người c̣n dùng cả những phương tiện tiêu cực như la hét, cáu giận, hoặc bực tức. Tại sao một em vị thành niên nhuộm tóc, cạo đầu, đeo bông tai, xâm ḿnh, đeo ṿng khuyên ở ngực, ở môi, ở mũi... Đó là v́ em muốn được sự chú ư của người bạn trai, bạn gái, của cha mẹ, anh chị em, hoặc của người khác. Để mời gọi và kéo sự chú ư của chúng ta, Thiên Chúa cũng xử dụng cả phương tiện tiêu cực lẫn tích cực tùy vào hoàn cảnh và tâm lư của mỗi người. Nhưng điểm sau cùng vẫn là Ngài muốn thu hút và lôi kéo chúng ta đến việc hiểu và yêu mến Ngài. V́ hiểu và yêu mến Ngài là điều cần thiết cho sự sống đời đời của chính mỗi người chúng ta.

 

 

3. NGÀI GỌI TA LÀM CHỨNG NHÂN CHO NGÀI:

 

“Việc đầu tiên ông làm là t́m anh ḿnh là Simon và nói với ông: “Chúng tôi đă gặp Đức Kitô” (Có nghĩa là Đấng được xức dầu). Ông đă mang anh ḿnh đến gặp Chúa Giêsu” (Gioan 1:40-42). Đó là truyền giáo, là đem Chúa đến cho mọi người. Là làm chứng nhân cho Ngài.

 

Hai môn đệ đầu tiên sau khi đă “đến” và “xem” th́ đă nhận ra Ngài. V́ mến Ngài và cảm Ngài nên đă giới thiệu Ngài với người khác. Thánh Kinh không nói ǵ về việc Chúa Giêsu bảo Andrê gọi Phêrô đến với Ngài. Trước đó, Ngài cũng không chiệu dụ cả Andrê. Andrê nghe thầy ḿnh là Gioan Tiền Hô nói về Chúa Giêsu và đă t́m đến xin gặp. Sau khi gặp th́ mến. Sau khi mến th́ đă giới thiệu anh ḿnh.

 

Ơn gọi mà Thiên Chúa gọi mỗi người chúng ta đă được Andrê diễn tả một cách đầy đủ. Chúng ta không là ǵ cả. Nhưng chúng ta được Thiên Chúa gọi. Nhưng để cảm được Ngài, chúng ta phải đến với Ngài, tức là nghe và hiểu tiếng Ngài gọi. Sau khi đă hiểu Ngài rồi, th́ lại giới thiệu người khác đến gặp Ngài. Đó là ơn gọi thật. Đó là lối sống ơn gọi. Và đó là cách làm chứng cho ơn gọi. Ơn gọi không phải là đi tu làm linh mục, giám mục, hồng y hay giáo hoàng. Ơn gọi không phải là bỏ trần thế vào chốn viện tu làm nam, nữ tu sĩ. Ơn gọi cũng không phải là lập gia đ́nh rồi sinh con đẻ cái. Ơn gọi là tiếng Chúa kêu mời chúng ta đến với Ngài, hiểu Ngài, yêu Ngài, và làm chứng nhân cho Ngài ở ngay trong chính cuộc đời và cuộc sống mỗi chúng ta: “Chúng tôi đă gặp Đức Kitô” (Có nghĩa là Đấng được xức dầu). Ông đă mang anh ḿnh đến gặp Chúa Giêsu (Gioan 1:40-42).

 

 

 

 

Từ khao khát tới Loan báo
 

Cải đổi bài suy niệm của anh Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.

Mong Manh

Sau Lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa Phụng vụ đưa chúng ta vào hoạt động của Chúa Giêsu mà câu chuyện Anrê và Gioan gặp và khám phá ra Chúa là Đấng Mêsia có tầm quan trọng riêng cả trong lănh vực Tông đồ, cả trong đời sống tâm linh của người môn đệ là tất cả chúng ta, những người đă chịu phép Rửa trong Thánh Thần bởi Chúa Giêsu Kitô.

1. Ḷng khát khao

Cuộc gặp gỡ và trao đổi giữa Đức Giêsu và hai môn đệ đầu tiên là Anrê và Gioan thật lạ lùng, v́ hai bên hỏi và trả lời nhau như những kẻ "nghễnh ngăng" : "Các anh t́m ǵ thế? - Thưa Thày, Thày ở đâu?" - " Đến mà xem""Họ đă đến xem chỗ Người ở và ở lại với Người ngày hôm ấy".

Hai ông Anrê và Gioan là môn đệ của Gioan Tẩy Giả. Hiển nhiên là hai ông đă nghe Gioan giảng dạy và khẳng định nhiều lần và với nhiều hạng người rằng ông không phải là Đấng Mêsia, không cả là một ngôn sứ mà chỉ là tiếng kêu trong sa mạc dọn đường cho Đức Chúa là Đấng sẽ đến sau nhưng cao trọng hơn ông bội phần, ông không đáng xách dép cho Người. Khi nghe Gioan giới thiệu Đức Giêsu là Chiên Thiên Chúa th́ hai ông liền đi theo Đức Giêsu... Ông Gioan Tẩy giả đă không để ḷng khao khát của hai ông Anrê và Gioan dừng lại nơi ḿnh nên vừa trông thấy Đức Giêsu đi ngang qua ông đă giới thiệu ngay. Chỉ có Đấng ấy mới lấp đầy ḷng khao khát, chỉ có Đấng ấy mới là bến bờ cho thuyền đời băi đậu. Đức Giêsu lại khơi lên ḷng khao khát để khẳng định và tăng thêm ḷng muốn của các ông "Các anh t́m ǵ thế ?” Và các ông đă không muốn ǵ khác ngoài Thầy, Thầy ở đâu ?

2. Kiếm t́m Chúa.

Chúng ta biết có thể t́m gặp Chúa ở đâu và bằng cách nào. Giáo lư dạy chúng ta rằng Thiên Chúa ở khắp mọi nơi, trong tâm hồn chúng ta, trong mỗi một con người - nhất là người nghèo- cũng như trong cộng đoàn Giáo hội, trong Phép Thánh Thể cũng như trong Lời Chúa là Bộ Thánh Kinh Cựu và Tân Ước. Nhưng Thiên Chúa c̣n hiện diện trong các biến cố xảy ra cho chúng ta và chung quanh chúng ta. Muốn gặp Chúa th́ chúng ta phải biết kiên tŕ t́m kiếm : "Anh em cứ xin th́ sẽ được, cứ t́m th́ sẽ thấy, cứ gơ cửa th́ sẽ được mở cho" (Mt 7,7) ở những nơi ấy. Riêng người giáo dân phải dành ưu tiên cho việc t́m kiếm Thiên Chúa trong các thực tại trần thế: đời sống gia đ́nh, nghề nghiệp và xă hội như Công đồng Vatican II đă dạy : "V́ ơn gọi riêng, người giáo dân có bổn phận t́m kiếm Nước Thiên Chúa bằng cách đảm nhận các việc trần thế và xếp đặt chúng theo ư Thiên Chúa. Họ sống giữa trần gian, nghĩa là giữa tất cả cũng như từng công việc và nghĩa vụ của trần thế, giữa những cảnh sống thường ngày trong gia đ́nh và ngoài xă hội : tất cả những điều đó như dệt thành cuộc sống của họ. Họ gặp được Chúa ngay trong môi trường hoàn cảnh cuộc sống của họ. Đó là nơi Thiên Chúa gọi họ, để dưới sự hướng dẫn của tinh thần Phúc Âm, như men từ bên trong, họ thánh hóa thế giới bằng việc thi hành những nhiệm vụ của ḿnh ; và như thế, với ḷng tin cậy mến sáng ngời, và nhất là với bằng chứng đời sống, họ bộc lộ Chúa Kitô cho kẻ khác. Chính họ là người có nhiệm vụ đặc biệt phải soi sáng và xếp đặt những thực tại trần gian có liên hệ mật thiết với họ, để chúng không ngừng phát triển và ngày một phong phú hơn lên theo Thánh Ư Đức Kitô, hầu ca tụng Đấng Sáng Tạo và Cứu Độ" (HC tín lư về Giáo hội, số 31).

3. Kinh nghiệm gặp gỡ Chúa là một kinh nghiệm riêng tư

    không ai làm thế cho ai được.

Nếu đi sâu vào tường thuật của Gioan, chúng ta không khỏi thắc mắc, v́ điều chúng ta chờ đợi nhất th́ Gioan lại không nói ra, không chịu bật mí. Trong thời gian một ngày mà hai ông Anrê và Gioan ở lại chỗ Đức Giêsu đă xẩy ra những chuyện ǵ ? Hai bên đă nói với nhau những ǵ ? Làm sao mà chỉ sau một ngày hai ông Anrê và Gioan tin Đức Giêsu là Đấng Mêsia ? Tại sao Gioan không có một lời nhỏ nào để tường thuật về điều quan trọng ấy ? Gioan có chủ ư ǵ khi giữ "thinh lặng" (một sự thinh lặng huyền bí) về kinh nghiệm ấy ? Phải chăng dụng ư của Gioan là muốn độc giả chúng ta biết rằng đó là một kinh nghiệm hết sức riêng tư và độc đáo của riêng ông nên ông không thể nói, kể và chia sẻ ǵ với người khác ngoài kết quả của kinh nghiệm gặp Chúa : "Chúng tôi đă thấy và đă tin!"

Vậy th́ dụng ư của Gioan là nếu ai muốn có một kinh nghiệm gặp Chúa tương tự như ông, th́ chỉ có một cách duy nhất là người đó hăy t́m đến với Đức Giêsu Kitôở lại bên Người. Không có một biện pháp "ḿ ăn liền" nào khác. Không thể sao chép, copy kinh nghiệm của người khác, v́ mỗi người là một con người độc đáo, duy nhất trước mặt Chúa.

Kinh nghiệm gặp Chúa của Samuel được tường thuật trong trích đoạn 1 Sm 3, 3b.10-19 (bài đọc 1) cũng giống như thế.

4. Loan Báo (chia sẻ kinh nghiệm gặp Chúa cho người thời nay)

Tuy chúng ta rất khó mà chia sẻ kinh nghiệm gặp Chúa và sống với Chúa của riêng ḿnh cho người khác, nhưng kinh nghiệm ấy lại hết sức cần thiết để chúng ta có thể giúp đỡ những người đang cần đến chúng ta. Nh́n vẻ bên ngoài, chúng ta dễ lầm tưởng rằng ngày nay con người, nhất là người trẻ, đang bị cuốn hút vào ḍng xoáy của học hành và sự nghiệp, của công danh và tiền tài, của tiện nghi cuộc sống và thăng tiến xă hội, nên chẳng quan tâm đến đời sống tâm linh. Chắc chắn có một số người đang lâm vào t́nh trạng ấy. Nhưng không phải tất cả mọi người đều như thế. Vẫn có một số thành phần trong xă hội âm thầm khát khao và t́m kiếm Thiên Chúa.

Muốn giúp đỡ anh chị em ḿnh thực sự, mọi người chúng ta cần có kinh nghiệm t́m kiếm, gặp gỡ và sống với Chúa. Cả kinh nghiệm phản bội và từ chối Chúa của chúng ta cũng sẽ có ích cho công việc tông đồ này. Khi chúng ta sẽ chia sẻ những yếu đuối, sai lầm của ḿnh và nhất là T́nh Yêu và Sức Mạnh của Chúa thể hiện nơi ḿnh cho anh chị em ḿnh th́ anh chị em sẽ gần gũi với chúng ta hơn và dễ cất bước đi t́m Chúa hơn. Nếu không có kinh nghiệm về cách Thiên Chúa mời gọi con người cộng tác, làm sao ông Eli có thể giúp Samuel biết rằng tiếng gọi ban đêm kia là tiếng của Thiên Chúa. Châm ngôn người La Mă thời cổ:  "Không ai cho cái ḿnh không có" có thể được chúng ta chọn làm phương châm cho lănh vực kinh nghiệm tâm linh này.

 

 

 

 

Chúng ḿnh đă thực sự ở lại trong Người

  

          Lung Linh

 

Người bảo họ: "Đến mà xem." Họ đă đến xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy. Lúc đó vào khoảng giờ thứ mười. (Ga 1:39)

Trước kia, mới nghe đoạn Kinh Thánh này, chúng tôi phục lăn các môn đệ ngày xưa. Ôi!! sao các ông mau mắn thế! sẵn sàng thế! Các ông đă bỏ mọi sự mà theo Thầy chẳng thắc mắc ǵ!! Các ông đă đến xem chỗ Người và ở lại với Người ngày hôm ấy.

Nhưng sau này, tôi mới té ngửa. Hóa ra không phải như vậy. Gioan quả là một tay chơi chữ tuyệt vời. Sao ông không viết và ở lại với Người măi măi  mà ông lại viết và ở lại với Người ngày hôm ấy. Chỉ một ngày thôi – Dù ba năm qua đi nhưng thời gian thực sự ở lại với Người quá ngắn – Một ngày duy nhất. C̣n lại một thời gian rất dài – gần một ngàn ngày - các ông lo xây dựng trong đầu óc ḿnh biết bao vinh hoa lợi lộc khi Thầy lên ngai báu Đavít. Đây là một vài  bằng chứng hiển nhiên:

Ông Phêrô đă thẳng thừng hỏi Chúa: "Thầy coi, phần chúng con, chúng con đă bỏ mọi sự mà theo Thầy. Vậy chúng con sẽ được ǵ? " (Mt 19:27).

Hai ông Gia-cô-bê và Gioan đă muốn Thày thực hiện mơ tưởng làm vương làm tướng khi Đức Giêsu đăng quang lên ngai báu Đavít: "Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang."(Mc 10:37).

Mà cũng v́ không thực sự ở lại với Thầy, nên tới giờ Chúa bước vào cuộc thương khó, ông th́ chối Thày, có ông sẵn sàng bỏ cả áo  choàng chạy thoát thân.

Chúng ta thường ước ǵ ḿnh được sống gần Chúa như các tông đồ xưa. Nh́n tận mắt những việc Chúa làm, nghe tận tai những ǵ Chúa phán dạy. Chúng ta tưởng rằng ḿnh sẽ trở thành đại thánh dễ dàng như uống một ly ca cao sữa. Th́ ra không phải như vậy. Bằng chứng là sau ba năm sống với Chúa, Kinh Thánh đă từng ghi lại nhiều lần Chúa trách các ông sao vẩn c̣n ngu tối, không hiểu.

Người c̣n nói với các ông: "Anh em không hiểu dụ ngôn này, th́ làm sao hiểu được tất cả các dụ ngôn? (Mc 4:13)

Người nói với các ông: "Cả anh em nữa, anh em cũng ngu tối như thế sao? Anh em không hiểu sao?(Mc 7:18)

Các ông cảm thấy bàng hoàng sửng sốt,52 v́ các ông đă không hiểu ư nghĩa phép lạ bánh hoá nhiều: ḷng trí các ông c̣n ngu muội! (Mc 6:52)

Nhưng các ông không hiểu lời đó, v́ đối với các ông, lời đó c̣n bí ẩn, đến nỗi các ông không nhận ra ư nghĩa. Nhưng các ông sợ không dám hỏi lại Người về lời ấy. (Lc 9:45)

Thực vậy, dù ở bên Thày bằng xương bằng thịt, ḷng các ông vẫn c̣n mơ tưởng những phần thưởng trước mắt. Măi cho tới khi Thày về trời, lúc đó, các ông mới bắt đầu nhớ lại những lời Thày dạy, những việc Ngài làm. Suy đi nghĩ lại, nghiền ngẫm, khám phá, chia sẻ cho các giáo đoàn. Chính thời gian đó các ông mới thực sự ở lại với Người và lớn lên trong Người.

Các ông nhớ lại gương cầu nguyện của Thầy chí thánh

Nhưng Người lui vào nơi hoang vắng mà cầu nguyện. (Lc 5:16)

Sáng sớm, lúc trời c̣n tối mịt, Người đă dậy, đi ra một nơi hoang vắng và cầu nguyện ở đó. (Mc 1:35)

Giải tán họ xong, Người lên núi một ḿnh mà cầu nguyện. Tối đến Người vẫn ở đó một ḿnh (Mt 14:23)

Để chuẩn bị việc quan trọng: Chọn môn đệ Người đă thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa.13 Đến sáng, Người kêu các môn đệ lại, chọn lấy mười hai ông và gọi là Tông Đồ. (Lc 6:12-13)

Tới lúc đó các ông mới thấm lời khuyên nhủ của Thầy: Vậy anh em hăy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, (Lc 21:36)

Và cuối cùng các ông mới cảm nghiệm được hưong vị ngọt ngào của việc Hăy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em (Ga 15:4).

Chúng ta có chịu ở lại trong Người không?

Ngày nay, chúng ta dường như cũng thích đi theo vết chân loạng quạng của các môn đệ thời c̣n lẽo đẽo theo Thày, nhưng lại không muốn ở lại trong Thày. Đây là một vài dẫn chứng điển h́nh

Chúng ta hằng lớn tiếng tuyên bố: tôi tin Chúa NGỰ THẬT trong bí tích Thánh Thể – ngự thật chứ không phải giả. Chúng ta cũng đă từng cầm Chúa trong tay hàng ngàn, hàng vạn lần và sau đó rước Ngài vào ḷng. Nhưng thực đáng tiêc!! Chúng ta nhất định không chịu ở lại trong Ngài. Chúa cứ việc lo chuyện trời ơi cho toàn thể nhân loại; c̣n tôi, tôi c̣n phải bận tâm lo những của ḿnh: làm ăn, buôn bán, học hành, vui chơi, giải trí….

 Chúng ta tự hào ḿnh đang gánh vác một công tŕnh vĩ đại mà Ngài giao phó. Đó là một nhóm nhỏ hay đôi khi cả một cộng đoàn lớn lên tới hàng chục ngàn người. Và tối ngày tôi lu bu, loay hoay hết việc này tới việc khác chồng chéo lên  nhau… mệt bở hơi tai!! Chúng ta tin chắc chắc ḿnh đang từ bỏ gia đ́nh ra khơi Loan báo Tin Mừng. Chúng ta đă mang về cho Chúa hàng trăm linh hồn. Ấy thế mà có một chuyện quan trọng nhất đó là  ở lại trong Người, chúng ta chẳng mấy quan tâm. Y như cảm nghiệm của cố hồng y Fx Thuận: Tôi chọn công tŕnh của Chúa, nhưng không chọn Chúa.

Nếu cứ giữ đạo theo kiểu h́nh thức bên ngoài như thế, có lẽ sáu chục năm nữa, tương quan giữa chúng ta và Ngài vẫn măi ngh́n trùng xa cách!! Việc ở lại trong Người măi măi giống như chuyện thần thoại hoang đường.

Chúa không ngừng ngỏ lời.

Tuy nhiên, Chúa đă không ngừng ngỏ lời qua trăm phương ngàn cách. Lời mời gọi này đôi khi trở thành khốc liệt dường như quá sức chịu đựng của con người: hỏa hoạn thiêu đốt cả một dăy nhà; một cơn bệnh dịch, một cơn sóng thần giết chết hàng loạt nhân mạng - gây nên cảnh chia ly tang tóc cho hàng trăm gia đ́nh. Nhưng thường thường lời mời gọi này xảy ra nhẹ nhàng như một gợn sóng lăn tăn chỉ đủ sức làm xao động mặt hồ tâm hồn phẳng lặng nhàm chán của chúng ta trong chốc lát.

Ngắm cảnh ḥang hôn trên mặt biển, ḷng thênh thang nhẹ nhàng, lăng quên hết những phiền hà trong cuộc sống..

Phúng điếu một bạn thân qua đời giữa tuổi c̣n xuân – Sao thấy cuộc đời quá đỗi mong manh!!

Tâm đắc một Lời Chúa hay một ư tưởng độc đáo trong bài giảng….

Sau giờ chia sẻ, anh chị em quyết tâm trở thành một v́ sao sáng dẫn dường cho người khác!!

Trong ḷng cảm thấy cần phải quyết tâm đổi mới, cần phải sống một đời sống mới…

Nhưng! Thật đáng tiếc!! Chưa hết một buổi chiều và một buổi mai…Vừa trở về nhà, biết bao phiền hà gai góc đă mọc lên tua tủa với hàng chục việc không tên:

Sao anh chưa chịu sửa điện cho sáng!

Mai bố đi họp phụ huynh học sinh.

Bố giảng cho con bài luận văn này đi, khó quá.

Nhớ đóng tiền điện thoại kẻo nó cúp đấy.

Con chó nhà hàng xóm lại làm bậy trong vườn nhà ḿnh!!

Ô chu choa! Cuộc đời đang đẹp như vầng trăng cổ tích đă bị những đám mây u ám làm tối đen cả một vùng trời. Lời Chúa tâm đắc bỗng tiêu tan. Quyết tâm đổi mới vừa h́nh thành đă vội sụp đổ không c̣n ḥn đá nào trên ḥn đá nào!! Thế là hết. Cánh cửa tâm linh hơi hơi hé mở đă tự động khép lại im ĺm.

Dù cánh cửa tâm hồn ḿnh hé ra và đóng lại không biết bao nhiêu lần, nhưng Chúa vẫn kiên tŕ gọi mời. Thực vậy, nếu để tâm lắng nghe, chúng ta khám phá ra rằng: Lâu lâu, Chúa dẫn chúng ta vào nẻo đường tâm linh qua những biến cố vui buồn trong cuộc đời như tiếng khánh leng keng nhè nhẹ thanh thoát – không phải tiếng chuông lanh lảnh vang xa – cũng không phải tiếng trống trường thành lung lay bóng nguyệt. Thỉnh thoảng, Chúa d́u ta vào sa mạc sâu lắng qua những lần tĩnh tâm trong không khí êm ả thanh khiết của tu viện miền quê. 

Thực vậy Lời Chúa vẫn mong mỏi được ở lại trong ḷng ta càng lâu càng tốt để có thời gian đơm bông kết trái. Hạt được ba mươi, hạt được sáu mươi, hạt được một trăm…..

Khởi đầu, dù cả ngày bị việc đời xoay như chong chóng, nhưng cứ lúc nảo rảnh rỗi, nhất là vào ban đêm, trước khi đi ngủ, chúng ta dành 15 phút đọc Kinh Thánh. Cá nhân hóa Lời Chúa ḿnh tâm đắc nhất. Để ḷng ḿnh chùng xuống. Chiêm ngắm sự hiện diện của Chúa trong ta. Mấy tháng đầu, chẳng thấy ǵ, nhưng khoảng gần một năm sau, ta có thể bắt gặp hàng loạt khám phá mới. Từ những khám phá này, quan niệm của ta về Chúa cũng thay đổi: từ một ông Chúa quyền uy, lạnh nhạt chuyển sang người bạn tâm t́nh dễ gần gũi. Từ một ông Chúa xa lạ biến thành T́nh Yêu – Sự Sống – Ánh Sáng huyền diệu ngay trong tâm hồn ḿnh.

Cuối cùng, nhờ kiên tŕ ở lại trong Người mỗi ngày 15 phút tới 30 phút. Một ngày nào đó, tâm hồn ta bỗng nhiên đổi mới – như con sâu tù túng biến thành một chú bướm rực rỡ bên vườn hoa thắm tươi . Lúc đó chúng ta mới có thể th́ thầm chia sẻ với nhau: chúng ḿnh đă thực sự ở lại trong Người.

 

 

 

Hiển linh

Chuyện của Thiên Chúa hay của ḷai người

  

LM. Giuse Trương Đ́nh Hiền

 

          Điều đầu tiên chúng ta gặp được trong sứ điệp phụng vụ lễ Hiển Linh chính là cái chất thi ca, cái ư nghĩa thiêng liêng, huyền nhiệm lại được diển tả, tŕnh bày bằng những chất liệu của không gian và h́nh ảnh thật gợi cảm. Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra điều nầy qua vài trích đoạn trong bài thánh thi giờ Kinh Phụng vụ lễ Hiển Linh hôm nay :

          Hởi các bạn người đi t́m Chúa,

          Ngước mắt lên thẳng ngó trời cao,

          Ḱa xem điềm lạ ánh sao,

          Hào quang rộng tỏa khắp bầu không trung.

          Ngôi sao ấy ngời trong vẻ đẹp,

          Ánh trời hồng nối kết trăng thanh.

          Báo tin hội lớn h́nh thành,

          Kitô Cứu Chúa mặc thân xác người

Trong khi đó, qua ngôn ngữ của phụng vụ và Thánh kinh, chúng ta gần như được mách bảo : Hiển Linh vừa là chuyện của Thiên Chúa (Thiên Chúa tỏ ḿnh, Thiên Chúa mặc khải, Thiên Chúa hiển linh), cũng vừa là chuyện của loài người (con người ra đi t́m kiếm, dơi theo ánh sao lạ, cung bái Hài Nhi….)

 

1. Hiển linh : chuyện của Thiên Chúa :

Để nhấn mạnh nội dung nầy, có người đă bảo : “Cuốn Kinh Thánh chỉ là một tiếng kêu măi vang dội : Thiên Chúa khát khao t́m kiếm nhân loại. Từ sách Khởi Nguyên : "Adong, Ngươi ở đâu ?" cho đến sách Khải Huyền: "Đây, Ta đứng trước cửa và Ta gơ ! Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, th́ Ta sẽ vào với nó, và Ta sẽ dùng bữa với nó và nó với Ta ". (Kh 3,20).

         Sau đó Đức GIÊSU biết rằng mọi sự đă hoàn tất, để Kinh Thánh được nên trọn, th́ Ngài nói : " TÔI  KHÁT " (Ga 19,28). Ḷng khao khát Chúa của nhân loại không có nghĩa ǵ khi sánh với ḷng khát khao nhân loại của Chúa.” (Mong manh, trong bài Khao Khát kiếm t́m, Tâm linh vào đời số 4)

          Và để hiểu rơ hơn tính cách “hiển linh” nầy của Thiên Chúa, chúng ta thử đọc lại một trích đoạn trong bài giảng thánh lễ Đêm Giáng Sinh tại Rôma của ĐTC Bênêđictô XVI :

“Chúng ta hăy lắng nghe một câu khác từ phụng vụ của đêm thánh này, trích từ sách Tiên Tri Isaia: “Một luồng sáng lớn đă chiếu soi cho những người c̣n đi trong bóng tối” (Isaia 9:1). Từ ngữ “ánh sáng” xâm nhập toàn phụng vụ của Thánh Lễ đêm nay. Nó cũng được thấy ở đoạn trích thư Thánh Phaolô gửi Titô: “Ân sủng của Thiên Chúa đă xuất hiện” (2:11). Từ ngữ “đă xuất hiện” trong  nguyên ngữ Hy Lạp đồng nghĩa với những từ trong tiếng Do Thái là “một luồng sáng đă chiếu soi” : “xuất hiện” này – “hiển linh” này – là một sự xâm nhập của ánh sáng Thiên Chúa vào một thế giới bị ch́m ngập trong tối tăm và những vấn nạn không thể giải quyết. Rồi Tin Mừng liên kết vinh quang Thiên Chúa xuất hiện với các mục đồng và “chiếu sáng quanh họ” (Luca 2:9).  Nơi đâu vinh quang Thiên Chúa xuất hiện, ánh sáng tràn ngập trái đất. Thánh Gioan nói với chúng ta rằng “Thiên Chúa là ánh sáng và trong ngài không có bóng tối” (1 Gioan 1:5). Ánh sáng là căn nguyên của sự sống. Quả thực , ánh sáng đang chói ngời trong ta.”

Và trong Bài đọc 1 hôm nay, qua cái nh́n và cảm nhận của sứ ngôn I-sa-i-a chúng ta lại được chỉ bảo rằng : nếu không có ánh sáng của Thiên Chúa hiển linh, th́ măi măi nhân loại bị giam cầm trong bóng tối sự chết :

“Ḱa bóng tôí bao trùm mặt đất, và mây mù phủ lấp chư dân ; c̣n trên ngươi, Đức Chúa như b́nh minh chiếu tỏa, vinh quang Người xuất hiện trên ngươi. Chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi, vua chúa hướng về ánh b́nh minh của ngươi mà tiến bước. Đưa mắt nh́n tứ phía mà xem, tất cả đều tập họp, kéo đến với ngươi…”

Vâng, nếu không có “Anh sao lạ”, nếu không có “thiên thần hiện ra loan báo Tin vui”, nghĩa là, nếu không có sự “mặc khải”, sự dẫn đưa của Thiên Chúa, th́ loài người chúng ta không ai có thể khám phá, nhận biết được mầu nhiệm Thiên Chúa làm người. Chúng ta sẽ măi măi ngủ vùi trong một giấc ngủ triền miên của sự lầm lạc, cách xa và mù tối về sự hiện diện của Đấng Emmanuel, của Vị Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Thật cần thiết biết bao “ánh sao mặc khải của Thiên Chúa”.

          Đức tin c̣n dạy chúng ta rằng : công cuộc “tỏ ḿnh, hiển linh” như thế, không chỉ có mỗi một lần cách đây 2000 năm, ánh sao lạ tỏa sáng trên vùng trời Bê-lem năm xưa không phải đă tắt lịm tự lúc nào để bỏ lại một thế giới trôi dạt bồng bềnh giữa bóng đêm của lầm lạc, đui mù, tăm tối. Không, kể từ khi Con Một được ban tặng cho thế giới, kể từ khi “Vị Hoàng Tử B́nh An đă chấp chánh đăng quang”, cho dù một cuộc đăng quang chẳng giống ai : với mảo gai và thập giá, với tủi nhục và đau thương, với ngày Thứ Sáu thảm sầu trên đồi Sọ…th́ một “luồng sáng đă chiếu rọi khắp địa cầu”, Thánh Linh với lửa sáng rạng ngời đă nhen lên khắp cùng bờ cơi trái đất. Suốt 2000 năm nay, có từng triệu từng triệu ánh sao Nhân chứng tung chân khắp bốn phương trời để công bố Tin mừng cứu độ, để lôi kéo muôn dân trở về chiêm bái hài Nhi Giê-su, để làm thành một đoàn dân đông đảo cùng tháp tùng tiến về phía trước, phía của tin yêu và hy vọng, phía của t́nh yêu sự thật và sự sống.

          Thánh Phaolô đă xác nhận điều nầy trong thư gởi giáo đoàn Ê-Phê-sô mà chúng ta vừa nghe trong bài đọc 2 hôm nay :

“…nhưng nay Người đă dùng Thần Khí mà mặc khải cho các thánh Tông đồ và ngôn sứ của Người. Mầu nhiệm đó là : trong Đức Kitô Giê-su và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do Thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa”

2. Hiển linh : chuyện của loài người :

Thế nhưng, nếu “Hiển Linh” chỉ là ”chuyện riêng của Thiên Chúa” mà không liên quan ǵ đến nhân loại, th́ cử hành hôm nay chẳng qua cũng chỉ là kỷ niệm, cũng chỉ là nhắc lại một huyền thoại, một chuyện cổ tích để mua vui. Hoàn toàn không như thế. Bởi v́, Hiển Linh cũng là chuyện của chúng ta, của toàn nhân loại. Bởi v́ “Thiên Chúa ban tặng Người Con Một là để nhờ Người Con đó mà nhân loại được sống muôn đời”. (Ga 3,16 )

          Quả thật, h́nh tượng Ba Nhà Đạo Sĩ phương đông lên đường dơi theo ánh sao lạ, vượt qua muôn dặm hành tŕnh để về tới máng cỏ Bêlem chiêm bái Hài Nhi Cứu Thế, đă minh họa rơ nét ư nghĩa nầy. Và đó cũng chính là điều căn cốt của niềm tin Kitô giáo, niềm tin lên đường, niềm tin khám phá, niềm tin gặp gỡ, niềm tin đối thoại, và nhất là niềm tin khao khát, như cảm nhận từ xa xưa của các tác giá thánh vịnh :

 " Hai tay cầu Chúa giơ lên     

Hồn con khát Chúa như miền đất khô ". (Tv..142,6..,)                        

 " Suốt đêm trường, hồn con khao khát Chúa    

 Trong thâm tâm những kiềm t́m khắc khoải "  (Is 26,9)            

 " Linh hồn con đă khát khao Ngài       

 Tấm thân này ṃn mỏi đợi trông       

 như mảnh đất hoang khô cằn, không giọt nước "  (Tv.62) 

Hay như kinh nghiệm nội tâm của Thánh Giáo Phụ Augustinô : “Hồn con xao xuyến măi cho tới khi được yên nghỉ trong Chúa”.

Câu chuyện nhỏ trong kho tàng văn chương Ấn giáo sau đây có thể minh họa cho thái độ khao khát kiếm t́m Thiên Chúa mà lễ Hiển Linh hôm nay khơi gợi lên trong ḷng chúng ta :

          Có một chàng đệ tử đến thưa với vị linh đạo của ḿnh : "Thưa Thầy con muốn gặp Chúa ". 

          Vị linh đạo chỉ đáp trả bằng một cái mỉm cười thinh lặng. Ngày hôm sau, người môn sinh trở lại và bày tỏ cùng một ước muốn. Vị linh đạo tiếp tục mỉm cười và vẫn sự thinh lặng cố hữu của ông. Một ngày nọ ông đưa người môn sinh đến ḍng sông, thầy tṛ cùng trầm ḿnh xuống nước. Chờ cho người môn đệ hoàn toàn cảm thấy thoải mái trong ḍng nước mát, bất thần vị linh đạo tóm lấy anh và d́m xuống nước một hồi lâu. Người môn đệ cố gắng vùng vẫy để ngoi lên. Lúc bấy ǵờ vị linh  đạo mới hỏi anh : “Khi bị d́m dưới ḍng nước, con cảm thấy cần điều ǵ nhất”

           Không một chút suy nghĩ người đệ tử đáp : 

          - Thưa thầy, con cần có không khí để thở.

           Lúc bấy ǵơ vị linh đạo mới dẫn giải : 

-         Con có ước ao được gặp gỡ Thiên Chúa như vậy không ? Nếu con khao khát như thế con sẽ gặp được Ngài tức khắc. Ngược lại nếu con không có ước muốn như thế, th́ cho dù con có vận dụng mọi tài trí và cố gắng, con sẽ không bao giờ gặp được Ngài.

Tóm lại, nếu “Hiển Linh” đó là mầu nhiệm “Thiên Chúa tỏ ḿnh” th́ đây cũng là lời mời gọi chúng ta lên đường tiến về phía của Thiên Chúa, của hang đá máng cỏ, của Ngôi Lời Nhập Thể, của Đấng Thiên Chúa đang hiện diện giữa chúng ta. Chúng ta có thể nói được rằng : toàn bộ chương tŕnh cứu rỗi của Thiên Chúa đó chính là việc Ngài Tỏ ḿnh cho chúng ta và mời ta lên đường về với Ngài qua người Con yêu dấu Ngài ban tặng : Đức Giê-su Ki-tô.

 Tuy nhiên, để đến được với Thiên Chúa, chúng ta phải “lên đường”, phải ra khỏi cái tôi của ḿnh, phải tiến bước trên con đường của “ánh sao Lời Chúa”, phải thức dậy khỏi giấc ngủ triền miên của biếng lười và tự măn để nghe theo tiếng gọi của “Tin Mừng”. Chỉ với một “đức tin hành động” đó, chúng ta mới “tới được Bê-lem như các đạo sĩ phương đông xưa”, như các mục đồng ở Bê-lem hai ngàn năm trước. Và khi đă gặp Chúa, chúng ta c̣n phải biến ḿnh thành những “v́ sao rực lên trong đêm tối” để đưa đường dẫn lối cho bao anh chị em xung quanh đang c̣n ở trong những chân trời xa cách Thiên Chúa và ánh sáng cứu độ của Ngài. Những ánh sao của “ḷng tốt”, của liêm chính, của quảng đại, khoan dung, của niềm vui và hy vọng…để rọi chiếu vào một thế giới đang c̣n quá nhiều bóng tối của sự ác, sự dữ, của dối trá lọc lừa, của bất công, hận thù, tham lam, ích kỷ…

Nếu Ba Vua ngày xưa, sau khi chiêm bái Hài Nhi Giê-su, sau khi gặp gỡ Thiên Chúa, đă “lên đường về theo lối khác, không thèm trở lại với bạo vương Hê-rô-đê”, th́ ước ǵ sau thánh lễ nầy, mỗi người chúng ta cũng hăy ra đi trên con đường mới của Tin Mừng, con đường mới của vui tươi, phục vụ, yêu thương, khoan dung và tha thứ, con đường của xây dựng ḥa b́nh, đắp nghĩa huynh đệ, con đường của trong sạchchung thủy trong t́nh yêu đôi lứa, của quảng đại và dấn thân trong sứ vụ tông đồ, liêm khiết và tử tế trong trách nhiệm công dân, hiếu thảo và liên đới trong t́nh nghĩa giá đ́nh, ngay thẳng và chính trực trong đời sống chính trị…. Hăy can đảm bỏ lại đằng sau “vương quốc cuả Hê-rô-đê” và tránh xa những nẻo đường dẫn tới dục vọng và đam mê đen tối, ích kỷ và hận thù, tham lam ác độc…

          Và như thế, viễn tượng một thế giới choáng ngợp niềm vui và an b́nh, một thế giới dâng tràn sự “hiểu biết Thiên Chúa như nước tràn đại dương”, một thời đại mà “vinh quang của Đức Chúa như b́nh minh tỏa rạng” sẽ không c̣n xa nữa nhưng đang trở về, đang trở về từ hôm nay nơi bàn tiệc Thánh Thể nầy…

 

Đừng an tâm và ngủ quên

Trong tôn giáo chân chính của ḿnh
 

Nguyễn Chính Kết

Bài Tin Mừng lễ Hiển Linh cho thấy có ba hạng người khác nhau với ba thái độ khác nhau đối với Đức Giêsu mới sinh ra. Trước hết là các nhà chiêm tinh đến từ phương Đông, sau là các thượng tế và kinh sư tại Giêrusalem, và cuối cùng là vua Hêrôđê.

1. Thái độ của các nhà chiêm tinh đông phương

Các nhà chiêm tinh được nói đến như những người thuộc dân ngoại, không phải là người Do Thái giáo. Họ đại diện cho các dân tộc, các quốc gia trên thế giới đến thờ lạy Đức Giêsu, Đấng trong tương lai và vĩnh cửu sẽ là vua của toàn thể thế giới và vũ trụ. Thái độ của các nhà chiêm tinh là thái độ của những người t́m kiếm, khắc khoải đối với Thiên Chúa, với tha nhân, với chân lư, công lư và t́nh thương. Và chính v́ họ quyết tâm lên đường và ra công t́m kiếm nên họ đă gặp, đúng như Đức Giêsu nói: «Ai xin th́ sẽ được, ai t́m th́ sẽ thấy, ai gơ cửa th́ sẽ mở ra cho» (Mt 7,8). Khi ngôi sao biến mất, việc t́m kiếm bị thử thách, họ không nản chí bỏ cuộc, vẫn tiếp tục t́m kiếm, v́ họ đă quyết tâm và hết ḷng t́m kiếm: «Các ngươi t́m Ta th́ các ngươi sẽ thấy, bởi v́ các ngươi hết ḷng t́m kiếm Ta» (Gr 29,13); «Kẻ yêu Ta sẽ được Ta yêu lại, người t́m Ta ắt sẽ gặp Ta» (Cn 8,17).

2. Thái độ của các thượng tế và kinh sư tại Giêrusalem

Các thượng tế và kinh sư Do Thái là những bậc thông thái, hiểu biết Kinh Thánh, thông thạo các lẽ đạo của tôn giáo chân chính do chính Thiên Chúa thiết lập. V́ thế, họ đại diện cho những người có chính đạo. Họ là những người có Kinh Thánh trong tay, nắm vững những kiến thức thần học, họ rao giảng và bảo vệ chân lư của Thiên Chúa. Nhưng khi Đức Giêsu đến, những hiểu biết rộng răi và sâu xa của họ chẳng giúp ích ǵ cho họ trong việc t́m gặp Ngài. Họ biết rất rơ Đấng Cứu Thế sinh ra tại Bêlem, v́ Kinh Thánh cho biết như thế. Nhưng họ biết để mà biết, để mà dạy người khác, để mà tự hào rằng ḿnh hiểu biết, chứ không phải biết để áp dụng vào đời sống, để đem ra thực hành. V́ thế, cái biết của họ trở nên vô ích cho họ.

 

Cũng vậy, rất nhiều Kitô hữu hiểu biết rất sâu xa về Thiên Chúa, về chân lư, nhưng họ biết chỉ để biết, để khoe, để dạy người khác, để rao giảng, chứ không phải để áp dụng sự hiểu biết ấy vào đời sống thực tế. V́ thế, sự hiểu biết ấy không đem lại sự cứu rỗi cho họ. Đức Giêsu nói: «Ai nghe những lời Thầy nói đây mà đem ra thực hành, th́ ví được như người khôn xây nhà trên đá… C̣n ai nghe những lời Thầy nói đây, mà chẳng đem ra thực hành, th́ ví được như người ngu dại xây nhà trên cát» (Mt 7,24.26). «Mẹ tôi và anh em tôi chính là những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành» (Lc 8,21); «Anh em đă biết những điều đó, nếu anh em thực hành, th́ thật phúc cho anh em» (Ga 13,17); «Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa» (Lc 11,28). Dụ ngôn người gieo giống (Lc 8,11-15) cho thấy những người nhận được Lời Chúa mà không đem áp dụng vào đời sống thực tế cũng giống như những mảnh đất «vệ đường», đầy «đá sỏi», đầy «bụi gai», khiến Lời Chúa không phát triển được. C̣n những ai đem Lời Chúa ra thực hành, giống như mảnh đất mầu mỡ khiến Lời Chúa sinh hoa kết trái.

3. Bài học cho những ai đang theo chính đạo

Câu chuyện về hai mẫu người trên cho chúng ta bài học quí giá. Những người tưởng rằng ḿnh đang nắm được Thiên Chúa cùng với chân lư, công lư và t́nh thương trong tay, đồng thời ngủ say và an tâm trong sự lầm tưởng ấy, họ sẽ chẳng bao giờ gặp được Ngài và thực thi được những giá trị kia. V́ Thiên Chúa, chân lư, công lư và t́nh thương là những thực tại sống động, không phải thứ đồ vật tĩnh lặng có thể nắm được trong tay, nên chỉ có thể t́m kiếm và gặp được trong từng thời điểm, chứ không thể nắm bắt một lần cho măi măi. Cho nên muốn gặp Thiên Chúa, muốn sống trong chân lư, công lư và t́nh thương, ta phải không ngừng lên đường t́m kiếm, ra sức thực hiện trong từng thời điểm. Ngừng t́m kiếm, ngừng nỗ lực, th́ những thực tại cần thiết ấy sẽ vuột khỏi ta ngay, và sự ngừng nghỉ ấy sẽ tạo cho ta một ảo tưởng rằng ḿnh đang nắm được Thiên Chúa, chân lư, công lư và t́nh thương ở trong tay. Trong khi ấy, thực tế là ta đang xa rời Thiên Chúa và thường hành động ngược lại với chân lư, công lư và t́nh thương. Thật vậy, những ai dù đang theo chính đạo, tự hào tự măn về chính đạo của ḿnh, tưởng ḿnh đang nắm được chân lư trong tay, nhưng trong thực tế lại không sống đạo của ḿnh, lại c̣n khinh chê người khác, họ sẽ trở thành những kẻ tự lừa dối chính ḿnh: «Anh em hăy đem Lời ấy ra thực hành, chứ đừng nghe suông mà lừa dối chính ḿnh» (Gc 1,22). Những ai chỉ biết rao giảng Lời Chúa cho người khác, c̣n chính bản thân ḿnh lại không thèm áp dụng, hăy lo ngại cho số phận ḿnh như thánh Phaolô: «Tôi phải bắt thân thể tôi chịu cực và phục tùng, kẻo sau khi rao giảng cho người khác, chính tôi lại bị loại bỏ» (1Cr 9,27).

Chuyện các nhà chiêm tinh – mà truyền thống Giáo Hội coi là đại diện cho người ngoại và các dân tộc – cho thấy: dù là người ngoại giáo hay không có tôn giáo chân chính, nhưng nếu người ta thật sự nỗ lực t́m kiếm Thiên Chúa th́ họ sẽ gặp được Ngài, nếu thật sự muốn thực thi chân lư, công lư và t́nh thương th́ họ sẽ thực hiện được. C̣n những người có tôn giáo chân chính, nhưng lại thờ ơ với việc t́m kiếm Thiên Chúa, với việc thực thi chân lư, công lư và t́nh thương, người ấy sẽ chẳng gặp được Ngài, và trong người ấy không có chân lư, công lư và t́nh thương. Tôn giáo chân chính được ví như một chiếc xe hơi tốt, có thể giúp ta đi đến nơi cần đến một cách an toàn, nhanh chóng và bảo đảm. C̣n các tôn giáo khác như những loại xe kém hơn. Nhưng có đi đến nơi hay không, không tùy thuộc vào loại xe cho bằng ư chí quyết tâm muốn đi đến nơi. Người không có xe, phải đi bộ mà quyết tâm đi th́ chắc chắn sẽ tới nơi, c̣n có xe tốt và bảo đảm đến đâu, nhưng chính bản thân lại không quyết tâm đi, th́ không thể đến nơi cần đến được. Thiên Chúa vẫn luôn luôn tôn trọng đồng thời đ̣i hỏi sự tự do và quyết định của con người.

4. Thái độ của vua Hêrôđê, nhà cầm quyền

Nói tới Hêrôđê, ta thấy ông có một nỗi sợ hăi khi nghe các nhà chiêm tinh cho biết: «Đức Vua dân Dothái mới sinh». Ông sợ hài nhi mới sinh ấy sẽ lật đổ vương quyền của ông. Và dù biết hài nhi ấy đến từ Thiên Chúa, ông vẫn quyết tâm trừ khử. Như thế, tính tham quyền cố vị – ngoài xă hội cũng như trong Giáo Hội – có thể làm người ta mất hết lương tri, sẵn sàng gây nên tội ác, hay ít ra là im lặng để mặc sự ác phát triển. Hêrôđê quyết tâm t́m giết con trẻ Giêsu bằng cách «sai người đi giết tất cả các con trẻ ở Bêlem và toàn vùng lân cận từ hai tuổi trở xuống» (Mt 2,16). Tin Mừng không nói đến thái độ của các thượng tế và kinh sư trước tội ác của nhà cầm quyền. Như đă nói trên, sự hiểu biết của họ về việc sinh ra của Đấng Cứu Thế chỉ là thứ hiểu biết để mà hiểu biết, để mà rao giảng, chứ không hề làm cho họ trở nên lo lắng cho số phận của Đấng Cứu Thế hài nhi. Đối với họ, sinh mạng của Đấng Cứu Thế chẳng là ǵ cả, chuyện quan trọng đối với họ là sự an toàn bản thân và giữ cho vững những «chiếc ghế» của họ trong tôn giáo Do Thái. Theo họ, lên tiếng để làm ǵ cho liên lụy đến bản thân, cho mất quan hệ tốt đẹp với nhà cầm quyền? Im lặng cho mọi sự qua đi, bất chấp tốt xấu, đó không phải là thái độ của những ngôn sứ hay mục tử đích thật. Nếu họ sẵn sàng «bỏ chiên mà chạy khi thấy sói đến» (Ga 10,12) th́ họ cũng sẵn sàng im lặng bỏ mặc Đấng Cứu Thế mà họ rao giảng ra sao th́ ra, dẫu có nguy hiểm đến tính mạng.

***

 Nhiều Kitô hữu tưởng rằng cứ theo chính đạo do Thiên Chúa sáng lập là bảo đảm được cứu rỗi. Nhưng bài Tin Mừng hôm nay cho thấy, kẻ ngoại giáo quyết tâm t́m kiếm Thiên Chúa – là chân lư, công lư và t́nh thương – th́ lại bảo đảm gặp được Ngài hơn là người có chính đạo mà lănh đạm với việc t́m kiếm Ngài. V́ thế, người Kitô hữu đừng nên say ngủ trong chính đạo mà thờ ơ với những ǵ là chân lư, công lư và t́nh thương.

 

 

 

GHI DANH CHO NGƯỜI THÂN: Đón nhận Tâm Linh Vào Đời

 

       

 

 Tâm Linh Vào Đời là tâm t́nh của những người chấp nhận thân phận mong manh của ḿnh. Từ đó, khắc khoải kiếm t́m, rồi khám phá ra T́nh Yêu Thiên Chúa với cảm nhận sâu lắng: “Chỉ trong Chúa, Hồn tôi mới được nghỉ ngơi yên hàn”(Tv 61)

          Tâm Linh Vào Đời cũng là tâm trạng của những người nhận ra cuộc sống đạo máy móc của ḿnh.  Lên đường t́m kiếm chân lư. Cuối cùng, khám phá ra sự hiện diện và họat động của Thần Khí Thiên Chúa ngay trong tâm hồn ḿnh.