Tâm Linh Vào Đời
Thông điệp Thiên Chúa là t́nh yêu. Giáo chủ Biển Đức XVI
Mùa chay: Nhận biết ḿnh. Mong Manh
Nhân sinh quan Tin Mừng: Phải chết đi mới sống lại. Giuse Trương Đ́nh Hiền
Gặp gỡ Chúa Giêsu. Trần mỹ Duyệt
của giáo-chủ BIỂN-ĐỨC XVI
Phạm Hồng Lam chuyển ngữ
2. T́nh Chúa yêu ta là một vấn-nạn nền-tảng của cuộc sống và từ đó đặt ra những câu hỏi quyết-liệt: Chúa là ai và chính chúng ta là ai. Ở đây, chúng ta thoạt-tiên gặp phải một trở-ngại từ-ngữ. Ngày nay, “t́nh yêu” là một trong những từ được sử-dụng nhiều nhất và cũng là một từ bị lạm-dụng nhiều nhất, nó được gán cho muôn thứ nghĩa khác nhau. Mặc dù đề-tài thông-điệp này tập-chú vào nghĩa và cách thực-hành t́nh yêu theo lối hiểu của Kinh-thánh và của truyền-thống Giáo-hội, ta cũng không thể không t́m hiểu ư nghĩa của nó hàm-chứa trong các nền văn-hoá khác nhau.
Trước hết là nét muôn mặt của “t́nh yêu”: Chúng ta nói tới t́nh yêu tổ-quốc, t́nh yêu nghề-nghiệp, t́nh bạn, t́nh yêu công-việc, t́nh cha mẹ con cái, t́nh anh chị em, t́nh bà-con xóm-giềng, t́nh yêu tha-nhân và t́nh yêu Chúa. Nhưng trong toàn-bộ cái muôn mặt đó nổi lên t́nh yêu nam nữ như là thứ t́nh uyên-nguyên và uy-lực nhất, trong đó thể-xác và tâm-hồn tác-động bện chặt vào nhau, nó mở ra cho con người hứa-hẹn hạnh-phúc, và mọi thứ t́nh khác đứng gần bên nó, thoạt nh́n, đều trở nên mờ-nhạt. Câu hỏi đặt ra: Liệu các loại-h́nh t́nh yêu đó, bằng cách này hay cách khác, có lệ-thuộc vào nhau không, và t́nh yêu – dù biểu-hiện dưới nhiều dạng khác nhau – có phải là một thể thống-nhất hay không, hay là chúng ta đă dùng cùng một từ-ngữ đó để chỉ nhiều thực-tại khác nhau?
“Eros” và “Agape” – khác-biệt và hợp-nhất
3. T́nh yêu nam nữ là thứ t́nh không nẩy sinh từ lí-trí và ḷng muốn, nhưng có sức khống-chế con người. Người Hi-lạp xưa gọi nó là Eros. Nên biết, chữ Eros được nhắc đến hai lần trong Cựu-ước, nó hoàn-toàn không c̣n xuất-hiện nữa trong Tân-ước: Trong ba từ diễn-tả t́nh yêu trong tiếng Hi-lạp - Eros, Philia (t́nh bạn) và Agape – các sách Tân-ước chỉ dùng từ Agape, một từ rất được ít dùng trong thường-ngữ Hi-lạp. Ư-niệm t́nh bạn (Philia) được thánh-sử Gioan dùng và đào sâu ư nghĩa để diễn-tả t́nh đức Jesu đối với các môn-đệ. Khi đẩy từ Eros ra lề và dùng từ Agape để nói lên một cái nh́n mới về t́nh yêu, Kitô giáo rơ-ràng đă tạo nên một cái mới nền-tảng cho t́nh yêu. Các nhà phê-b́nh chống Kitô giáo kể từ thời Ánh sáng trở đi, mà giọng-điệu ngày càng tỏ ra gay-gắt hơn, đánh giá cái mới này hoàn-toàn tiêu-cực. Friedrich Nietzsche bảo rằng Kitô giáo đă đánh thuốc độc Eros; Eros đă không chết v́ thuốc đó, nhưng đă biến thành một cái ǵ xấu-xa [1]. Với phát-biểu đó, nhà triết-học Đức đă nói lên cái cảm-nhận khá phổ-biến: Phải chăng Giáo-hội dùng giới-răn và cấm-đoán để phá hư đi cái đẹp nhất của cuộc sống? Phải chăng Giáo-hội đă dựng bảng cấm trước thú vui mà Tạo-hoá đă ban cho con người để họ đạt hạnh-phúc và qua đó họ nếm được phần nào cái hạnh-phúc của Thiên-chúa?
4. Nhưng có thật vậy không? Có thật Kitô giáo đă phá hư Eros? Ta hăy nh́n vào thế-giới tiền Kitô giáo. Người Hi-lạp – cũng có liên-hệ bà-con với các văn-hoá khác – thoạt tiên nh́n Eros như là sự ngất-ngây, như lực khống-chế của lí-trí đến từ một “nổi giận của thần-linh”, nó lôi con người ra khỏi ngơ hẹp của thân-phận và giúp nó đạt tới hạnh-phúc tuyệt-vời nhờ sự khống-chế của sức mạnh thần-linh đó. Mọi quyền-lực khác trên trời dưới đất v́ thế trở thành thứ yếu. “Omnia vincit Amor”, Virgil nói thế trong Bucolia “T́nh yêu thắng mọi sự”. Và ông thêm: “Et nos cedamus amori” – “Cả chúng ta nữa cũng chịu thua t́nh yêu” [2]. Thái-độ này biểu-hiện qua tục thờ phong-nhiêu (phồn-thực) trong các tôn-giáo, mà chuyện đĩ-điếm “linh-thiêng” ta thấy nhan-nhản trong nhiều đền thờ cũng là một thành-phần trong đó. Như vậy, Eros được ca-tụng như là sức mạnh thần-thánh, như là sự kết-hợp với thần-linh.
Kinh-thánh Cựu-ước cực-lực chống lại loại tôn-giáo đó, coi đó là cơn cám-dỗ quyền-năng phản lại niềm tin vào một Thiên-chúa duy-nhất và là một thứ tôn-giáo thoái-hoá. Ở đây, Cựu-ước rơ-ràng không khước-từ bản thân Eros, nhưng chống lại sự biến chất phá-hoại của nó. Bởi v́ việc thần-thánh hoá Eros một cách sai-trái như ta thấy ở đây đă cướp đi phẩm-giá và chất người của nó. Các cô gái điếm có nhiệm-vụ tạo khoái-lạc thần-linh trong các ngôi đền thực ra không được đối-xử như những con người và những nhân-vị, song chỉ là những đồ-vật dùng để tạo “điên-loạn thần-linh” mà thôi. Họ thật ra không phải là những nữ thần, nhưng là những con người bị lạm-dụng. V́ vậy cái Eros hoan-lạc và vô-độ đó không đưa con người “xuất-thần” lên thần-linh, nhưng trái lại đẩy họ xuống vực sâu. Như vậy, Eros cần phải được điều-hướng và thanh-lọc, để nó không phải giúp con người có được chút khoái-lạc giây-lát, nhưng giúp họ nhấm-nháp được phần nào đỉnh cao của cuộc sống – cái hạnh-phúc mong-đợi của cả cuộc đời mỗi chúng ta.
Eros trong lịch-sử và hiện-tại
5. Cái nh́n ngắn-gọn về bức tranh Eros trong lịch-sử và hiện-tại cho thấy hai điểm. Điểm thứ nhất, t́nh yêu có liên-hệ với thần-linh một cách nào đó: Nó hứa-hẹn cái đời-đời, bất tận – một cái ǵ lớn hơn và hoàn-toàn khác hơn cái hằng ngày của cuộc sống chúng ta. Nhưng đồng thời ta cũng biết con đường dẫn tới đích-điểm đó không dễ t́m thấy, nếu cứ để mặc cho bản-năng khống-chế ḿnh. Cần những quá-tŕnh thanh-lọc và trưởng-thành, các quá-tŕnh đó có thể dẫn ta đi qua con đường hăm ḿnh. Đó không phải là khước-từ Eros, không phải là “đánh thuốc độc”, nhưng là để chữa lành giúp nó đạt tới cái cao-cả thật-sự của nó.
Sở-dĩ như vậy trước hết là v́ bản-chất con người bao gồm thể-xác lẫn tinh-thần. Con người trở thành chính ḿnh thật-sự khi đạt được sự thống-nhất nội-tại giữa tinh-thần và thể-xác; có được sự hợp-nhất đó th́ mới vượt thắng được thách-đố của Eros.
Khi con người muốn ḿnh chỉ là tinh-thần không thôi và coi thường thể-xác như chỉ là một thứ di-sản thú-vật, lúc đó phẩm-giá của tinh-thần lẫn thể-xác sẽ mất.
Và khi họ chối-từ tinh-thần, chỉ c̣n coi thể-xác là thực-tại duy-nhất, lúc đó họ cũng đánh mất chiều-kích cao-cả của ḿnh. Ông Gassendi, một môn-đệ của phái khắc-kỉ, trêu-chọc Descartes khi gọi ông này: “Này tinh-thần”. Và Descartes đă trả lời lại “Này thể-xác!” [3]. Không phải tinh-thần yêu hay thể-xác yêu, mà là con người, nhân-vị yêu như một thụ-tạo duy-nhất và thống-nhất, trong đó bao-gồm cả tinh-thần lẫn thể-xác. Chỉ khi cả hai thực-sự trở thành một, lúc đó con người mới là chính ḿnh. Chỉ như thế, t́nh yêu – Eros – mới trưởng-thành đạt tới chiều-kích cao-cả thật của nó.
Ngày nay, người ta tố-cáo Giáo-hội trong quá-khứ đă nhiều lần nhiều cách có thái-độ thù-nghịch với thể-xác, và những khuynh-hướng kiểu này xưa nay vẫn không thiếu. Nhưng cái lối ca-ngợi thể-xác, như ta thấy ngày nay, là nhầm-lẫn. Eros bị hạ xuống chỉ c̣n là “hành-vi tính-dục”, trở thành hàng-hoá, thành thuần-tuư “đồ-vật” có thể mua bán, và hơn nữa, chính con người như thế cũng trở thành hàng-hoá. Đó hẳn không phải cách chấp-nhận đại-độ của con người đối với thân-xác ḿnh. Nhưng trái lại, họ coi thể-xác và tính-dục thực chất chỉ là vật-chất để họ sử-dụng và lợi-dụng tuỳ ư. Người ta không xem hai thứ đó như là vùng không-gian thể-hiện tự-do của ḿnh, nhưng như là một cái ǵ để họ cố-gắng làm sao vừa thụ-hưởng vừa không nguy-hiểm tuỳ theo cách của họ. Thực-tế, chúng ta đang đứng trước cảnh hạ giá thân-xác con người: thân-xác này không c̣n được hội-nhập vào khung tự-do toàn-diện của cuộc sống của ta nữa, nó không c̣n là phản-ảnh sống-động của con người toàn-vẹn của ta nữa, nhưng bị đẩy vào phạm-vi thuần-tuư sinh-vật. Việc tụng-ca thể-xác giả-tạo đó có thể bật ngược thành ḷng thù-hận thể-xác rất nhanh.
Đức tin kitô giáo, trái lại, luôn coi con người là hữu-thể thống-nhất gồm tinh-thần và vật-chất tác-động lên nhau và nhờ đó cả hai luôn có được sự cao-quư mới. Vâng, Eros kéo ta tới lănh-vực thần-linh, đưa ta vượt lên trên chính ta, nhưng cũng chính v́ vậy nó cần một con đường thăng tiến, con đường hăm ḿnh, thanh-lọc và chữa-trị.
6. Con đường thăng tiến và thanh-lọc đó sẽ như thế nào trên thực-tế?
T́nh yêu phải được sống ra sao để đáp-ứng được những hứa-hẹn của con người và của Thiên-chúa?
Ta có thể t́m thấy những chỉ-dẫn đầu-tiên quan-trọng trong sách Diệu-ca, một trong những sách của Cựu-ước không xa-lạ ǵ với các nhà thần-bí. Theo quan-điểm chung hiện nay, các bài thơ trong sách đó nguyên là những bài thơ t́nh yêu, có lẽ người xưa soạn cho một đám cưới do-thái để ca-ngợi t́nh yêu đôi-lứa. Một chi-tiết rất bổ-ích cho chúng ta là sách dùng hai từ khác nhau để chỉ t́nh yêu. Đầu-tiên là chữ “dodim” - từ ở số nhiều, muốn nói đến một t́nh yêu đang kiếm-t́m chưa rơ-ràng, chắc-chắn. Chữ này sau đó được thế bằng từ “ahaba”, trong Kinh-thánh Cựu-ước nó được dịch ra tiếng Hi-lạp bằng một từ gần giống với “Agape”, và – như ta thấy – đó chính là từ Kinh-thánh muốn dùng để diễn-tả t́nh yêu. Đối lại với mối t́nh mơ-hồ đang đi t́m, giờ đây t́nh yêu đă được xác-định, qua việc khám-phá ra kẻ khác và v́ thế yếu-tố ích-kỉ, một yếu-tố trước đó vẫn bàng-bạc, nay biến mất. T́nh yêu giờ đây có nghĩa là chăm-lo cho kẻ khác và v́ kẻ khác. Nó không muốn chỉ riêng cho ḿnh nó nữa – chỉ biết trầm ḿnh trong cơn say hoan-lạc –‚ nhưng muốn điều tốt cho người ḿnh yêu: nó chấp-nhận từ-bỏ và sẵn-sàng trở thành kẻ hi-sinh.
Con đường thăng tiến và thanh-lọc nội-dung t́nh yêu cũng gồm cả yếu-tố dứt-khoát, dứt-khoát theo hai nghĩa: duy-nhất – “chỉ có một người này mà thôi” – và “cho măi-măi”. T́nh yêu bao-hàm cả cuộc sống trong mọi chiều-kích của nó, kể cả chiều-kích thời-gian. Không thể khác được, là v́ hứa-hẹn của t́nh yêu là chung-cuộc: T́nh yêu hướng tới đời-đời. Vâng, t́nh yêu là “xuất-thần”, nhưng xuất-thần không phải trong nghĩa khoái cảm giây-lát, nhưng như là con đường luôn mở để cái Tôi khép kín của ta mở ra, chấp-nhận hi-sinh và nhờ thế gặp được chính ḿnh, và tất-nhiên, gặp được Chúa: “Ai t́m cách giữ cuộc sống ḿnh th́ sẽ mất, ai đánh mất th́ sẽ giữ được nó” (Lc 17, 33). Câu nói đó của đức Jesu ta gặp đi gặp lại với chút thay-đổi trong nhiều đoạn Phúc-âm (xem Mt 10, 39; 16, 25; Mc 8, 35; Lc 9, 24; Yo 12, 25). Với những lời đó, đức Jesu tả cho ta thấy con đường của chính Ngài, con đường đi qua thánh-giá dẫn tới phục-sinh, con đường hạt cải rơi xuống đất, chết đi và nhờ đó sinh nhiều trái; nhưng qua đó, Ngài cũng nói lên bản-chất của t́nh yêu và của cả cuộc đời con người, khởi đi từ những hi-sinh của Ngài và từ t́nh yêu của Ngài đă được hoàn-thành qua hi-sinh đó.
Mong Manh
Lậy Chúa tôi ! bố mấy ông người Do Thái cũng không thể nhận biết được, huống chi đàn con cháu với đôi mắt kèm nhèm ngái ngủ giữa một bầu trời “tối đen” như thế ! “Khi ấy, người Do thái lại lấy đá ném Đức Giêsu. Người bảo họ: “Tôi đă cho các ông thấy nhiều việc tốt đẹp Chúa Cha đă giao cho tôi làm ; v́ việc nào mà các ông ném đá tôi?” Người Do thái đáp: “Chúng tôi ném đá ông, không phải v́ một việc tốt đẹp, nhưng v́ một lời nói phạm thượng: ông là người phàm mà lại tự cho ḿnh là Thiên Chúa” (Ga 10,31-33) ; Và v́ không nhận biết nên các ông chứng tỏ ra cái điều biết lo... ḅ trắng răng ; rồi với ḷng ghen tức nên cùng vào hùa với nhau t́m lư do để xóa hộ khẩu “Các thượng tế và các người Pharisêu triệu tập Thượng Hội Đồng và nói : “Chúng ta phải làm ǵ đây ?.... Nếu chúng ta cứ để ông ấy tiếp tục, mọi người sẽ tin vào ông ấy, rồi người Rôma sẽ đến phá hủy cả nơi thánh của ta lẫn dân tộc ta... thà một người chết thay cho dân c̣n hơn là toàn dân bị tiêu diệt” (Ga 11,47-50)
Những người Do thái và những bậc lănh đạo tôn giáo cũng v́ việc không nhận biết nên các tông đồ và môn đệ tiếp tục sứ mạng loan báo “Đấng mà quư vị đă đóng đinh vào thập giá, và Thiên Chúa đă làm cho trỗi dậy từ cơi chết...” (Cv 4,10) để rồi các ông cũng cùng chung số phận bị khai trừ bằng nhiều cách thức dă man.
Ngày nay cũng v́ việc không nhận biết nên nhiều chứng nhân đă “ăn đạn”, hoặc nhẹ hơn là cà chua và trứng thối, hoặc tuy không được “ăn đá” thật th́ cũng bị những viên đá to đùng từ trong những đầu óc của người chung quanh tương ra.
Nhận biết ở đây chính là “gặp gỡ” được ḷng xót thương của Thiên Chúa, đă gửi Con Một của Người đến trần gian chung kiếp sống làm người và lănh nhận tội lụy của con người để đưa con người vào cung ḷng yêu thương của Chúa Cha và cho hưởng nếm niềm vui hạnh phúc. Do đó, con người có nhận biết hay không nhận nhận biết th́ Thiên Chúa vẫn cứ yêu thương âu yếm con người và luôn kiên nhẫn chờ đợi cho đến khi nào con người nhận ra.
Về phía con người, thường tưởng ḿnh đă nhận biết do đó mà nói th́ rất hay mà thực hành th́ lại “mau quên”. Một người đă nhận biết thực sự th́ cuộc sống có thay đổi, điều chỉnh lại nếp sống, thống nhất con người và có niềm vui hạnh phúc. Vậy để nhận ra t́nh yêu thương âu yếm của Chúa, th́ trước tiên con người cần nhận biết chính ḿnh cho ra nhẽ, chứ không phải chỉ luẩn quẩn quanh quéo với những cái nông cạn hời hợt ở bên ngoài hay nổi lềnh bềnh vật vờ ở bên trên. Phần đa số, với suy nghĩ và lư luận, ai cũng cho ḿnh là đúng cả rồi nên việc biết ḿnh đến nơi đến chốn th́ thật không đơn giản chút nào “trong khi chính ḿnh lại không thấy cái xà trong con mắt của ḿnh” (Lc 6,42). Nhận biết ḿnh thật đến chỗ thương ḿnh bởi ḿnh chẳng là cái cóc khô ǵ ; nhận biết ḿnh đến chỗ nhận ra ḿnh bé mọn, chỉ c̣n biết trông chờ vào một ḿnh Chúa, đấy mới là nhận biết ḿnh thật. Càng nhận biết ḿnh bao nhiêu th́ lại càng nhận biết t́nh yêu thương của Chúa bấy nhiêu “Lậy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, v́ Cha đă giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn” (Lc 10,21) ; “Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nh́n tới” (Lc 1,48)
... đi vào cuộc thương khó
Ngày Lễ Lá, đoàn rước trên tay mỗi người cành lá đung đưa, theo Đức Giêsu đi vào cuộc thương khó của Ngài. Tưởng nhớ ngày Đức Giêsu vào thành thánh Giêrusalem “Các ông dắt lừa mẹ và lừa con về, trải áo choàng của ḿnh trên lưng chúng, và Đức Giêsu cỡi lên. Một đám người rất đông cũng lấy áo choàng trải xuống mặt đường, một số khác lại chặt nhành chặt lá mà rải lên lối đi. Dân chúng, người đi trước kẻ theo sau, reo ḥ vang dậy” (Mt 21,7). Thế nhưng các môn đệ, dân chúng hôm xưa và hôm nay ai đă đi trọn vẹn vào cuộc thương khó của Đức Giêsu ? Mới tiên báo cuộc thương khó th́ ông Phêrô đă quyết liệt can ngăn Ngài, đại khái: Thầy đừng chịu khổ như thế, chẳng hấp dẫn được ai đâu, xin Thầy hăy vung cánh tay uy quyền mạnh mẽ và thực hiện những chuyện giật gân đi, khối kẻ lé mắt ra đấy.
Đám đông đón rước lá lần đó chỉ là hào nhoáng ồn ào bên ngoài như quả bóng bơm căng rồi xẹp ngay tức th́. Các ông tông đồ được Đức Giêsu đưa vào trong thửa đất gọi là Ghếtsêmani, Đức Giêsu cầu nguyện c̣n các ông th́ lăn đùng ra ngủ chẳng c̣n biết trời đất ǵ nữa. Khi “giờ” phải đến đă đến : một đám người đông đảo mang gươm giáo gậy gộc... các ông hoảng quá tháo chạy hết ; hoảng đến cỡ nó túm được gáy một ông và ông đó đă trút cả áo choàng lại để thoát thân. Đến trước ṭa dinh quan, Phêrô lấm lét như chuột ngày, bị hỏi bất thần rợn tóc gáy chối bai bải ; c̣n Giuđa th́ đi treo cổ tự tử... Cuối cùng ră đám, tan tác ai về nhà nấy... chẳng có người nào dám chết với Thầy.
Con người ngày nay cũng thế thôi! Tưởng niệm chốc lát, xếp hàng rước lá, tham dự các nghi thức và rồi th́ cũng phải trở về lo trăm công ngh́n việc; bao nhiêu điều phải tính toán; bao công việc phải làm; bao chương tŕnh phải thực hiện....
Ngược lại, nếu con người hôm nay để cho Đức Giêsu đi vào cuộc thương khó đời ḿnh th́ sao? Nh́n về phía các tông đồ hôm xưa : Khi các ông chẳng c̣n ǵ để mà bám víu, tâm trạng ê chề, tinh thần hụt hẫng, chết trong nỗi thất vọng... th́ chính Đức Giêsu đă đi vào cuộc thương khó của các ông để đến nỗi khi Ngài Phục sinh th́ cũng là lúc Ngài làm cho các ông sống lại. Các ông bừng tỉnh, một sức sống mănh liệt, một t́nh yêu tṛn căng, một tinh thần trong sáng... cùng những bước chân rộn ră loan báo Tin Vui.
Con người hôm nay h́nh như thích đi vào cuộc thương khó một ḿnh cơ? Một ḿnh gánh chịu để giương bộ mặt anh hùng... cô đơn bất cần đời ; một ḿnh gánh chịu với hàng nước mắt đong đầy ; một ḿnh gánh chịu rồi chỉ mong mấy viên thuốc giải quyết đời ḿnh; một ḿnh gánh chịu để rồi chửi bới om ṣm ; một ḿnh gánh chịu để rồi đưa cuộc đời đến chỗ thảm họa xâu xé...
Trần gian dù muốn dù không th́ Đức Giêsu hôm nay vẫn âm thầm lầm lũi đi vào cuộc thương khó đời ḿnh và đời từng người... đặc biệt trên bàn thờ mỗi ngày và trong Bí tích Thánh Thể để T́nh Yêu, trong sâu kín đó lộ ra cho những con người biết ḿnh vừa kín vừa sâu (đă ḷi cái mặt mẹt ra).
Khi chúng ta biết rơ con người thật của chúng ta chẳng ra cái khỉ mốc ǵ th́ chính lúc ấy Chúa lại trao ban cho chúng ta chính Người.
Giuse Trương Đ́nh Hiền
Phụng vụ Chúa Nhật Thứ V Mùa Chay gần như đưa chúng ta đến sát Mầu nhiệm Tử Nạn-Phục sinh, một Mầu nhiệm trọng đại của đức tin Kitô giáo sắp được cử hành long trọng trong Tuần Thánh sắp tới. V́ lẽ đó mà ngày xưa, phụng vụ đă bắt đầu gọi tên Chúa Nhật và Tuần lễ nầy là “Chịu Nạn” (Dominica Passionis); và cũng chẳng lạ ǵ khi các Bài đọc và ca kinh được chọn công bố hôm nay chẳng khác nào như “khúc nhạc dạo đầu” trong bản “trường ca Tử Nạn” mà Phụng vụ Tuần Thánh sắp một lần “tưởng-niệm-tái-diễn”. Cuộc Tử nạn của Đức Kitô phải chăng là việc “thực hiện Giao uớc Mới” (BĐ 1) mà phương án “bị treo trên thập giá” (TM) chính là con đường mà Thiên Chúa đă chọn để trở thành qui luật của muôn đời : “Hạt lúa rơi mục nát sẽ kết trái đơm hoa” (TM), cho dù phương án đó, con đường đó ngày xưa đă là một thách đố với Đức Kitô, khi Ngài trong thân phận phàm nhân “đă lớn tiếng kêu van khóc lóc để kêu xin Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết” (BĐ 2), th́ hôm nay cũng luôn là một đ̣i hỏi gắt gao cho tất cả những ai tin và tiến bước theo Ngài.
Dừng lại để suy niệm đôi điều trong sứ điệp phụng vụ hôm nay đó chính là một cách dấn thân vào “hành tŕnh khổ nạn và phục sinh” của Chúa Kitô trong những ngày đặc biệt nầy.
1. Thiên Chúa Đấng trung thành trong “Giao Ước yêu thương” :
Toàn bộ lịch sử thánh, nếu nh́n trong “lăng kính t́nh yêu”, có thể được định nghĩa : đó chính là “bức thư t́nh của Thiên Chúa”. Một bức thư t́nh mà nội dung chủ yếu đó chính là những hứa hẹn và ước giao, những thề nguyền và tâm sự, những bức xúc khổ tâm khi bị phản bội chối từ hay những lúc nguôi ngoai khi mở ḷng khoan dung tha thứ…Và điều mà Thiên Chúa muốn bộc bạch như một mặc khải tối hậu đó chính là : “Thiên Chúa măi măi trung thành với Giao ước yêu thương mà Ngài đă kư với “người t́nh nhân loại”.
Thật vậy, Bài đọc 1 hôm nay cho thấy : trên cảnh hoang tàn của Giê-ru-sa-lem và trong kiếp lưu đày biền biệt của một đời nô lệ tối tăm, lời sứ ngôn Giê-rê-mi-a vang lên như tiếng kèn hy vọng, niềm hy vọng chứa chan vào ḷng trung tín của Thiên Chúa vượt trên những bất trung phản bội của dân Người : “Ta sẽ lập với nhà Ít-ra-en và nhà Giu-đa một giao ước mới…Ta sẽ tha thứ tội ác cho chúng và không c̣n nhớ đến lỗi lầm của chúng nữa”. Chính t́nh yêu cứu độ của Thiên Chúa măi măi là sức mạnh hồi sinh, là quyền uy giải thoát. “Cho dù có người mẹ không thương con, th́ Ta, Ta không bao giờ quên ngươi”. Chân lư nầy muốn nói với chúng ta rằng : chúng ta không được quyền thất vọng cho dù phải đối diện với bao thảm cảnh cuộc đời, cả cái chết. Bởi v́ Thiên Chúa đang có mặt trên mọi nẽo đường và biến cố để thổi vào Thần Khí tác sinh, để gieo vào hạt mầm của sự sống và hồng ân cứu độ. Như lời của Gilbert K. Chesterton : “Nếu những hạt giống trong ḷng đất đen mà c̣n có thể biến thành những cánh hoa hồng xinh đẹp như thế, th́ trái tim con người c̣n thể biến thành thế nào nữa trong cuộc hành tŕnh hướng đến các v́ sao”.
2. Ơn cứu độ và qui luật ‘Hạt lúa ḿ mục nát” :
Dĩ nhiên, để thực hiện đến cùng “giao ước đă kư với loài người”, Thiên Chúa đành chấp nhận thua lỗ khi phải “trao ban Người Con Một”. Và oái ăm hơn nữa, Người Con Một đó lại trả giá cho “giao ước của Cha” bằng chính máu của ḿnh. Bởi v́, chỉ có con đường “giao ước bằng máu” đó, “lề luật của Thiên Chúa mới được ghi khắc vào trái tim và ḷng dạ của con người” (BĐ 1), và cũng chỉ với bằng phương thế đó Con Thiên Chúa mới có thể kéo tất cả nhân loại cùng đi lên : “Phần tôi, khi được giương cao khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi” (TM). Xét cho cùng, đó lại là qui luật muôn đời của chương tŕnh cứu độ : muốn vào “Đất Hứa phải ngang qua sa mạc”, muốn t́m được sự sống phải đánh mất, muốn hoan ca phục sinh phải qua mùa Chay tử nạn, muốn có một mùa lúa tốt xinh phải trở nên “hạt lúa ḿ mục nát”…Và phải chăng, đó chính là “nhân sinh quan của Tin Mừng” : Làm người đúng nghĩa, hiện hữu đích thực đó là “phải chết đi mới sống lại”, phải ngang qua đắng cây thập giá mới tiến vào vinh quang phục sinh.
Hai ngàn năm qua bài học nầy xem ra vẫn c̣n mới măi với Giáo Hội và với mỗi người chúng ta. Vẫn c̣n mới và cần thiết cho một thế giới đă quá “già nua để thèm hưởng thụ mà không muốn chiến đấu”, đă quá mệt mơi để thà chọn dễ dăi để yên thân hơn dấn thân nhọc mệt để chiến thắng anh hùng. Vẫn c̣n mới và cần thiết cho một Giáo Hội đă quá biếng lười và ích kỷ để thà ở lại trong vỏ bọc tự măn kiêu căng, trong pháo đài hủ hóa, hơn là can đảm chấp nhận hy sinh, thua thiệt để làm chứng cho sự thật và công lư …
Người Kitô hữu làm sao có chọn lựa nào khác với Đấng cứu chuộc ḿnh khi Ngài “Dẫu là Con Thiên Chúa, đă phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục…”. Chính v́ thế, những ǵ chúng ta chưa thực hiện đủ hay đă chối từ trong suốt độ đường Mùa Chay, th́ trong những ngày của “Tuần Chịu Nạn” nầy, chúng ta hăy bắt đầu !
GẶP GỠ
CHÚA GIÊSU
Trần Mỹ Duyệt
Trong những ngày cuối của mùa chay, chúng ta thường có tâm lư chú trọng nhiều đến những nghi thức về cuộc khổ nạn cũng như cái chết của Chúa Giêsu. Và v́ thế, ư nghĩa cuộc khổ nạn và cái chết của Ngài xem như không được chú ư tới nhiều. V́ ư nghĩa đích thực của cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa Giêsu chính là mang lại ơn cứu độ, và ban cho nhân loại sự sống trường sinh. Nhưng rồi ơn cứu độ và sự sống trường sinh ấy có ư nghĩa ǵ nếu con người không t́m gặp và đến được gần với Chúa: “Thưa ngài, chúng tôi muốn gặp Đức Giêsu” (Gioan 12:21).
Chúa Giêsu vui mừng:
Thật vậy, phải chờ đến những lời tha thiết và thái độ mong mỏi trên, Chúa Giêsu mới trút được những thao thức đang nung nấu trong trái tim nhân lành của Ngài: “Đă đến giờ Con Người được tôn vinh” (Gioan 12:23). Sự tôn vinh đó chính là thái độ nhận biết và đón nhận Tin Mừng Cứu Độ, tiếp nhận công nghiệp Cứu Chuộc mà Ngài sắp sửa sắm cho con người qua cái chết và cuộc phục sinh của Ngài.
Hành động t́m gặp Chúa Giêsu của mấy người Hy Lạp cũng chính là hành động mà mỗi người chúng ta cần phải có trong mùa chay này, cũng như trong suốt cuộc đời chúng ta.
Việc cá nhân mỗi người và việc con người t́m đến với Chúa Giêsu, mang ư nghĩa t́m gặp Đấng Cứu Thế, và t́m gặp nguồn ơn cứu độ. Điều này là một niềm vui đối với Chúa Giêsu. Chúa vui mừng lắm v́ nhân loại và chúng ta nhận ra Ngài. Như hạt miến phải tan biến trong ḷng đất, Chúa cũng chịu tan biến đi trong cái chết khổ nhục của Ngài để đem về một vụ mùa phong phú cho Đức Chúa Cha. Những bông lúa nặng trĩu hạt đây chính là các linh hồn, những người đă khao khát được gặp và tiếp cận với Ngài.
Con người cũng vui lây:
Chúa Giêsu mừng v́ có người t́m đến Ngài. Mấy người Hy Lạp mừng v́ t́m đến và gặp gỡ được với Chúa. Khỏi nói th́ Philliphê và Andrê cũng mừng v́ thấy Thầy mừng, bạn hữu mừng, và nhất là ḿnh đă trở thành cái môi giới cho niềm vui mừng đó.
Điều này cho thấy ư định của Thiên Chúa với công cuộc cứu chuộc và hạnh phúc đời đời của chung nhân loại, cũng như của riêng mỗi người chúng ta: Đó là chúng ta không lên Thiên Đàng một ḿnh. Thiên Đàng không có chỗ cho người ích kỷ. Không phải như của cải và kho báu trần gian, phần đông khi con người t́m được thường có khuynh hướng dấu đi để hưởng một ḿnh. Nước trời và hạnh phúc vĩnh hằng không như vậy. Người nhận ra được nó là người biết hướng dẫn những anh chị em khác cùng nhận ra , v́ nếu chiếm hữu lấy một ḿnh, tự nhiên hạnh phúc Nước Trời vụt khỏi tầm tay của chúng ta. Thiên Đàng là nơi cộng đồng các thánh cùng thông công. Phần rỗi đời đời là giá cứu chuộc của Chúa Giêsu trả cho chung và riêng mỗi người chúng ta. Nó không hề suy giảm hay tiêu hao dù chúng ta san sẻ hay chia cho người khác.
T́m gặp Đức Kitô:
Tư tưởng trên cho chúng ta một khái niệm về đời sống thực hành, đó là nếu muốn t́m gặp Chúa chúng ta cũng phải như những người Hy Lạp kia, phải vất vả, phải t́m hỏi, và phải có người môi giới. Và ngược lại, chúng ta cũng phải là những người môi giới đó. Đó là những mắt xích của chuỗi vàng huyền nhiệm dẫn chúng ta và anh chị em chúng ta t́m gặp được Thiên Chúa và trở thành anh chị em với nhau.
Chúng ta phải t́m gặp Thiên Chúa qua sách vở, báo chí, truyền thanh, truyền h́nh, internet. Qua việc học hỏi đạo Chúa. Qua việc đọc và suy ngắm Phúc Âm. Nhất là qua cầu nguyện và suy gẫm. Tóm lại, chúng ta phải tận dụng tất cả mọi khả năng ḿnh có để gặp gỡ Đức Kitô, kể cả việc nhờ bạn bè môi giới, chỉ bảo. Trong tŕnh thật của ḿnh, Thánh Gioan đă viết: “Sự sáng đă đến thế gian, nhưng thế gian thích tối tăm hơn sự sáng” (Gioan 3:19), một h́nh thức nào đó đă diễn tả tâm trạng và lối sống của con người qua muôn thế hệ. Và đó cũng là điều khiến chúng ta phải cám ơn Thiên Chúa, v́ ơn được nhận biết Ngài; nhất là ơn yêu mến và sống thân mật với Ngài.
Giới thiệu Đức Kitô cho tha nhân:
Từ sự thân mật và yêu mến ấy, chúng ta sẽ trở thành những người môi giới, những người mà như Philliphê, như Andrê, mà người khác có thể tin cậy và nhờ vả một sự giới thiệu. Tại sao Philliphê và Andrê được nhắc tới trong trường hợp này? Dĩ nhiên, v́ dưới con mắt của những người Hy Lạp lúc ấy, các ông có uy tín, có sự thân mật đủ để giới thiệu họ với Chúa Giêsu. Một sự thân mật không những có giữa Chúa Giêsu với các ông, mà hơn thế, các ông là những người hiểu và biết Chúa Giêsu.
Trong đời sống Kitô hữu, chúng ta đă có lần nào được người khác đến hỏi và nói với chúng ta câu nói tương tự như những người Hy Lạp đă hỏi và nói với Philliphê chưa: “Chúng tôi muốn gặp gỡ Chúa Giêsu?” Và nếu có người hỏi chúng ta câu hỏi như thế, th́ chúng ta đă làm ǵ? Đến ngay với Chúa Giêsu hay như Philliphê đă bàn hỏi thêm với Andrê trước khi làm việc giới thiệu ấy.
Hành động của Philliphê cũng lại dẫn chúng ta đến một bài học khá quan trọng trong đời sống Kitô hữu và trong sinh hoạt tông đồ. Đó là nhiều khi chúng ta không biết Chúa mà vẫn nói ra như người biết Chúa. Đó là nhiều khi chúng ta không sống đúng với chức năng người Kitô hữu của ḿnh trong đời sống và gương mẫu đạo hạnh, và kết quả là chúng ta đă chỉ cho người khác điều mà ḿnh không biết về Chúa Giêsu. Hoặc chỉ cho người khác đến với Chúa mà ḿnh th́ không đến.
Chúa Giêsu đang đi dần vào cuộc khổ nạn. Ngài đang
hồi hộp nh́n về tương lai với giá đắt đỏ mà Ngài sẽ phải trả cho phần rỗi và
hạnh phúc trường sinh của các tâm hồn. Nhưng liệu có mấy ai t́m gặp Ngài. Có mấy
ai hiểu được Ngài. Và có mấy ai sẽ hưởng được kết quả của cái chết khổ nhục của
Ngài. Vậy nếu chúng ta là những người đă biết, đă được Ngài thông ban cho niềm
vui và hạnh phúc được làm con cái Thiên Chúa ấy, chúng ta cũng phải như
Philliphê, như Andrê giúp đỡ và giới thiệu anh chị em
ḿnh t́m gặp Chúa Giêsu, để Chúa cũng được vui mừng, v́ có nhiều linh hồn
được cứu độ. Và như vậy, đến lượt chúng ta cũng vui mừng v́ thấy Chúa vui, các
linh hồn được vui, một niềm vui cứu độ mà chúng ta tất cả đều được nhận lănh từ
Chúa Giêsu.