Tâm Linh Vào Đời
Một phương thế vô t́nh bị lăng quên chính là Đặt lại vấn đề-Suy tư-T́m kiếm
Đă được khai thác qua bài
Những Phương Thế Giúp Trưởng Thành Tâm Linh
Đức giáo chủ Biển Đức XVI cũng đă đặt ra những câu hỏi quyết-liệt trong Thông Điệp
DEUS CARITAS EST
Tác giả Mong Manh cũng tự thú nhận: Tôi cũng đă có giai đoạn không tin nổi
Giai Đoạn Của Ngờ Vực, Nghi Nan
Tác giả Nguyễn Chính Kết đă thẳng thắn đặt câu hỏi
Chúng ta đă thực sự thờ phượng Chúa trong Thần Khí và sự thật chưa?
Linh Kỳ c̣n nêu ra hàng chục câu hỏi nhỏ trong một câu hỏi lớn:
Chúng ta là anh em bằng máu đào hay nước lă
Tác giả Trần Mỹ Duyệt để nghị dành thời giờ thinh lặng để suy tư về
Thiên Chúa quá đỗi yêu
Những Phương Thế
Thường thường, khi đề cập tới phương thế sống đạo, phương thế lớn lên trong Chúa, chúng ta thường xoáy vào 2 phương thế cơ bản đó là Cầu nguyện và đọc Kinh Thánh. Hai phương thế này nghe có vẻ nghiêng về lư thuyết nên chúng ta thêm phần phục vụ để cụ thể hóa và phong phú hóa những ǵ ḿnh múc được từ hai nguôn trên. Dường như chúng ta vô t́nh lăng quên một phương thế cực kỳ quan trọng đó là suy tư - kiếm t́m nên việc cầu nguyện và đọc Kinh Thánh khó có thể giúp chúng ta trưởng thành trong đời sống tâm linh. Tất nhiên c̣n nhiều phương thế khác do mỗi người tự khám phá ra.
Sau đây chúng tôi xin tŕnh bày 4 phương thế căn bản qua năm bậc
Bậc Một: Chúa là vua, tôi là con dân của người: Tôi tôn thờ Ngài
Cầu nguyện: Tôi chỉ cầu xin hết on này tới ơn khác, xin măi không cho rất có thể tôi óan trách Chúa và thậm chí dẹp bỏ lễ lậy và cuối cùng gần như là bỏ đạo luôn
Đọc Kinh Thánh: Cả đời chẳng bao giờ rờ tới cuốn Kinh Thánh
Suy tư kiếm t́m: Ồ! tôi suy tư kiếm t́m hơn ai hết, nhưng suy tư ra thật nhiều mưu đồ - dù đen tối đến dâu đi nữa - để kiếm t́m thật nhiều tiền, chứ không phải để t́m kiếm Chúa!!
Phục vụ: Ai phục vụ tôi th́ lo phục vụ. Phần tôi, tôi chẳng cần quan tâm phục vụ ai hết, trừ những người có thể mang lại cho tôi tiền bạc, chức quyền, danh vọng.
Bổn phận duy nhất của tôi là đi lễ ngày Chúa nhật, và cố giữ ḿnh cho sao cho đừng phạm tội trọng để khỏi phải sa hỏa ngục. C̣n chuyện bị giam cầm nơi luyện ngục, tôi cầm chắc trong tay, lâu mau tùy ḿnh phạm tội nhẹ nhiều hay ít. Mang tiếng là tôi tôn thờ Thiên Chúa, nhưng hầu như tôi chỉ tôn thờ cái thằng tôi.
Bậc Hai: Chúa là ông chủ, tôi là người làm thuê: Tôi Tin vào ngài
Cầu nguyện: Chủ yếu là cầu xin, nguyện xin.
Đọc Kinh Thánh: Trong nhà có tới năm sáu cuốn Kinh Thánh lớn nhỏ nhưng tất cả đều được chưng trong tủ kiếng rất kỹ. Không ai chịu mở ra đọc.
Suy tư kiếm t́m: Tôi hầu như không một chút suy tư ǵ về Chúa, về chính bản thân ḿnh. Ngay cả những bài giảng của linh mục quản xứ vào những ngày Chúa nhật, tôi cũng nghe tai này, bay qua tai kia.
Phục vụ: Tôi hăng hái nhiệt t́nh tham gia vào công việc của giáo xứ. Nhưng hầu hết những việc bên ngoài như hát lễ, thăm bệnh nhân, khuyên nhủ những người khô khan nguội lạnh đi xưng tội, tham dự thánh lễ. Rồi báo cáo là đă mang về cho Chúa hàng chục linh hồn…Nhớ lại thời xưa, là một ca trưởng, tôi cố tập hát sao cho thật hay, nếu hay hơn các ca đ̣an khác th́ càng tốt. Hôm nào hát bể th́ cá đám như mèo cụp đuôi. Áy thế mà chúng tôi luôn tự hào là đại diện cộng đồng dân Chúa dâng lên Chúa những lời ca tiếng hát!! Chúng tôi cảm thấy ḿnh thánh thiện hơn rất nhiều người khác trong giáo xứ. Nhưng dưới ánh mắt của Chúa, tôi chỉ là một con rối đang làm tṛ hề vô tích sự.
Bậc Ba: Chúa là Cha: Tôi Yêu Ngài theo kiểu t́nh cảm nhân loại
Chầu Thánh Thể: Lâu lâu, chúng tôi Chầu Thánh Thể hàng tháng hoặc thay mặt giáo phận trong giờ chầu lượt của giáo xứ. Trong giờ thánh này, chúng tôi liên tục hát xướng, đọc Kinh Thánh, cầu nguyện tự phát, lần chuỗi. Vèo một cái giờ chầu Chúa qua nhanh như gió. Thế là chúng tôi cảm thấy ḿnh đă chu toàn bổn phận của thành viên trong cộng đoàn hay của một giáo dân trong giáo xứ.
Cầu nguyện: Chúng tôi đă biết ngợi khen, cảm tạ Chúa v́ biết bao hồng ân Chúa đă ban cho chúng tôi. Ngoài ra, chúng tôi con biết chuyển cầu cho anh em, cho những người đang gặp khó khăn hoặc đang cần sự trợ giúp lời cầu nguyện của chúng tôi. Trong khi cầu nguyện, chúng tôi gọi Ngài là Cha, và mở đầu giờ cầu nguyện với lời thân thưa rất gần gũi: Lạy Cha…chủ yếu để ngợi khen cảm tạ những ơn Ngài đă ban và tiếp tục lợi dụng Ngài bằng cách xin xỏ hết ơn này tới ơn khác.
Đọc Kinh Thánh: Chúng tôi đọc Kinh Thánh hàng ngày nhưng phần lớn chúng tôi chẳng hiểu Chúa muốn thực sự nói ǵ với chúng tôi. Chúng tôi đành nghe theo những lời giải thích của các bậc lănh đạo. Thật đáng tiêc hầu hết những lời giải thích của các bậc lănh đạo cũng mang tính lư thuyết. Thế nên chúng tôi không biết cách nào để áp dụng vào trong cuộc sống hàng ngày.
Suy tư kiếm t́m: Trong khi chia sẻ Lời Chúa, một người nào đó đă khiến chúng tôi suy tư về một ư tưởng mới lạ những có vẻ không hợp với truyền thống, chúng tôi hoang mang không biết thế nào, trong khi đó, anh huynh trưởng cấp cao đưa ra một ư kiến khác theo đúng nguyên văn Kinh Thánh – nghĩa đen hăn hoi – để minh họa, Thế là chúng tôi líu ríu theo anh trưởng mà tiếp tục ṃ mẫm trong đêm tối tâm linh. Chúng tôi chẳng cần suy tư kiếm t́m nữa, cứ để cho anh huynh trưởng dẫn đi dâu, chúng tôi đi theo đó - như một bày cừu. Chúng tôi như mây lang thang trong trong bầu trời bao la, như cánh bèo trôi vô định hướng trên ḍng sông cuộc đời mênh mông, không t́m đâu ra bến bờ.
Phục vụ: Chúng tôi thi đua nhau dấn thân loan báo Tin Mừng. Tin Mừng của chúng tôi rất đơn giản. Chúng tôi mời những người khác vào cộng đ̣an càng đông càng tốt. Ng̣ai ra, khi cần giảng giải, chúng tôi chỉ mỗi một việc là cứ đọc những bản văn đă được dọn sẵn rồi tán rộng ra một chút. Càng trung thành nguyên văn càng được coi là người loan báo Tin Mừng tốt, mặc dù chúng tôi chẳng cảm nhận được sức sống tiềm ẩn trong bản văn. Chúng tôi như những máy cassette vô hồn: bấm nút play, chúng tôi cứ vậy mà phát ra những ǵ đă ghi trong giấy. Chúng tôi rất tự hào v́ chúng tôi đang thực hiện công tŕnh của Chúa một cách nhiệt thành. Chúng tôi tôi vẫn oang oang chia sẻ với người khác rằng: Chúa ở bên tôi, đồng hành với tôi. Nhưng thực sự chúng tôi chẳng cảm nhận ǵ cả!!!Cụ thể là trong cuộc sống hàng ngày, chúng tôi vẫn coi Ngài là một ông Chúa xa vời. Bằng chứng thật rơ ràng: cả ngày chúng tôi chẳng nhớ tới Ngài được vài giây!!! Trừ một đôi khi, nhân dịp tĩnh tâm, chúng tôi có cảm giác gần Ngài hơn một chút, nhưng không bao giờ có thể chạm tới Ngài được. Thỉnh thoảng, một cái chết bất ngờ của anh em, chúng tôi lạc vào chặng BA - chặng suy tư, kiếm t́m - chúng tôi suy tư về cái chết và nhắc nhở nhau hăy sẵn sàng!! trong khi cả lũ chẳng ai biết làm cách nào để sẵn sàng, ngoài ư niệm mơ hồ: giữ ḿnh sạch tôi trọng để khỏi sa hỏa ngục!! Rồi đâu lại vào đấy, chúng tôi tiếp tục lối sống cũ. Tất cả chỉ đơn thuần ở ngoài miệng. Tóm lại chúng tôi và Chúa vẫn ngh́n trùng xa cách.
Ba bậc trên đây chỉ dẫn chúng tôi đi loanh quanh cho đời mỏi mệt v́ chúng tôi luôn mang tâm thức phân biệt: Chúa cao sang, thánh thiện. Tôi thấp hèn, tội lỗi. Chúa rực rỡ ánh sáng, tôi bị mù từ lúc mới sinh!! Chúa và chúng tôi luôn có một bức tường lạnh lùng ngăn cách. Chính v́ thế dù chúng tôi đă đi lễ, rước lễ, ra đi Loan báo Tin Mừng hàng trăm, hàng ngàn lần, và biết bao công phúc lớn nhỏ đă thực hiện, chúng tôi vẫn chưa thực sự bước vào con đường Tâm linh đích thực.
Bậc Bốn: Suy tư – Kiếm t́m Thiên Chúa
Trong bậc này, Suy tư – kiếm t́m đóng vai tṛ chủ đạo. nó len loi vào tất cả các phương thế trưởng thành tâm linh.
Viếng Thánh Thể: Tôi thường xuyên dành riêng khoảng một tiếng đồng hồ vào buổi tối để viếng thăm Chúa. Tôi leo lên tận cung thánh. Đứng ngay trước cửa nhà tạm, nh́m ngắm Chúa. Trong thinh lặng thẳm sâu tôi không nói ǵ, nhưng nghe ḷng ḿnh ấm hẳn lên. Một niềm b́nh an thấm dần, thấm dần. Trong khoảnh khắc linh thiêng đó, tôi quên tất cả, ḷng nhẹ nhàng lâng lâng . Một tiếng đồng hồ vút qua mau và tôi ra về trong niềm vui khôn tả…Chính niềm vui này nâng đỡ cuộc sống gian nan vất vả của tôi trở nên nhẹ nhàng hơn.
Cầu nguyện: Tôi không c̣n lải nhải ngợi khen, cảm tạ, cầu xin nữa. Tất nhiên là trước công đ̣an, tôi vẫn lớn tiêng cảm tạ, ngơi khen Chúa trong tâm t́nh con yêu dấu của Ngài. Nhưng khi một ḿnh với Chúa, tôi dùng nhiều cách khác nhau:
Khi đêm về, tôi ngồi một ḿnh trước mặt Chúa, hí hoáy viết nhật kư về cuộc t́nh giũa tôi và Chúa. Lúc đầu có vẻ khô khan .. càng ngày t́nh thân của tôi và Ngài càng sâu đậm hơn.
Vào những đêm khuya thanh vắng, tôi tập yên lặng nh́n ngắm Chúa. Thời gian đầu, tôi đặt ḿnh trước mặt Chúa..Nhưng sau đó tôi tập lắng nghe sự hiện diện của Ngài trong tâm hồn ḿnh. Cả vài tháng đầu tiên, tôi chẳng cảm thấy ǵ…Tôi có vẻ hơi lao đao và thất vọng. Không biết con đường này dẫn tôi tới đâu?? Hay một ngày nào đó bị tầu hỏa nhập ma th́ c̣n khổn khổ hơn nhiều. Đây là thời gian tôi thao thức , khắc khoải canh trường như kinh nghiệm của Augustino… Tuy nhiên, tôi vân kiên tŕ t́m kiếm Ngài. Tôi chợt nhớ lại h́nh ảnh Phanxicô As-si-di trong tác phẩm “Xin chọn người yêu là Thượng Đế”, ngài đă rất nhiều lần lăn lộn trong hoang mạc giữa đêm khuya, rên lên tiếng th́ thầm năo ruột: Lạy Ngài, Ngài là ai??? Tôi nghĩ đây chính là cây cầu tre lắc lẻo gập ghềnh mà bất cứ ai muốn thực sự gặp gỡ Ngài đều phải ṃ mẫm đi qua.
Đọc Kinh Thánh: Tôi quan niệm rằng cuốn Kinh Thánh là bức thư t́nh Thiên Chúa gửi riêng cho mỗi người. Tôi bắt đầu đọc rất chậm… rất chậm. Tôi cá nhân hóa vào nhân vật trong câu chuyện. Cá nhân hóa từ người tội lỗi, biệt phái, dân chúng tới các tông đồ và cá nhân hóa ngay cả Đức Giêsu nữa. Tôi không nh́n Đức Giêsu như một siêu nhân, một Thiên Chúa quyền năng nhưng Ngài chính là người anh cả rất dễ gần gũi và thân thương. Tôi mở ḷng đón nhận lời của Ngài vào ḷng ḿnh và dần dần tôi cảm nhận được sự hiện hiện và sống động của Chúa. Lời Chúa dường như bám riết lấy tôi suốt ngày một cách nhẹ nhàng kín đáo. Không khuấy động, cản trở ǵ công việc hàng ngày của tôi. Trái lại Lời Chúa như sức mạnh thầm kín truyền công lực, khiến tôi cảm thấy công việc trở nên nhẹ nhàng hơn, không c̣n nặng nề khó chịu như trước kia nũa.
Phục vụ: Tuy công lực vẫn c̣n non yếu nhưng đi đâu tôi cũng chia sẻ những khám phá mới của ḿnh, những kinh nghiệm đơn sơ của ḿnh. Lúc đó tôi quan niệm rằng loan báo Tin Mừng chính là loan báo cho anh chị em tin mừng của chính ḿnh đă nhận được sau mỗi thời gian suy tư kiếm t́m. Khám phá tới đâu, chúng tôi chia sẻ tới đó. Đón nhận niềm vui trong Chúa tới đâu, chúng tôi chia ngọt sẻ bùi tới đó. Tin mừng này mang đậm nét sống động chứ không khô khan lư thuyết như xưa kia tôi đă từng nói xùi cả bọt mép nhưng toàn là Lời Chúa trong sách vở và những tư tưởng của các nhà thần học lừng danh – chứ không phải của tôi - để hù ma thiên hạ!!
Bậc Năm: Tôi nên một với Chúa.
Sau nhiều tháng năm suy tư kiếm t́m, bỗng một lúc nào đó trong tích tắc tôi bỗng ngộ ra rằng tôi và Chúa vốn sống trong tôi, là nguồn sống , nguồn sức mạnh, nguồn t́nh yêu của tôi. Thế mà tôi phải lao đao kiếm t́m bao năm qua. Nhưng nếu tôi không kiếm t́m chắc chắn tôi không thể nhận ra. Ngài giống như viên ngọc quư, giống như kho báu chôn trong ruộng, tôi phải đào bới, kiếm t́m th́ mới nhận được. Gặp gỡ rồi, tôi phải tiếp tuc tập sống nên một với Chúa.
Có nhiều người hiểu lầm 2 vấn đề:
Vấn đề một: Họ cứ tưởng nên một với Chúa là sẽ có quyền phép, sẽ hô phong hóan vũ, sẽ thánh thiện vô cùng, sẽ không mắc một lỗi lầm nào nữa, sẽ hiền hơn cục bột, ai nắn như thế nào th́ ráng chịu như vậy, không phản đối…
Xin thưa: Hoàn toàn không phải như vậy.
Thực ra nên một với Chúa chính là t́m lại được CÁI MÀ M̀NH CÓ SẲN.
Cái mà ḿnh có sẵn đó là cái ǵ vậy?
Đó chính là con người đích thực của ḿnh: Là con Thiên Chúa, Mang h́nh ảnh Thiên Chúa, đồng h́nh đồng dạng với Đức Giêsu Kitô, thông phần bản tánh Thiên Chúa. Tới đây, chúng ta có thể nói. Tôi nên một với Thiên Chúa hay tôi trở nên Thiên Chúa (Chúa làm người để người làm Chúa). Tất cả những kiểu nói này cuối cùng cũng chỉ để diễn tả t́nh trạng của một người
Tôi sống, nhưng không c̣n phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi
Tôi sống, nhưng không c̣n phải là tôi, mà là Thần Khí Thiên Chúa sống trong tôi
Tôi sống, nhưng không c̣n phải là tôi, mà là Chúa sống trong tôi
Nói thế nào cũng được v́ họ đang sống một cuộc sống mới. Họ xác tín rất rơ:
Thân xác tôi là Đền Thờ của Thánh Thần; Mà Thánh Thần đang ngự trong tôi là Thánh Thần chính Thiên Chúa đă ban cho tôi. Như thế, tôi đâu c̣n thuộc về ḿnh nữa,( Tôi ḥan ḥan thuộc về Chúa, nên một với Chúa)
Vấn đề Hai: Không phải người lên bậc năm là suốt ngày ở bậc năm, 24/24, sống tr6n mây trên gió, chẳng c̣n liên quan dính dang ǵ tới phàm trần này. Thực ra, họ cũng rất b́nh thừong như những người khác. Họ cũng vui, buồn, bực ḿnh, đói, khát và cũng lỡ lầm, họ có vẻ hơi điên điên khùng khùng, thậm chí c̣n mang tiếng là bị quỷ ám, lạc đạo, rối đạo - v́ không quan niệm như mọi người khác. Cứ xem Đức Giêsu th́ rơ.
Ông ta không phải là bác thợ, con bà Ma-ri-a, và anh em của các ông Gia-cô-bê, Giô-xết, Giu-đa và Si-môn sao? Chị em của ông không phải là bà con lối xóm với chúng ta sao? (Mc 6:3)
"Ông ấy bị quỷ ám và điên khùng rồi! Nghe ông ấy làm ǵ? " (Ga 10:20)
Ai đạt tới tŕnh độ này, người đó tự biết một các xác tín: Chúa hiện diện và sống động ngay trong tâm ḿnh.. Và cuộc sống của họ dồi dào b́nh an, hạnh phúc. B́nh an, hạnh phúc này chỉ là kết quả đương nhiên của quá tŕnh gặp gỡ và sống với Chúa trong cuộc sống hàng ngày của ḿnh.
Tóm lại, tất cả các phương thế dù tuyệt vời đến đâu đi nữa - sẽ trở thành nữa vời nếu không có sự tham gia của suy tư, kiếm t́m. Như vậy Suy tư - kiếm t́m vừa là phương thế vừa là chất xúc tác giúp cho các phương thế khác hoàn tất nhiệm vụ dẫn dắt chúng ta tới bến bờ chân lư – bến bờ t́nh yêu Thiên Chúa – bến bờ tự đo, b́nh an và hạnh phúc đích thực. Nói gọn lại, Suy tư – Kiếm t́m chính là ch́a khóa giúp chúng ta trưởng thành tâm linh.
của giáo-chủ
BIỂN-ĐỨC XVI
các linh-mục và phó-tế
và tất-cả kitô-hữu
Phạm Hồng Lam chuyển ngữ
Về T́nh Yêu Kitô Giáo
1. “ Chúa là t́nh yêu, và ai ở trong t́nh yêu, kẻ đó ở trong Chúa, và Chúa ở lại với họ” (1 Yo 4, 16). Lời đó trong thư thứ nhất của thánh Gioan cho thấy hết sức rơ-ràng tâm điểm đức tin kitô giáo, cho thấy h́nh-ảnh Thiên-chúa của Kitô giáo và cả h́nh-ảnh con người bắt nguồn từ đó cũng như con đường sống của họ. Ngoài ra, qua đoạn đó, thánh Gioan cũng cho ta một thứ công-thức sống kitô-hữu: “Chúng tôi đă nhận ra t́nh yêu Thiên-chúa gởi đến cho chúng tôi và chúng tôi đă tin vào t́nh yêu đó” (xem 4, 16).
Chúng tôi đă tin vào t́nh yêu đó: Kitô-hữu có thể nói lên cái quyết-định nền-tảng của đời ḿnh như thế. Cuộc đời kitô-hữu khởi đầu không phải với một quyết-tâm đạo-đức hay với một ư-tưởng lớn-lao nào, nhưng bằng cuộc gặp-gỡ một biến-cố, một con người đă mở ra cho đời ta một chân trời mới, và nhờ đó dẫn ta về một hướng sống quyết-định. Phúc-âm Gioan đă diễn-tả biến-cố đó như sau: “Thiên-chúa đă yêu thế-gian quá đỗi, nên đă cho đi con một ḿnh, để ai tin vào con Ngài... th́ sẽ được sống đời-đời” (3, 16). Với việc công-nhận t́nh yêu là tâm điểm, đức tin kitô giáo đă chấp-nhận nội-dung căn-bản của đức tin Do-thái, và đồng thời đă mở ra cho t́nh yêu đó những chiều-kích sâu rộng mới. V́ rằng tín-hữu Do-thái vẫn ngày-ngày cầu nguyện với câu trích từ sách Thứ-luật, qua đó nói lên một cách tóm-tắt tâm điểm cuộc sống đạo của họ: “Israel, hăy nghe! Gia-vê, Thiên-chúa chúng ta, là đấng độc-nhất. V́ thế ngươi hăy yêu Ngài hết ḷng, hết trí và hết sức” (6, 4-5). Đức Jesu đă nối lời răn yêu Chúa đó vào lời răn yêu người trong sách Levi: “Ngươi hăy yêu người bên cạnh như chính ḿnh ngươi” (19, 18) để kết thành một sứ-vụ duy-nhất (xem Mc 12, 29-31). Bởi v́ Thiên-chúa đă yêu ta trước (xem 1 Yo 4, 10), nên t́nh yêu không c̣n chỉ là một “giới răn”, nhưng là sự đáp trả lại quà tặng yêu thương của Chúa đă trao cho ta.
Trong một thế-giới thỉnh-thoảng người ta vẫn nối tên Chúa với việc trả thù và ngay cả dùng tên Ngài để kêu-gào thù-hận và bạo-lực, th́ đây là một sứ-điệp mang tính thời-sự cao và rất thực-tiễn.
V́ thế trong thông-điệp đầu-tiên này tôi muốn nói về t́nh yêu, t́nh yêu mà Chúa đă tặng cho ta và ta cần phải trao đi tiếp. Đó là nội-dung của hai phần lớn trong thông-điệp này, chúng có liên-hệ mật-thiết với nhau. Phần đầu mang tính suy-tư nhiều hơn, v́ tôi muốn – mở đầu cho sứ-vụ giáo-chủ của tôi – làm sáng-tỏ một vài điểm căn-bản về t́nh yêu mà Chúa đă trao ban cho con người một cách nhiệm-mầu và nhưng-không, đồng thời muốn chỉ ra sự liên-hệ nội-tại giữa t́nh Chúa đó với thực-tại t́nh yêu của con người. Phần hai cụ-thể hơn, v́ nó tŕnh-bày việc thực-thi giới-răn t́nh yêu tha-nhân của Giáo-hội. Đề-tài như thế rất rộng, mục-đích của thông-điệp này không nhắm tới việc giải-quyết tất-cả một cách rốt-ráo. Mong-ước của tôi là khai-triển một số yếu-tố nền-tảng để khơi dậy một sự sống-động mới nơi thế-giới qua việc đáp-trả thực-tế của con người trước t́nh yêu Thiên-chúa.
2. T́nh Chúa yêu ta là một vấn-nạn nền-tảng của cuộc sống và từ đó đặt ra những câu hỏi quyết-liệt: Chúa là ai và chính chúng ta là ai. Ở đây, chúng ta thoạt-tiên gặp phải một trở-ngại từ-ngữ. Ngày nay, “t́nh yêu” là một trong những từ được sử-dụng nhiều nhất và cũng là một từ bị lạm-dụng nhiều nhất, nó được gán cho muôn thứ nghĩa khác nhau. Mặc dù đề-tài thông-điệp này tập-chú vào nghĩa và cách thực-hành t́nh yêu theo lối hiểu của Kinh-thánh và của truyền-thống Giáo-hội, ta cũng không thể không t́m hiểu ư nghĩa của nó hàm-chứa trong các nền văn-hoá khác nhau.
Trước hết là nét muôn mặt của “t́nh yêu”: Chúng ta nói tới t́nh yêu tổ-quốc, t́nh yêu nghề-nghiệp, t́nh bạn, t́nh yêu công-việc, t́nh cha mẹ con cái, t́nh anh chị em, t́nh bà-con xóm-giềng, t́nh yêu tha-nhân và t́nh yêu Chúa. Nhưng trong toàn-bộ cái muôn mặt đó nổi lên t́nh yêu nam nữ như là thứ t́nh uyên-nguyên và uy-lực nhất, trong đó thể-xác và tâm-hồn tác-động bện chặt vào nhau, nó mở ra cho con người hứa-hẹn hạnh-phúc, và mọi thứ t́nh khác đứng gần bên nó, thoạt nh́n, đều trở nên mờ-nhạt. Câu hỏi đặt ra: Liệu các loại-h́nh t́nh yêu đó, bằng cách này hay cách khác, có lệ-thuộc vào nhau không, và t́nh yêu – dù biểu-hiện dưới nhiều dạng khác nhau – có phải là một thể thống-nhất hay không, hay là chúng ta đă dùng cùng một từ-ngữ đó để chỉ nhiều thực-tại khác nhau?
Giai Đoạn Của Ngờ Vực Nghi Nan
Mong Manh
Những ngày này, đọc Tin Mừng tuần IV và tuần V Mùa Chay theo thánh Gioan, Đức Giêsu đôi co căi vă với những người Do thái, người Pharisêu, các kinh sư... thật sống động và thật hấp dẫn. Đức Giêsu th́ khẳng định nguồn gốc của ḿnh và nói về Đấng đă gửi Ngài đến thi hành Thánh Ư. C̣n những người Do thái, các kinh sư, người Pharisêu... th́ lại biết rất rơ nguồn gốc của Đức Giêsu và họ coi thường Ngài. Theo họ nếu là vị cứu tinh th́ phải bí mật đến nỗi họ không biết ông ta tự đâu mà đến (trên trời rơi tơm xuống đất) và ông sẽ là siêu nhân. Ông sẽ chiều theo ư họ để họ cảm phục, quyền lực oai hùng thống trị của ông mạnh mẽ vô song, ông thống lănh các dân tộc để cho họ hănh diện tự hào về dân tộc của họ... Nhưng Đức Giêsu mà họ biết rơ rành rành lại là anh chàng thợ mộc bần dân, lại là kẻ vi phạm luật lệ, lại c̣n kiêu ngạo tự xưng ḿnh là Con Thiên Chúa. Ngài đưa các nhân chứng như Gioan Tẩy Giả, Kinh Thánh và có trời nói họ cũng chẳng tin. Quả đúng như vậy, Ngài đưa cả Chúa Cha ra làm chứng nhưng họ vẫn không tin. Những cuộc đôi co căi vă mỗi lúc một quyết liệt hơn đến nỗi họ nói Ngài bị quỷ ám, con người khùng điên và họ ném đá Ngài. Cái nh́n con người của họ th́ họ ném đá một ông Giêsu người chẳng ra người - ngợm không ra ngợm - ông không ra ông - thằng chẳng ra thằng nhưng cái nh́n của đức tin th́ họ đă chửi Thiên Chúa là khùng điên, quỷ ám và ném đá Thiên Chúa. Sau này ông Phaolô đă cuống lên phát biểu : Cái điên rồ của Thiên Chúa th́ hơn cái khôn ngoan của con cái loài người. Nếu họ tin Đức Giêsu là Thiên Chúa th́ chắc hẳn họ không đóng đinh Người.
Ngày xưa người Do thái không tin nổi Đức Giêsu là Thiên Chúa. C̣n ngày hôm nay thiếu ǵ người “tin” Đức Kitô, Ngài là Thiên Chúa nhưng sao họ không vui, không hạnh phúc, không đến gần... họ vẫn dửng dưng, họ vẫn xa lạ, họ vẫn mê man... ? Phải chăng tin là gặp gỡ Đức Giêsu mang thân phận Con Người ? Phải chăng tin là gặp gỡ Đức Giêsu trong thân phận Tấm Bánh ?
Tôi cũng đă có giai đoạn không tin nổi. Trong tất cả những cuộc căi vă đôi co với người Do thái v́ Chúa là Chúa nên bao giờ cuối câu chuyện th́ Chúa vẫn thắng và con người vẫn bị đè bẹp. Một Đức Giêsu đến trần gian để yêu thương con người mà sao thế giới con người qua nhiều thế kỷ vẫn cứ bệnh tật đau khổ bất công đói nghèo... ? Một Đức Giêsu bảo là yêu thương mà sao không yêu thương uốn nắn cải hóa được những người cứng đầu cứng cổ như người Do thái, các kinh sư, người Pharisêu... mà lại cứ lên án họ, chọc tức họ qua việc đề cao những dân ngoại? Ngài bị treo trên thập giá và có chết là chỉ tảng vờ bởi thân xác treo lên, mũi đinh mũi giáo đâm thâu nhưng chỉ đau đớn thân xác c̣n bản tính Thiên Chúa th́ bay là là bên ngoài cười ngạo nghễ chơi, thân xác chỉ là đồ mượn c̣n Ngôi Hai th́ ai làm được ǵ nào? Cái án tử h́nh treo trên thập giá đó đâu có đau đớn bao nhiêu, tí là chết, chết là hết đau, thế mà bao con người rên rẩm thương tiếc khóc than cái chết của Ngài, đâu có ǵ đáng kinh khủng ghê gớm lắm đâu? Biết bao người cả đời đớn đau khổ sở hơn nhiều, những thử thách đ̣n vọt tra tấn kéo dài c̣n khủng khiếp hơn nhiều? Và c̣n nhiều nữa... kể hết ra lại càng phơi bầy cái giai đoạn rối đạo tàn bạo. Chẳng ai ngờ với một kẻ khù khờ như tôi mà lại dám nghĩ lằng nhằng vớ vẩn đến như thế!
Một khoảng khắc thâm nhập. Vâng, chỉ vài ba cái tích tắc thôi. Chẳng hiểu Thánh Thần ùa nhập như thế nào mà toàn bộ năo trạng thay đổi cả. Cái nh́n của con mắt đức tin bừng mở ra. Một Thiên Chúa chân thật với hết cả tấm ḷng xót thương chứ Người không giả bộ đóng kịch bịp bợm lừa dối. Ánh Sáng ùa vào xua tan bóng đêm tối tăm. Bừng sáng lên những tia hy vọng và tràn đầy hạnh phúc v́ được yêu thương, được cứu chữa. Ô! cái màn đên tăm tối dầy đặc ngông cuồng đă được Ánh Sáng xua tan. Những ẩm thấp, lạnh lẽo buốt giá... đă được đốt nóng lên ấm áp. Ao tù nước đọng ruồi nhặng... đă được thông nguồn suối nước mát trong. Xác chết xám xịt vô hồn... nay đă được tiếp sức sống động linh hoạt. Những chuyện nhỏ nhen chật hẹp co cụm... nay được mở tung ra.
Thế đấy! ai nên khôn mà lại chẳng khốn một lần. Để tin cho đúng th́ cũng đă lần ṃ đi qua giai đoạn của ngờ vực nghi nan. Chúa dắt đi theo đường lối của Chúa. Chúa thực hiện những điều kỳ diệu cho những người khao khát kiếm t́m Chúa với một tấm ḷng tha thiết ước muốn. Chân Lư sẽ giải thoát anh em mà lị.
Đức Giêsu đă đến thật gần, thật sát với con người. Ngài đă lê lết trong đám bụi trần này với con người. Ngài đă sống với con người mà không ai tin nổi Ngài lại như thế. T́nh yêu của Ngài lớn quá nên con người không nhận ra. Ngài đă sống bạn bè với con người. Thế nhưng, ngày nay nhiều người cũng không gần gũi được với Ngài bởi v́ họ kê bệ Ngài quá cao, họ luôn tạo khoảng cách với Ngài v́ họ sợ xúc phạm Ngài. Họ lo tôn thờ Ngài hơn là để Ngài trở nên bạn hữu vào trong cuộc sống thường ngày và cũng không muốn Ngài xía vào cuộc sống tầm thường bụi bậm của họ bởi họ sợ hạ giá Ngài quá. Họ “tấn công” Ngài với những phép tắc kính cẩn của họ. Họ “tra tấn” Ngài bằng những kinh kệ, nghi thức tôn vinh long trọng, những màn biểu diễn tuyệt vời, những sinh hoạt tôn giáo sầm uất mà chẳng biết trầm lặng để lắng nghe Ngài, nhận ra khuôn mặt thật của Ngài. Những nghi lễ phụng vụ quá nghiêm túc, quá xa lạ, quá lạnh lùng, lo t́m cảm giác đánh mất cả hồn. Sự ấm cúng, gần gũi, hồn nhiên vui tươi thật hiếm có trong cầu nguyện, trong nghi lễ, trong kinh nguyện phụng vụ. Trước Chúa Giêsu Thánh Thể, họ tay chắp gối qú mắt hướng cao miệng gào ầm lên tôn thờ mà không biết sống Hiện Diện, không biết sống chiêm ngắm.
Việc loan báo và chia sẻ hôm nay chính là nói về kinh nghiệm sống đức tin của ḿnh. Nhiều người nghe cứ hay đánh giá phê phán người nói, ông này bà kia nói hay nói dở, người này có giọng hấp dẫn, kẻ nọ có ư tưởng mới lạ... Do đó làm nhiều người “rát” không dám nói. Nói là tuyên xưng đức tin của ḿnh, là tỏ bày kinh nghiệm sống đức tin của ḿnh nên có ngọng nghẹo ngượng nghịu cụt nhủn ấp a ấp úng nhưng với một đức tin chân thật một tấm ḷng thành th́ gấp vạn lần những bài nói văn hoa từ ngữ sáo rỗng. Người nghe là người đón nhận đức tin của người nói, mà đă là đức tin th́ không phê b́nh không đánh giá không khen ngợi không chê bai. Tôn trọng việc Thiên Chúa đang thực hiện những điều kỳ diệu nơi con người của họ.
Điểm cuối cùng là dùng những cơ hội thuận tiện giúp nhau đến gặp gỡ Ánh Sáng để chính Ánh Sáng sẽ soi rọi vào ngơ ngách bóng tối đêm đen của đời ḿnh. Và cũng chính Ánh Sáng sẽ giúp xua tan bóng đêm, bởi đó là việc của Người.
“Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người” (Ga 1,9)
Chúng ta đă thật sự thờ phượng Thiên Chúa
trong Thần Khí và sự thật chưa?
Nguyễn Chính Kết
1 Các cụm từ «đă đến giờ» và «giờ đă đến – và chính là lúc này đây» trong bài Tin Mừng có ư nghĩa ǵ? Giờ đó là giờ nào?
2 Thế nào là «thờ phượng Thiên Chúa trong thần khí»? Thế nào là «thờ phượng Thiên Chúa trong sự thật»? Trái ngược với hai kiểu thờ phượng ấy là thờ phượng thế nào? Chúng ta đang thờ phượng Thiên Chúa theo kiểu nào: kiểu lỗi thời của các kinh sư Do Thái hay kiểu «mới» của Đức Giê-su?
3 Có cần thiết phải sửa đổi cung cách thờ phượng của chúng ta không? Nếu không th́ sao? Việc thờ phượng kiểu lỗi thời có c̣n giá trị không?
Vào thời Cựu Ước, tŕnh độ tâm linh của con người c̣n non kém, đầu óc con
người thường chỉ hướng về những ǵ cụ thể, hữu h́nh, dễ thấy, nghĩa là họ hướng
ra ngoài hơn là vào nội tâm. V́ thế, việc thờ phượng Thiên Chúa chủ yếu gồm
những việc cụ thể, thấy được, được thực hiện trong thời gian và không gian rơ
rệt. Từ bản chất, thờ phượng Thiên Chúa chính là nh́n nhận Thiên Chúa là chủ tể
vũ trụ, có toàn quyền trên tất cả mọi sự, trong đó, con người coi mạng sống và
của cải của ḿnh là quí giá nhất. Để biểu lộ sự nh́n nhận quyền chủ tể đó của
Thiên Chúa, đúng ra con người phải sát tế chính mạng sống ḿnh; nhưng làm như
thế, con người sẽ dần dần chết hết, là điều mà Thiên Chúa không muốn.
V́ thế, con người bèn sát tế những con vật như chiên ḅ làm của lễ hy sinh
dâng lên Thiên Chúa thay cho mạng sống của ḿnh (x. St 4,3; 8,20; Xh 20,24;
29,18; Lv 1,14; v.v…). Có lần, để thử thách niềm tin và tinh thần hy sinh hiến
dâng ấy, Thiên Chúa yêu cầu Abraham sát tế đứa con trai duy nhất của ḿnh là
Isaác làm lễ vật toàn thiêu: khi thấy Abraham không tiếc với ḿnh đứa con duy
nhất, Thiên Chúa đă ra tay cứu Isaác (x. St 22,1-14). Điều đó cho thấy Thiên
Chúa không muốn con người phải chết để biểu lộ sự nh́n nhận quyền chủ tể của
Ngài.
Đến thời Đức Giêsu, Ngài đă khai mở một kỷ nguyên mới, thích hợp với
tŕnh độ tâm linh con người vốn đă lên cao hơn. V́ càng về sau, con người càng
có khả năng tư duy trừu tượng hơn, biết hướng vào nội tâm hơn. V́ thế, việc thờ
phượng Thiên Chúa phải mặc lấy một h́nh thức mới hợp với tŕnh độ mới: tức cao
hơn, mang tính nội tâm hơn. Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu chủ trương một
cách thờ phượng Thiên Chúa mới mẻ hơn, cao cấp hơn. Ngài nói: «Đă đến giờ các
người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giêrusalem (…) Giờ
đă đến – và chính là lúc này đây – những người thờ phượng đích thực sẽ thờ
phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật. (…) Thiên Chúa là thần khí, nên những
kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật».
Đức Giêsu nói khi Ngài c̣n sống: «Đă đến giờ», «Giờ đă đến – và chính là
lúc này đây» . Như vậy, Đức Giêsu yêu cầu con người thay đổi cách thờ phượng
Thiên Chúa cho xứng hợp với tŕnh độ mới của con người đă được 2000 năm, một
thời gian rất dài! Nhưng ta thử xét lại xem, cách thờ phượng của chúng ta trong
thế kỷ 21 này đă thay đổi và tiến bộ đúng như yêu cầu của Đức Giêsu cách đây
2000 năm chưa? Sau 20 thế kỷ tiến bộ về vật chất đến mức chóng mặt, con người đă
tiến bộ về tâm linh thế nào, đặc biệt trong cách thờ phượng Thiên Chúa? Chúng ta
đă nội tâm hóa việc thờ phượng ấy chưa, hay vẫn c̣n mang nặng tính bề ngoài,
tính vật chất, tính câu nệ h́nh thức, và vẫn c̣n lệ thuộc nặng nề về thời gian
lẫn không gian? Việc thờ phượng Thiên Chúa của chúng ta hiện nay đă đúng với
tinh thần Tân Ước của Đức Giêsu chưa, hay vẫn theo tinh thần Cựu Ước của đám
kinh sĩ và biệt phái Do Thái xưa, vốn đă bị Đức Giêsu coi là lỗi thời từ 2000
năm nay?
Thiết tưởng chúng ta nên đặt lại vấn đề này một cách nghiêm chỉnh, và sửa
đổi lại những ǵ chưa đúng. Điều quan trọng chúng ta cần t́m hiểu là: Thế nào là
«thờ phượng Thiên Chúa trong thần khí và sự thật»?
Đức Giêsu nói: «Thiên Chúa là thần khí, nên những kẻ thờ phượng Người phải thờ
phượng trong thần khí» . Thần khí (pneuma – esprit – spirit) là tinh thần, tâm
linh, thuộc thế giới nội tâm, không thấy được. Thần khí th́ ngược với vật chất,
thể lư, thuộc thế giới bên ngoài, cụ thể, thấy được. Thiên Chúa của chúng ta
không phải là một Thiên Chúa hữu h́nh, nên việc thờ phượng Thiên Chúa không nhất
thiết phải xảy ra ở bên ngoài, trong không gian và thời gian. Theo Đức Giêsu,
Ngài là thần khí, là tinh thần, là thiêng liêng, nên việc thờ phượng Ngài cũng
phải thực hiện trong thần khí, trên b́nh diện tinh thần, nghĩa là một cách
thiêng liêng, trong nội tâm con người. Hành vi thờ phượng phải là hành vi của
tâm hồn, là thái độ của nội tâm, hơn là hành vi của thể xác.
Thiên Chúa của chúng ta không phải là một Thiên Chúa cứ phải nghe ta nói,
nh́n ta biểu lộ ra ngoài mới hiểu được ta; trái lại, Ngài biết hết, thấu hiểu
hết những ǵ ta nghĩ, ta cần, ta muốn nói: «Cha trên trời thừa biết anh em cần
những ǵ rồi» (Mt 6,32; Lc 12,30). V́ thế, xét về phía Thiên Chúa, việc thờ
phượng Ngài không cần thiết phải biểu lộ ra bên ngoài bằng lời nói, bằng lễ
nghi, bằng những biểu hiện bên ngoài: «Khi cầu nguyện, anh em đừng nhiều lời như
dân ngoại; họ tưởng cứ nói cho nhiều là được nhận lời» (Mt 6,7).
Điều Ngài mong muốn nằm trong thái độ nội tâm của chúng ta: tinh thần từ
bỏ, tự hủy, ḷng quảng đại, biết ơn, khâm phục, nhất là t́nh yêu dành cho Ngài.
Nếu Giáo Hội chủ trương phải biểu lộ việc thờ phượng ra bên ngoài th́ không phải
là v́ Thiên Chúa mà v́ con người: để việc thờ phượng mang tính cộng đoàn, tính
Giáo Hội, hay để biểu lộ vinh quang Thiên Chúa cho con người, v.v…
Ngày nay, cần phải thay thế việc thờ phượng Thiên Chúa qua những h́nh thức
bên ngoài bằng việc thờ phượng Thiên Chúa trong thần khí. Lễ vật dùng để sát tế,
để toàn thiêu không c̣n là chiên, ḅ, hay bất kỳ một vật nào khác, mà phải là
«cái tôi» ích kỷ và kiêu căng của ta, là ư riêng của chúng ta, là những dự định
dù tốt hay xấu nhưng không phù hợp với ư muốn của Thiên Chúa. Bàn thờ hay đền
thờ – nơi sát tế – là chính tâm hồn ta. Thời điểm sát tế không c̣n là một thời
điểm cố định nào do con người qui định, mà phải là thời gian liên tục. V́ sát tế
không c̣n là một hành động xảy ra vào những thời điểm nhất định nào đó, cho bằng
một thái độ nội tâm thường hằng trong đời sống ta, thậm chí trở thành một yếu tố
cố định trong bản tính của ta. Cầu nguyện cũng không c̣n là một hành động cho
bằng một trạng thái thường hằng của nội tâm. Một biểu hiện lư tưởng của việc thờ
phượng trong thần khí đă được Đức Giêsu nói đến trong bài Tin Mừng hôm nay:
«Lương thực của Thầy là thi hành ư muốn của Đấng đă sai Thầy, và hoàn tất công
tŕnh của Người». Việc quan tâm thi hành thánh ư Thiên Chúa phải thay thế cho
việc quan tâm thực hiện ư riêng ḿnh, phải trở thành lương thực nuôi sống đời
sống tâm linh của ta.
Thờ phượng Thiên Chúa trong sự thật khác với thờ phượng Thiên Chúa trong
giả dối. Thờ phượng Thiên Chúa trong sự thật đ̣i hỏi những ǵ ḿnh nói với Thiên
Chúa phải phản ảnh đúng những tâm t́nh, ư nghĩ trong đầu óc ḿnh, và đúng với
thực tế của đời sống ḿnh. C̣n thờ phượng Thiên Chúa trong giả dối là có sự khác
biệt giữa điều ḿnh cầu nguyện với tâm tư, t́nh cảm và đời sống thực tế của
ḿnh. Cầu nguyện như thế chẳng những hoàn toàn vô ích mà c̣n xúc phạm và tỏ ra
coi thường Thiên Chúa nữa. Nếu không thể thờ phượng Thiên Chúa trong sự thật,
th́ thà rằng đừng thờ phượng c̣n hơn là thờ phượng Ngài trong giả dối.
Ngày xưa, người ta có thể giết chết một con vật làm lễ toàn thiêu, để tượng trưng cho việc họ nh́n nhận quyền Chủ Tể trên mọi sự của Thiên Chúa. Hành động tế tự đó hoàn toàn xảy ra ở bên ngoài. Nhưng bên trong, người ta vẫn có thể tiếc với Thiên Chúa những chuyện rất nhỏ: chẳng hạn họ không thể từ bỏ một ư riêng, một sở thích, một vật đang muốn chiếm hữu, hoặc hoăn thi hành một dự định, hy sinh một cơ hội, v.v… để làm đẹp ḷng Thiên Chúa. Như vậy, hành động thờ phượng bên ngoài chẳng phù hợp chút nào với tâm trạng bên trong. Chính v́ thế, có lần Đức Giêsu nói về việc thờ phượng của họ: «Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, c̣n ḷng trí chúng th́ lại xa Ta. Việc chúng thờ phượng Ta thật là vô ích» (Mt 15,8-9; Mc 7,6-7; x, Is 29,13).
Ngày nay, có biết bao người khi cầu nguyện th́ nói rằng ḿnh yêu mến Chúa,
sẵn sàng hy sinh mọi sự v́ Chúa; nhưng trong đời sống th́ chẳng thấy họ yêu mến
Ngài ở chỗ nào. Họ thường nói với Chúa: «Xin tha cho con như con vẫn tha kẻ có
nợ với con» , nhưng trong thực tế, họ chấp nhất và bắt bẻ lỗi người khác từng
chút một! Điều tệ hại là người ta vẫn cảm thấy an tâm, họ tưởng rằng làm như thế
là đă chu toàn bổn phận thờ phượng đối với Thiên Chúa!
Thiên Chúa rơ ràng không ưa lối thờ phượng đó. Ngôn sứ Isaia diễn tả sự
ngao ngán và dị ứng của Thiên Chúa đối với kiểu thờ phượng bên ngoài ấy: «Lễ
toàn thiêu chiên cừu, mỡ bê mập, Ta đă ngấy. Máu ḅ, máu chiên dê, Ta chẳng
thèm! Thôi, đừng đem những lễ vật vô ích đến nữa. Ta ghê tởm khói hương; Ta
không chịu nổi ngày đầu tháng, ngày sabát, ngày đại hội, không chịu nổi những
người cứ phạm tội ác rồi lại cứ lễ lạc linh đ́nh. Ta chán ghét những ngày đầu
tháng, những đại lễ của các ngươi. Những thứ đó đă trở thành gánh nặng cho Ta,
Ta không chịu nổi nữa. Khi các ngươi dang tay cầu nguyện, Ta bịt mắt không nh́n;
các ngươi có đọc kinh cho nhiều, Ta cũng chẳng thèm nghe. V́ tay các ngươi đầy
những máu» (Is 1,11b.13b-15). Thử đặt ḿnh vào địa vị của Ngài xem ta có thể
chấp nhận một cung cách thờ phượng như thế không? Tại sao ta lại có thể đang tâm
tiếp tục thờ phượng Ngài theo kiểu ấy?
Tôi nghe Chúa nói với tôi: «Ta đă chán những lễ nghi rỗng tuếch,
ghét những những nghi thức trang trọng mà người cử hành chẳng tỏ
ra có chút t́nh thương nào trong ḷng. Ta cần t́nh
thương của con người, nhưng họ lại chỉ dâng lên Ta toàn những nghi
thức, lời kinh trống rỗng!» (JK)
CHÚNG TA LÀ ANH EM:
BẰNG MÁU ĐÀO HAY NƯỚC LĂ ?
Linh Kỳ
Là một người b́nh thường, một giáo dân công giáo, mỗi ngày tôi vẫn chạy đua với chính ḿnh, với thời gian, với cuộc sống, và dường như c̣n phải chạy đua với tất cả mọi người xung quanh nữa.
Rất có thể khi nghe ḍng suy tưởng này của tôi, một bậc đạo hạnh nào đó sẽ mỉm cười và nhận xét rằng:
Chạy đua với mọi người làm ǵ? Thế gian mọi sự của chung, và tất cả chúng ta đều là anh em.
· Là anh em với một nhà sư khổ hạnh, một nhà từ thiện, hay một người hiền đức và thánh thiện?
- Hừm... điều này quá dễ !
· LÀ anh em với một người ngoại đạo luôn khước từ việc nhận Chúa là Cha?
- Ừ ! cũng có thể … có sao đâu ?
· Là anh em với một kẻ luôn phỉ báng Giáo Hội và Thiên Chúa?
- Ồ ! không muốn đâu, có thể "HỌ"((đồng đạo) sẽ chửi cho!
· Là anh em với một số tín đồ Hồi Giáo cuồng tín, ôm bom tự sát?
- Thôi không dám .. có thể bị trả thù lắm !
· Hay là anh em với một tội nhân thiên cổ: Hitler ?
- Mong ai đó đừng có đùa dai !
I. Anh Em Theo Định Nghĩa Trần Thế
Trong cuộc sống, tùy theo hoàn cảnh, môi trường xă hội, nhận thức tôn giáo, vv, mà ở một mức độ nào đó thích hợp với từng người, chúng ta xem người khác là anh em.
Chúng ta có thể gọi nhau là anh em v́ cùng chung huyết thống, nghĩa khí, quê hương, xứ sở, chủng tộc, đức tin, hay thậm chí là đồng loại.
Và cho dù quan niệm "anh em" của mỗi cá nhân là thế nào đi chăng nữa, trong cuộc sống mỗi ngày, rất ít ai có thể làm được việc coi tất cả nhân loại là anh em.
Là một giáo dân Công Giáo, tôi miệt mài tin tưởng vào công cuộc sáng tạo của Thiên Chúa. Giáo Lư Công Giáo dạy tôi rằng: mỗi một linh hồn đều do chính ngài tạo nên (CCC - 366). Nói cách khác, về phần linh thể, chúng ta là anh em.
Vậy c̣n phần thể xác, chúng ta là anh em: bằng máu đào hay nước lă?
- Theo định nghĩa truyền thống, Thiên Chúa cũng đích tay tạo dựng nên thân xác thuỷ tổ loài người (Adam and Eve - CCC 362, 369). Nhưng trong cuộc sống mỗi ngày, chắc sẽ không khó để mọi người công nhận rằng: thân xác chúng ta, huyết thống chúng ta là "TIẾP NỐI TRỰC TIẾP " và hữu h́nh của các bậc cha mẹ; và v́ đó, chúng ta có rất ít anh em. Nói cách khác, đối với mỗi một người, đại đa số thiên hạ đều là "NGƯỜI DƯNG". [1]
Cũng v́ đó mà:
· Nếu anh em của tôi là những người hàng xóm, th́ nhiều khi chỉ đi vài trăm bước, thế giới mà tôi đang thấy đă toàn là "NGƯỜI DƯNG";
· Nếu anh em của tôi là những người cùng một dân tộc, th́ trên con đường đến sở mỗi ngày ở xứ này, "HỌ" toàn là những người "XA LẠ";
· Nếu anh em của tôi là những người Công Giáo đi chẳng hạn, th́ nhiều khi: bước đến “cổng Chùa” đă gặp vô số "KẺ THÙ";
· Nếu anh em của tôi chỉ là những người cùng quan điểm, cùng lập một lời thề hứa nào đó, th́ ngay cả trong Giáo Hội Công Giáo, chúng ta đă "TỰ CHIA RA THÀNH NHIỀU MẢNH";
Và nh́n chung trong cuộc đời, v́ phần lớn mọi người xung quanh đều là những người không cùng một huyết thống, một dân tộc, một đất nước, một đảng phái, một niềm tin, một tôn giáo, một ư chí, một quan điểm, hay là một nhận xét, vv., rất ít người trong chúng ta có thể thật sự đối xử với nhau như là anh em.
III. Thiên Chúa Có Đối Xử Với Chúng Ta Công Bằng ?
Có rất nhiều người đă hỏi rằng: tại sao thiên hạ mỗi một người đều có thân phận khác nhau, xứ sở khác nhau, điều kiện sống khác nhau, kiến thức khác nhau, tôn giáo khác nhau?
Phải chăng Thiên Chúa là đấng có dị ḷng?
- Có lẽ rất nhiều người đă và c̣n đang nghĩ vậy nên trong cuộc sống, rất nhiều kẻ đă bạo phổi cất tiếng than oán, cất tiếng "chửi Trời", có khi là cất tiếng "chửi Thiên Chúa" bất công hay tàn nhẫn.
- Có lẽ rất nhiều người đă nghĩ vậy, nên có kẻ v́ lư tưởng này, v́ tín điều này, v́ tôn giáo này, mà nhận xét: v́ ai đó tội lỗi nên Chúa ban h́nh phạt nhăn tiền qua qua chiến tranh, thiên tai, ôn dịch, bệnh tật, vv.
Đă một thời gian rất dài, tôi cũng tự hỏi chính ḿnh những câu hỏi đó.
Theo thiển ư nhỏ bé của cá nhân: v́ Thiên Chúa đích tay tạo dựng mỗi linh hồn mà thân xác là do tiếp nối "hữu h́nh" từ các bậc cha mẹ: đổ thừa hay trách Chúa về những đau khổ trong cuộc sống, trong hoàn cảnh xă hội, hay trong thân xác, coi bộ không hợp lư lắm.
NHƯNG hơn lúc nào hết, tôi thật tin: THIÊN CHÚA ĐĂ KHÔNG PHẢI THẾ. Và ngài có lẽ đă ban phát tặng phẩm, ân huệ rất đồng đều đối với mỗi linh hồn mà chúng ta không biết. V́ cho dù không phải mỗi một người trên trái đất đều tin có Thiên Chúa, trong công cuộc tạo dựng, chúng ta đều là con cái của ngài.
IV. Một Số Kinh Nghiệm Bản Thân
Mỗi một cuộc hành tŕnh tâm linh là đi trên con đường đầy cam go, gồ ghề, và vất vả. Có nhiều khi, hành tŕnh đó c̣n là t́m kiếm Thiên Chúa trong nội tâm, trong kiến thức và lương tâm nhân loại nữa.
Ngay từ thuở thiếu thời cho măi đến gần hôm nay, có một thời gian rất dài, tôi thường "Kiêu Ngạo" nghĩ ḿnh là người Công Giáo; người của giao ước mới; người của một Giáo Hội được tràn đầy ân sủng về phần tâm linh cũng như về phần vật chất; và người được Thiên Chúa tuyển chọn một cách riêng để "BAN ƠN CỨU ĐỘ". Để rồi, trong cuộc sống, tôi đă "đánh mất" khoảng thời gian quư báu khi đă "TỰ M̀NH NGỒI TRONG NHÀ CHÚA MÀ KHÔNG BIẾT CHÚA LÀ G̀".
Tôi đă t́m kiếm, đă học, và đă t́m thấy nhiều điều đáng phải học về Thiên Chúa từ trong cuộc sống cũng như từ những người xung quanh. Nổi bật hơn hết là sự t́m kiếm câu trả lời cho những vấn nạn về SỰ BAN PHÁT ÂN SỦNG một cách công bằng, hay không công bằng của Thiên Chúa trong những quan niệm sống đạo thời nay; và điển h́nh như:
1. Trong Hợp Tuyển Thần Học Số 22, tôi học được rằng: Ki Tô Học đương thời có nhiều lập trường khác nhau về môi trường cứu rỗi cho tất cả mọi linh hồn, mọi người. Nhưng tựu chung, có bốn lập trường chính.
· “ Theo Kitô học được gọi là “chuyên nhất” (exclusive), giữ lập trường cho rằng Đức Kitô là trung gian tuyệt đối duy nhất, và không để một ai ngoài Ngài, tham dự vào vai tṛ ấy; kết quả là ngoài Giáo hội tuyệt nhiên chẳng có ơn cứu độ.” [1]
· “C̣n Kitô học được gọi là “bao gồm” (inclusive), th́ dù ư thức Đức Kitô là Đấng trung gian duy nhất, nhưng lại xác tín rằng Ngài cứu rỗi mọi người ngay cả ở trong hoặc qua các tôn giáo khác; Giáo hội là bí tích cứu rỗi cho cả các dân ngoại nữa.” [1]
· “Kitô học “quy phạm” (normative) cho rằng Đức Kitô là trung gian chuẩn mực, và Thiên Chúa có thể cứu rỗi qua những trung gian khác; Giáo hội là “cộng đồng cứu độ chuẩn mực,” và các tôn giáo khác cũng là trung gian đối với các tín đồ của họ.” [1]
· “Nếu Đức Kitô không phải là trung gian quy phạm (non normative), tất Thiên Chúa dùng đến nhiều vị trung gian cứu rỗi cùng với các mạc khải khác; và Giáo hội chỉ là một cộng đồng cứu rỗi giữa nhiều cộng đồng khác.” [1]
“Lập trường thứ hai là lập trường chính thức của Giáo hội Công giáo, bỏi đó là lập trường trung thành hoàn toàn với những ǵ Tân Ước cho biết về: Đấng trung gian duy nhất (x. Cv 4: 12; 1Tm 2: 5), Đấng nhập thể và cứu chuộc “chỉ một lần” duy nhất (x. Dt 9: 26.28), và thiên tính của Đức Kitô (x. Ga 20: 28). Giáo hội công nhận là các tôn giáo có giá trị thật về mặt cứu độ; nhưng nguồn ơn cứu độ là chính Chúa Kitô, và được chuyển thông – một cách nhiệm mầu chỉ Thiên Chúa biết – nhờ Giáo hội là bí tích cứu độ phổ quát. Những giá trị các tôn giáo chứa đựng, được coi như “hạt giống của Ngôi Lời;” bởi Thần Khí của Đức Kitô hằng hoạt động qua nghi thức và giáo lư của các tôn giáo ấy, khiến cho mọi người có thể mở ḷng để đón nhận ơn cứu rỗi. Tuy nhiên, nhiều điều trong các tôn giáo ấy cũng cần phải được “thanh tẩy” cho phù hợp với ư Thiên Chúa, như được mạc khải trong Kinh Thánh.” [1]
2. Theo quan niệm của thánh Thomas Aquinas trong Tổng Hợp Thần Học (Summa Theologica) [2]:
· Thiên Chúa là Đệ Nhất Nguyên Nhân (First Cause, Prima Causa), là Đệ Nhất Tác Nhân (First Agent, Primum Agens), nhưng ngài đă TỰ CHỌN không trực tiếp can dự vào việc vận hành của vũ trụ hay các biến cố trong thế giới.
· Trong mỗi một tạo vật (mỗi một con người, mỗi loài, mỗi vật - bất kể tôn giáo) một bản năng, tự biết hành thiện hướng thiện hợp ḷng Chúa.
- Aquinas gọi đó là potentia obedientialis hay obediential potency
- các nhà thần học gọi đó là Mạc Khải Tự Nhiên (graced nature)
3. Và Đức Giám Mục Bùi Tuần dường như có lần đoán trúng tâm sự "KIÊU NGẠO" của tôi khi ngài viết:
"Ảo tưởng về Thiên Chúa.
Sẽ là ảo tưởng về Chúa, khi tưởng rằng Chúa là của riêng ḿnh, của đạo công giáo ḿnh, c̣n những nơi ngoài Hội Thánh ḿnh th́ vắng Chúa.
Sẽ là ảo tưởng về Chúa, khi tưởng rằng Chúa sẽ mở cửa thiên đàng chỉ cho những ai xưng ḿnh thuộc về Chúa, làm việc cho Chúa, chứ không có chuyện Chúa đón nhận những người ngoài, cho dù họ có tâm hồn ngay chính, biết thương người, phục vụ con người một cách vị tha."[3]
Cứ thế, tôi đă t́m kiếm và đă học rất nhiều. Nhưng, trái với những ǵ tôi mong ước, dường như càng học, càng t́m kiếm, càng khám phá, tôi càng cảm thấy ḿnh đang đi trên con đường " tẩu hỏa nhập ma" trong những quan niệm về Thiên Chúa và ơn cứu rỗi. Trong một dịp t́nh cờ, một "vị thầy tâm linh thần bí" đă nhắc nhở tôi bằng một câu thánh kinh quen thuộc mà một thời tôi đă quên mất:
BE STILL AND KNOW THAT I AM GOD (Psalm 46:11)
Trong cái nh́n của cuộc đời: ĐÚNG ! chúng ta không có nhiều anh em.
Trong cái nh́n của tâm linh, khi tôi tin mỗi một linh hồn đều do chính bàn tay Thiên Chúa tạo nên và cho dù chúng ta có xuất xứ, hoàn cảnh và cuộc sống cá biệt: ĐÚNG ! "tất cả" chúng ta đều là anh em.
Có lẽ, Thiên Chúa không đưa chúng ta vào đời để chạy đua trong những cuộc thi không cân sức: v́ ngoài những người có "DIỄM PHÚC", c̣n có những người "BẤT HẠNH" hơn chúng ta rất nhiều ở mọi phương diện thể xác, vật chất và tinh thần. Có lẽ, chúng ta không nên tin đó là những " SỰ BẤT HẠNH V̀ THIẾU ÂN SỦNG " trong khi đang t́m về hạnh phúc với một Thiên Chúa Cao Cả, Công B́nh, và là "T̀NH YÊU TUYỆT ĐỐI" [4].
Và cứ thế, ḍng suy tưởng và những quan niệm đức tin vẫn dẫn dắt tôi mỗi ngày trong cuộc sống. Mùa chay này, tôi đặc biệt nguyện ước sẽ "VÂNG LỜI" đức Giám Mục Bùi Tuần khi ngài nhắc nhở: "sẽ là ảo tưởng về Thiên Chúa" khi tôi c̣n chưa thật sự đối xử với mọi người xung quanh như là ANH EM:
Anh em trong t́nh yêu và sự thật;
Anh em trong kiến thức và lương tâm nhân loại;
Và anh em trong cuộc sống mỗi ngày.
"Người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ thầy: là các con yêu thương nhau" (Ga 13,35)
nói th́ dễ,
làm th́ khó,
và có lẽ đến trọn kiếp này,
với tôi, đó vẫn chỉ là Một Nguyện Ước
hiện thời thật tâm mà nói:
hầu như mọi việc làm bác ái của tôi,
đều bắt đầu và kết thúc ngay tại trong gia đ́nh …
Tài Liệu Tham Khảo
[1] HỢP TUYỂN THẦN HỌC Số 22: Giáo HỘi HỌc III, CHƯƠNG 18a, GIÁO HỘI ĐỐI NGOẠI
Các tôn giáo ngoại kitô có giá trị như thế nào xét về mặt thần học? Các tác giả đề xuất nhiều ư kiến khác nhau. [19] Giáo lư chính thức công nhận các tôn giáo ấy có một giá trị và đóng giữ một vai tṛ tích cực trong việc cứu rỗi các tín đồ của ḿnh. [20] Dựa theo dạng Kitô học của riêng mỗi người, các tác giả nhận ra những vai tṛø khác nhau của các tôn giáo:
1) Theo Kitô học được gọi là “chuyên nhất” (exclusive), giữ lập trường cho rằng Đức Kitô là trung gian tuyệt đối duy nhất, và không để một ai ngoài Ngài, tham dự vào vai tṛ ấy; kết quả là ngoài Giáo hội tuyệt nhiên chẳng có ơn cứu độ.
2) C̣n Kitô học được gọi là “bao gồm” (inclusive), th́ dù ư thức Đức Kitô là Đấng trung gian duy nhất, nhưng lại xác tín rằng Ngài cứu rỗi mọi người ngay cả ở trong hoặc qua các tôn giáo khác; Giáo hội là bí tích cứu rỗi cho cả các dân ngoại nữa.
3) Kitô học “quy phạm” (normative) cho rằng Đức Kitô là trung gian chuẩn mực, và Thiên Chúa có thể cứu rỗi qua những trung gian khác; Giáo hội là “cộng đồng cứu độ chuẩn mực,” và các tôn giáo khác cũng là trung gian đối với các tín đồ của họ. 4) Nếu Đức Kitô không phải là trung gian quy phạm (non normative), tất Thiên Chúa dùng đến nhiều vị trung gian cứu rỗi cùng với các mạc khải khác; và Giáo hội chỉ là một cộng đồng cứu rỗi giữa nhiều cộng đồng khác.
Lập trường thứ hai là lập trường chính thức của Giáo hội Công giáo, bỏi đó là lập trường trung thành hoàn toàn với những ǵ Tân Ước cho biết về: Đấng trung gian duy nhất (x. Cv 4: 12; 1Tm 2: 5), Đấng nhập thể và cứu chuộc “chỉ một lần” duy nhất (x. Dt 9: 26.28), và thiên tính của Đức Kitô (x. Ga 20: 28). Giáo hội công nhận là các tôn giáo có giá trị thật về mặt cứu độ; nhưng nguồn ơn cứu độ là chính Chúa Kitô, và được chuyển thông – một cách nhiệm mầu chỉ Thiên Chúa biết – nhờ Giáo hội là bí tích cứu độ phổ quát. Những giá trị các tôn giáo chứa đựng, được coi như “hạt giống của Ngôi Lời;” bởi Thần Khí của Đức Kitô hằng hoạt động qua nghi thức và giáo lư của các tôn giáo ấy, khiến cho mọi người có thể mở ḷng để đón nhận ơn cứu rỗi. Tuy nhiên, nhiều điều trong các tôn giáo ấy cũng cần phải được “thanh tẩy” cho phù hợp với ư Thiên Chúa, như được mạc khải trong Kinh Thánh.
-----------------------------------------------------------------
[2] Thiên Chúa Giáo Và Tam Giáo, Cao Phương Kỷ (Lm.)
Chương 7
NiềmTin Vào Một Ngôi Vị Thiên Chúa, Thượng Đế, Ông Trời
THIÊN CHÚA SIÊU VIỆT VÀ NỘI TẠI
3/ Loài có Trí Khôn Tham Dự vào Bản Thể Thiên Chúa bằng những cách thức nào?
Theo Thánh Tôma, loài người có trí khôn được tham dự vào sự tương tự với Chúa, là h́nh ảnh Chúa bằng ba cách thế:
Một là, theo khuynh hướng tự nhiên, con người có thể hiểu biết và yêu mến Chúa được, đó là yếu tính của lư trí con người: đă là người th́ ai cũng có khả năng ấy;
Hai là, dầu một cách bất toàn, con người hiện tại, thường vẫn hiểu biết và yêu mến Chúa; do đó, con người là h́nh ảnh Chúa v́ con người cố gắng thuận theo Ân Sủng Chúa ban;
Ba là, con người biết và yêu mến Chúa một cách hoàn hảo: đó là con người được tham dự vào h́nh ảnh vinh quang của Chúa
Ta n