Tâm Linh Vào Đời

 

  Tâm Linh Vào Đời

 

Số 13 Tuần Thánh 2006


 

Đấng đă làm cho Đức Giêsu sống lại từ cơi chết,

cũng sẽ dùng Thần Khí của Người đang ngự trong anh em, mà làm cho thân xác của anh em

được sự sống mới» (Rm 8,11) là chủ đề của Đêm tối và ngày sáng

Sau khi chết tôi sẽ ra sao? Đức Giêsu đă chia sẻ: Thầy đi đâu, th́ anh em biết đường rồi." (Ga 14:4)

C̣n chúng ta đă thực sự biết đường chưa? Câu trả lời nằm trong Từ cơi chết bước vào cơi sống.

Tâm Huy, một Phật Tử, lại cho rằng: Muốn t́m lại vườn Địa đàng tại thế

chúng ta loại bỏ Trái cây kiến thức đầy bản ngă và mang nặng lư thuyết về Thượng Đế.

Từ những khủng hỏang về Cỏ lùng trong người có đạo và trong lịch sử Giáo hội –

không phải bôi nhọ hay vạch áo cho người xem lưng –

Linh Kỳ đă nh́n ra Cỏ lùng và lúa ḿ ngay trong bản thân ḿnh.

Đây là một cảm nghiệm sống động của một người băn khoăn đi t́m chân lư.

 

Đêm tối

và Ngày Sáng

(Sửa đổi và thêm bớt một số bài chia sẻ sẵn)

Mong Manh

 

* Đêm tối cơi ḷng và đêm tối cuộc đời

- Chuyện các ông tông đồ, các môn đệ, các bà

Các môn đệ c̣n mê muội không hiểu ǵ về biến cố lớn lao ấy v́ rằng Thánh Thần chưa mở trí cho các môn đệ. Vâng, trước khi thực hiện thánh ư Chúa Cha cứu đời, Đức Giêsu đă nói gần, nói xa với các môn đệ. Nhưng ḷng trí các môn đệ vẫn nặng nề chưa làm sao hiểu nổi, các môn đệ cũng xin Đức Giêsu giải thích thêm nhưng các môn đệ vẫn chưa hiểu hết ư nghĩa. Các môn đệ cứ tưởng rằng Thầy ḿnh sẽ khôi phục lại nước Israen theo kiểu trần gian, để mỗi một môn đệ sẽ trở nên công hầu khanh tướng trong vương quốc của thầy Giêsu.

Các môn đệ vẫn c̣n cái óc xưng hùng xưng bá. Các ông cứ tưởng rằng thầy Giêsu sẽ làm Vua như kiểu các vua thế trần. Thế nên, mới có chuyện bà mẹ hai con ông Giêbêđê tới xin xỏ với Đức Giêsu cho một đứa con ngồi bên tả và một đứa ngồi bên hữu. Thế mới có chuyện, Phêrô vị thủ lănh các tông đồ vừa tuyên xưng Thầy là Đức Kitô, con Thiên Chúa hằng sống, được Thầy khen tặng, nhưng khi nghe Thầy Giêsu loan báo ư định chịu chết cứu đời. Phêrô đă vội vă cản đường Đức Giêsu. Đúng là các môn đệ đă chẳng hiểu tí ǵ về con đường của Thầy phải đi, không hiểu ǵ về ư định của Thầy là tuân phục ư Chúa Cha

Trước thảm kịch ngày thứ sáu tuần thánh, chẳng ai bảo ai, họ trốn chạy mỗi người một ngả. Mạnh miệng như ông Tôma có lần hạ quyết tâm “Nào cùng lên Giêrusalem chịu chết cả đám”, thế mà trong ngày thương khó của Thầy, ông là “người thợ lặn” giỏi nhất, lặn biệt tăm. Sôi nổi như ông Phêrô có lúc đă quyết liệt “Dẫu mọi người bỏ Thầy, con đây xin đồng sinh đồng tử với Thầy”, thế rồi sau đó chính ông trở thành kẻ chối Thầy táo bạo nhất, không chỉ một lần mà những ba lần.

Các môn đệ bị hoang mang, không biết đâu là thực hư. Tất cả họ đều bị khủng hoảng trầm trọng, không con hi vọng ǵ nữa. Tâm trí họ bị rối loạn v́ những khiếp sợ và bực ḿnh. Họ khiếp sợ v́ người Do Thái bách hại. Họ bực ḿnh v́ cái chết của Thày ḿnh đă làm tiêu tan mọi mối hi vọng.

Khi Đức Giêsu bị bắt, bị xét xử, bị đóng đinh chết trên thập giá, th́ các tông đồ bỏ trốn, tinh thần các ông đă chết, khi các ông nghe tin mồ trống, các ông cũng khủng hoảng, v́ lính canh mồ đang phao tin các môn đệ đă lấy trộm xác. Đó là án tử h́nh đang đeo vào cổ các ông. Luật thời đó kết án tử h́nh kẻ trộm cắp.

Chỉ có bà Maria Mađalêna, là người đầu tiên đă xuất hiện đi ra khỏi nơi trú ẩn để t́m Chúa. Bà ta quá sầu khổ về cảnh đóng đinh của Thày ḿnh, nên khi thấy mồ trống, bà ta không c̣n nghĩ ǵ khác, mà chỉ nghĩ về việc người ta đă lấy trộm xác Thầy.

Các môn đệ ngay chính lúc đó vẫn chưa hiểu nổi lời Thánh kinh : "Đức Giêsu phải sống lại từ cơi chết " (Ga 20,9 ; Cv 2,24-31 ; 13,32-37). Chính v́ tâm trí bấn loạn, lo sợ, run khiếp và với cái nh́n tự nhiên, rất thật của loài người đă nhận định và đánh giá sự vật, việc làm, con người không đúng thực chất của nó.

Các ông nh́n Thầy ḿnh lại tưởng là ma (Lc 24, 35-48) - Bà Maria Mácđala tưởng Thầy ḿnh là ông làm vườn (Ga 20,11-18) - Hai môn đệ trên đường Emmau gặp Thầy cùng đi với ḿnh lại tưởng là khách bộ hành mà chẳng hay biết chuyện ǵ đă xảy ra (Lc 4,13-35) - Các tông đồ rủ nhau đi đánh cá, gặp Thầy ḿnh lại tưởng người thuyền chài (Ga 21,1-14)

- Chuyện của người Do thái hôm xưa.

Cả thành Giêrusalem đều mê ngủ trước biến cố Phục sinh của Đức Kitô, và mọi sinh hoạt trong thành vẫn tiếp diễn một cách b́nh thường. Các người Do Thái và nhiều người khác lại càng tỏ ra mù tịt về biến cố Đức Giêsu sống lại. Các vị lănh đạo Do Thái, dân Do Thái và nhân loại tưởng rằng đă giết được Đức Giêsu, đă loại trừ được một con người “gây rối”, đă hạ bệ được tên “kiêu ngạo” là họ đă chiến thắng, là họ an ổn. Họ có biết đâu : "Đức Giêsu đă chiến thắng tử thần. Ngài đă trở thành bất tử ". Các người Do Thái, các tư tế, thượng tế, biệt phái và nhiều người khác đă ấm ớ như bọn lính được các quan chức cho tiền để tung ra tin giật gân, hầu mập mờ đánh lận con đen : "Lính đă nhận tiền và làm theo lời họ dậy” (Mt 28,11-15), nhưng nhân loại có hiểu đâu : "...Nếu Đức Kitô đă không chỗi dậy, th́ ḷng tin của anh em thật hăo huyền "(1Cr 15,12-17 ).

- Chuyện của tôi hôm nay

            Biến cố Đức Giêsu sống lại có ảnh hưởng hay ích lợi ǵ cho đời sống hiện sinh của tôi, nghĩa là đời sống thực tế bây giờ và tại đây của tôi ? Biến cố này có ảnh hưởng trên đời sống của tôi, hay nó chỉ là một kỷ niệm được lập lại hàng năm, chỉ để tưởng nhớ một biến cố đă hoàn toàn qua đi ? V́ biết bao năm phụng vụ trôi qua, năm nào cũng có Tuần Thánh, cũng có lễ Phục Sinh, mà nào tôi có thay đổi ǵ đâu! Chuyện Đức Giêsu sống lại với một đời sống mới, con người mới, cách hiện hữu mới, tất cả đều đă trở thành quá khứ, chẳng có ảnh hưởng ǵ trên hiện tại của tôi, nên tôi vẫn sống với con người cũ, cách sống cũ, chẳng có ǵ thay đổi !

Nếu Ngài chỉ sống lại trong lịch sử, cách đây hơn hai ngàn năm, mà không sống lại trong ḷng tôi, th́ việc sống lại ấy ích lợi ǵ cho tôi ? Vấn đề quan trọng là Ngài có sống lại trong tâm hồn tôi không ?

* Ngày Sáng đă bừng lên, xóa tan đêm tối

Đức Giêsu sống lại xé tan màn đêm u tối bao trùm và đă làm đảo lộn cuộc đời của các ông, các bà ngay từ những phút ban đầu bằng những cách thế khác nhau : - Với bà Maria Mácđala Đức Giêsu gọi tên bà “Maria !” Bà quay lại và nói bằng tiếng Hípri : “Rápbuni !” (nghĩa là ‘Lạy Thày’)” (Ga 20,11-18) - Với các ông tông đồ, Ngài cho sờ vào những vết thương “cứ rờ xem, ma đâu có xương có thịt như anh em thấy Thầy có đây ?” (Lc 24,35-48) - Hai ông trên đường Emmau, Ngài giải nghĩa sách Thánh và Bẻ Bánh “Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người, nhưng Người lại biến mất” (Lc 4,13-35) - Trên bờ Biển Hồ Tibêria, Ngài làm cho các ông bắt mẻ cá cách lạ lùng “cứ thả lưới xuống bên phải mạn thuyền đi, th́ sẽ bắt được cá” (Ga 1,1-14). Niềm vui mừng rộn ră khoái trá hiện rơ lên khuôn mặt các ông, và các ông đă chẳng giữ mồm giữ miệng, chẳng c̣n sợ hăi, cho dù chính quyền hay giáo quyền có bụp miệng các ông lại th́ các ông vẫn cứ gào rống lên ; các ông bị đánh đ̣n, bị nhốt vào ngục tù... nhưng lại cứ hân hoan v́ những h́nh phạt đó.

Đức Giêsu sống lại là để đem lại cho chúng ta sự sống mới, và trở nên những con người mới, ngay bây giờ và chính tại đây, như thánh Phaolô nói : «Nếu Thần Khí ngự trong anh em, Thần Khí của Đấng đă làm cho Đức Giêsu sống lại từ cơi chết, th́ Đấng đă làm cho Đức Giêsu sống lại từ cơi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí của Người đang ngự trong anh em, mà làm cho thân xác của anh em được sự sống mới» (Rm 8,11).

Điều quan trọng là làm sao có được sự sống mới ấy ? Câu Kinh Thánh vừa trưng dẫn cho biết : Thần Khí làm cho Đức Giêsu sống lại, cũng chính Thần Khí ấy sẽ biến cải chúng ta nên con người mới, với sức sống mới. Chỗ khác, thánh Phaolô nói : «Thiên Chúa đă làm cho Chúa Ki-tô sống lại; chính Người cũng sẽ dùng quyền năng của ḿnh mà làm cho chúng ta sống lại» (1Cr 6,14). Nhưng vấn đề cụ thể là chúng ta phải làm ǵ để Thần Khí ấy biến cải chúng ta nên con người mới ?

Cuộc sống của chúng ta đă có bao giờ “vỡ mộng” hay “mộng vàng tan mây” như các tông đồ môn đệ xưa không ? Có bao giờ đă bước vào đêm tối mù mịt không lối thoát để ḷng tan tác vỡ vụn ra chưa ? Có bao giờ bị ngột ngạt trong cơn lốc xoáy bởi ganh đua bon chen mất b́nh an không ? Một lúc đó sẽ khám phá ra rằng trần gian này chẳng có chi là vĩnh cửu, chẳng có chi để bám víu, chẳng có chi phải lệ thuộc... để rồi sẽ thấy Ngài xuất hiện tựa đốm sáng nhỏ từ trong đáy vực sâu thăm thẳm đêm đen mù mịt của ḷng ḿnh.

Ḷng khao khát mănh liệt sẽ thúc đẩy chúng ta t́m đến gặp gỡ Ngài để Ngài biến đổi con người cũ của chúng thành tạo vật mới sống trong một trời mới đất mới.

Thánh Phaolô xác định : “Con người mới là con người đă được sáng tạo theo h́nh ảnh Thiên Chúa” (Ep 4,24)

 

 

Từ Cơi Chết

Bước Vào Cơi Sống

Lung Linh

 

Trước cái chết, chúng ta có nhiều phản ứng khác nhau

 

Phản ứng thông thường: Né tránh

Cái chết xuất hiện mang theo bao nhiêu tang tóc, chia ly đau đớn. Cái chết đốt chảy tàn nhẫn những mộng vàng tương lai đang xây từng từng lớp lớp trong trí năo.

Dường như không ai muốn nghĩ tới cái chết, cố gằng xua đuổi nỗi sợ ấy ra khỏi tâm trí ḿnh. Ngay cả việc nói chơi người ta cũng e ngại. Nhớ lại ngày xưa c̣n bé, tôi nói với cô em út: Bây giờ em nằm đây giả chết nhé. Bố mẹ tôi liền ngăn cấm: Không được nói gở như vậy. Nhỡ thật th́ sao!!

Trong một lần chia sẻ, tôi chỉ mới nói: Đêm về, nằm trên giuờng, anh hăy tưởng tượng ḿnh đă chết và nh́n lại lúc thành công, khi thất bại, niềm vinh quang, nỗi tủi nhục .. chưa kịp nói câu kết, anh em khác đă can ngăn: Sao lại nói như thế?! 

Phản ứng né tránh sự chết xem ra hữu hiệu khi chúng ta c̣n trẻ. Nhưng khi tuổi nghiêng bóng, chúng ta càng xua đuổi nó, nó càng sấn sát gần chúng ta hơn. Và đến một lúc nào đó, mọi sự dường như đều bắt chúng ta nghĩ tới cái chết: một số bạn bè cùng lứa tuổi đă ra đi, sức ta yếu dần, không c̣n sung độ như thời trai tráng!! Dù thế chúng ta vẫn muốn lẩn tránh cái cánh cửa tăm tối mở ra một cuôc hành tŕnh thăm thẳm, dẫn tới một cơi vĩnh hằng xa lạ mịt mờ mà một ḿnh tôi phải cô đơn thui thủi một ḿnh lên đường trong một tâm trạng rất đỗi hoang mang.

 

Phản ứng đạo đức: Xem lễ, Đọc kinh xin cho được chết lành.

Một số người tin rằng nếu họ đi lễ liên tục 7 lần Thứ Bảy đầu tháng, và mỗi ngày lần hạt năm chục kinh th́ sẽ được Đức Mẹ cứu trong giờ sau hết. Một số người lại chăm chỉ đọc kinh Ḷng thương xót Chúa mỗi ngày, hy vọng sẽ được chết lành trong tay Chúa.

Phản ứng nghiêm túc, đầy ư chí: Giả sử

Một số các thánh đă khuyên: Mỗi sáng thức dậy, hăy coi hôm nay là  ngày cuối cùng của đời ḿnh, nhờ đó chúng ta có thể sống một ngày đầy ư nghĩa. Chúng ta sẽ dâng lễ, đọc kinh, suy niệm sốt sắng hơn, làm việc, học hành nghiêm túc hơn, đối xử với mọi người thân t́nh hơn. Nói th́ dễ dàng, nhưng khi thực hành, đ̣i hỏi nhiều nỗ lực với quyết tâm rất cao mới có thể thực hiện được.

 

Phản ứng tâm linh: Đọc và đón nhận Lời Chúa vào trong cuộc đời ḿnh.

Đây chỉ là một trong những phương pháp tâm linh.

Trước đây tôi cũng lo sợ cho cuộc sống đời sau của ḿnh: cả một vùng trời u ám với những phần phạt của vị thẩm phán chí công  dành cho những kẻ lỗi phạm – các thánh c̣n lỗi 7 lần một ngày cơ mà. Thôi mặc kệ, ra sao th́ ra!! Đâu c̣n cách nào khác, khi ḿnh lỡ mang thân phận yếu đuối phàm hèn – Chúa đă biết từ ngàn xưa, rằng thân con bởi tro bụi… v́ nào con đâu phải thần thánh !!!

Thế rồi bất ngờ mấy anh em rủ nhau đi t́m chân lư bằng cách đọc Kinh Thánh. Đọc rất chậm, ghi chép những câu tâm đắc, suy tư và chia sẻ cho nhau đủ thứ. Vạn sự khởi đầu nan. Mấy anh em như lạc vào Bát Quái Trận với biết bao nghi ngờ, thắc mắc mà không ai có khả năng giải quyết. sau khỏang 6 tháng miệt mài kiếm t́m, ai cũng dần dần khám phá ra những điều thú vị. Một trong những điều thú vị đó là nắm được cuộc sống mai sau của ḿnh.

Từ khung trời mở rộng: ."Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đă nói với anh em rồi, v́ Thầy đi dọn chỗ cho anh em.3 Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, th́ Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.4 Và Thầy đi đâu, th́ anh em biết đường rồi." (Ga 14:2-4)

Tất nhiên lúc đó chúng tôi không c̣n tin kiểu trẻ con: nhà Cha có pḥng, mỗi đứa chiếm một pḥng. Nhưng chúng tôi đă hiểu ra rằng. Chính Đức Giêsu đă dọn cho mỗi người một con đường thích hợp. Chính v́ vậy, một hôm chúng tôi nêu ra một câu hỏi: Sau khi chết tôi sẽ ra sao? Lập tức mỗi người chỉ đưa ra một Lời Chúa mà ḿnh tâm đắc nhất: Tôi xin mạn phép đặt tên khác cho các anh em.

Anh Tâm mở màn: Điều tớ tâm đắc nhất là từ nay tớ không c̣n lệ thuộc lề luật nữa mà lệ thuộc ân sủng. Và cũng tứ đó tớ đâm ra khoái bài Amazing Grace nổi tiếng của John Newton:

Diệu kỳ thay phúc ân, đă cứu tôi, kẻ mọn hèn khốn nạn

Tôi lạc mất, mà nay được t́m thấy

Mắt tôi mù mà nay lại sáng ra

Phúc ân dẫn tôi bước đi

Qua trập trùng hiểm nguy, nhọc nhằn, cạm bẫy

Và phúc ân sẽ đưa tôi về,

Đến tận cuối đường, đến tận nhà tôi.

Tội lỗi sẽ không c̣n quyền chi đối với anh em nữa, v́ anh em không c̣n lệ thuộc vào Lề Luật, nhưng lệ thuộc vào ân sủng.(Rm 6:14)

Minh lại thích thú với chuyện từ nay không c̣n phải nơm nớp lo sợ việc sau khi chết phải ḷ ṃ tới ṭa Chúa phán xét nữa:

Vậy giờ đây, những ai ở trong Đức Ki-tô Giê-su, th́ không c̣n bị lên án nữa.2 Thật vậy, luật của Thần Khí ban sự sống trong Đức Ki-tô Giê-su, đă giải thoát tôi khỏi luật của tội và sự chết. (Rm 8:1-2)

Quang phấn khởi tâm t́nh: trước đây tớ thường xuyên lo lắng đủ thứ, nhưng từ khi nhận ra sự hiện diện và sống động của Thần Khí trong ḿnh, tớ mới hiểu được mùi vị ngọt ngào của hạnh phúc và b́nh an đích thực. B́nh an đời này và măi măi đời sau trong t́nh Chúa yêu thương

Những ai sống theo tính xác thịt, th́ hướng về những ǵ thuộc tính xác thịt; c̣n những ai sống theo Thần Khí, th́ hướng về những ǵ thuộc Thần Khí.6 Hướng đi của tính xác thịt là sự chết, c̣n hướng đi của Thần Khí là sự sống và b́nh an. (Rm 8:5-6)

C̣n điều làm tôi hứng chí nhất đó là khi tôi khám phá ra ḿnh đă từ cơi chết mà bước vào cơi sống – sống với Chúa, sống trong Chúa - Vậy khi thân xác chết đi, tôi sẽ đi dâu? Tôi chẳng đi dâu cả. Tôi đang sống với Chúa th́ tôi cứ việc vui vẻ tiếp tục sống với Chúa trong một trạng thái nhè nhẹ như thiên thần. V́ thế đối với tôi, không phải vấn đề đi lên thiên đàng hay đi xuống hỏa ngục nhưng chính là vấn đề ngay bây giờ, trên trần gian khổ ải này, tôi phải vượt qua cơi chết để bước vào cơi sống kết hợp với Chúa.

Thật, tôi bảo thật các ông: ai nghe lời tôi và tin vào Đấng đă sai tôi, th́ có sự sống đời đời và khỏi bị xét xử, nhưng đă từ cơi chết bước vào cơi sống. (Ga 5: 24) 

Chúa đă dọn sẵn cho mỗi người một con đường thích hợp với ḿnh. Mến chúc quư vị mở ḷng đón nhận và dấn bước theo lời mới gọi của Ngài để quư vị cũng có thể hưởng được cảm nếm được hương vị tuyệt diệu Chúa dành cho mổi người.

 

 

 

CÂY KIẾN THỨC

VÀ HÀNH TR̀NH CỦA BẢN NGĂ…

 

Tâm Huy

Lời ṭa soạn: Tâm Huy là một Phật tử nhưng lại rất thích nghiên cứu Kitô giáo. Chúng tôi xin hân hạnh giới thiệu với quư độc giả về lối nh́n của một người anh em Phật tử, qua đó cũng khích lệ chúng ta đặt lại lối nh́n của ḿnh. Đây chỉ là một chia sẻ cá nhân nhằm nói lên nỗi thao thức kiếm t́m chân lư chứ không phải một áng văn thần học để chúng ta mổ xẻ, nghiên cứu t́m lỗi đúng sai.

 

                                                                                                                     I.      Câu Chuyện Thủy Tổ Loài Người.

 

            Mọi người, dù bất cứ tôn giáo nào, cũng đă nghe qua câu chuyện thủy tổ của  loài người qua kinh Cựu Ước. Thượng Đế sáng tạo thế giới. Ngài tạo ra ngày và đêm. Ngài tạo ra muôn loài sinh vật. Ngài  tạo ra Adam, người đầu tiên theo h́nh ảnh của ngài. Sau đó, ngài tạo ra Eva từ cái xương sườn của Adam. Họ thật là vô tư và trẻ thơ trong Vườn Địa Đàng, nhưng ngày đó thật không lâu, họ phạm luật cấm của Thượng Đế. Họ ăn phải trái cây của cây Kiến thức. Bắt đầu ngày đó, họ bị đuổi ra khỏi Vườn Địa Đàng, và bắt đầu từ đó, họ phải trải qua hành tŕnh gian nan của một kiếp người. Họ không c̣n được sống trong một thế giới hoàn hảo nữa. Họ phải một trả giá rất đắt qua sự bất tuân phục của họ. Họ đă đánh cuộc với Thượng Đế và họ bị thua cuộc. Một cuộc cờ mà họ phải trả bằng sự sống điêu linh. Cái giá này, không phải chỉ riêng họ phải trả, mà cả toàn nhân loại phải trả, từ thế hệ này đến thế hệ khác…cũng bởi v́ ngă tính nỗi loạn của họ…

 

                                         II.       Hành Tŕnh Của Bản Ngă…Cánh Cửa Vào  Thiên đường và Địa ngục. 

 

            Con người là một động vật kỳ lạ. Băn ngă của con người mạnh mẽ hơn bất cứ những ǵ trên thế gian. Họ là những động vật thích sống với sự nghịch lư. Bản chất của họ là bất tuân phục. Nếu họ không tuân phục, họ không chịu đựng được. Trong tâm thức của họ,  luôn hiện hữu những mâu thuẫn trào sôi. Họ không thể nào sống một cuộc sống b́nh thường. Họ phải vượt lề lối. Họ phải vượt qua mọi hàng rào. Họ phải xé tan tất cả. Họ phải đập đổ mọi truyền thống. Họ phải sống cho hiểm nguy. Họ phải chạy đuổi theo những tham ái dục lạc. Họ phải làm cho sự sống sôi động - Đó là lư do Thánh Phao--Lô viết, “Thật vậy, tôi làm ǵ tôi cũng chẳng hiểu: v́ điều tôi muốn, th́ tôi không làm, nhưng điều tôi ghét, th́ tôi lại cứ làm.” (Rm 7:15). Ngài viết tiếp, “…Tôi biết rằng sự thiện không ở trong tôi, nghĩa là trong xác thịt tôi. Thật vậy, muốn sự thiện th́ tôi có thể muốn, nhưng làm th́ không.” (Rm 7:18). Họ phải có những mục tiêu mà họ luôn theo đuổi, kể cả mục tiêu lên cơi Thiên đường và tránh xa hỏa ngục. Họ chạy theo tất cả những mục tiêu mà họ định trước. Họ phải sống v́ những mục tiêu v́ đó là sự sống của họ. và v́ đó là cuộc đời của họ, dù họ phải trả những giá tất cả. Có khi, họ bằng ḷng đánh đổi tất cả, để chỉ đi ngược với tất cả những ǵ mà người trên, tập tục xă hội, và truyền thống xă hội đă cấm đoán họ.            

Có những câu hỏi mà chúng ta phải nên cùng suy nghiệm.

Ngụ ngôn Vườn Địa Đàng có ư nghĩa ǵ?

Sự bất tuân phục đó có phải là tội lỗi?

Làm thế nào để t́m về Vườn Địa Đàng?

 

A. Ư Nghĩa Vườn Địa Đàng …

 

            Đối với tôi, câu chuyện Vườn Địa Đàng mang một ư nghĩa thâm thúy và cực kỳ vi diệu. Adam và Eva, hai đứa bé trong khu hoa viên do Thượng Đế tạo dựng lên. Họ đă sống một chuỗi đời b́nh yên trong thế giới đó. Có lẽ, trong những tháng ngày đó, họ đă rong chơi trong hạnh phúc, và họ đă có  một cuộc đời vô cùng sung sướng. Nhưng những ngày tháng của họ cứ như vậy trôi qua hay sao? Cuộc đời của họ chỉ có bao nhiêu đó thôi sao? Nhất định là Adam và Eva đă rất là nhàm chán. Họ không có ǵ mới để học hỏi. Họ không có ǵ mới để thử thách. Họ cứ như vậy, trôi nỗi ḥai trong một cuộc sống dài vô tận…và có lẽ họ đă tự hỏi, “Cuộc đời chỉ có bao nhiêu đó thôi sao?” Có lẽ, từ ngày Thượng Đế cấm họ ăn trái cây Kiến thức, họ đă đi qua đi lại  nhiều lần qua cây Kiến thức đó. Có lẽ họ đă ŕnh rập nhiều lần, và có lẽ họ rất là khao khát. Có lẽ họ đă bàn nhau trước khi ăn trái cây Kiến thức đó. Họ biết hậu quả của sự bất tuân phục, nhưng họ vẫn phạm tội. Họ đă đánh cuộc cả Thiên đường của họ…để bước vào một thế giới bất khả tri…nơi chốn với nhiều sự hào hứng và mới mẽ…Họ đă không một chút ngại ngùng lao ḿnh mạo hiểm vào nơi chốn bất khả tri đó,  dù rằng họ phải trả một giá rất đắt…bằng cách đánh đỗi chính Thiên đường của họ, bằng cuộc đời phúc lạc của họ với một cuộc đời gian nan, nhiều bắc trắc, nhiều hiểm nguy, nhiều bi lụy…và không phải chỉ riêng họ mà ngay cả con cháu bao nhiêu đời của họ...

Như vậy là xấu hay tốt? Chúng ta hay kết án những con người bất tuân phục. Những đứa bé vâng lời luôn là những đứa bé được cha mẹ thương yêu hơn hết. Những đứa bé ngỗ nghịch là những đứa bé hư hỏng. Theo truyền thống của xă hội, những đứa bé đó sẽ..”Cá không ăn muối cá ươn..” nhưng thật sự chúng ta muốn có những người con lúc nào cũng vâng lời  của chúng ta hay không? Sự luôn tuân phục sẽ giết chết tâm hồn của họ. Họ sẽ luôn là những con người thụ động. Họ không thể nào có thể trưởng thành. Họ sẽ như những h́nh nộm chỉ biết di động qua sự sống. Họ chỉ biết nghe lời. Họ chỉ biết tuân phục. Họ sẽ đánh mất tinh thần sáng tạo của họ. Họ sẽ làm cho thế giới chúng ta bị khô kiệt. Họ sẽ chỉ biết ăn, ngủ và sống, và họ cứ măi như vậy trôi nỗi trong kiếp người. Nếu họ luôn tuân phục…Chúng ta sẽ không có máy bay để vượt đại dương. Chúng ta sẽ không có điện thoại viễn liên. Chúng ta sẽ không có cả máy vi tính để trao đổi với nhau…Chúng ta sẽ không có ǵ hết…ngoài cái gọi là Vườn Địa Đàng của chúng ta. Những bất công xă hội vẫn luôn xảy ra, nhưng không một ai dám phản kháng lại v́ họ phải tuân phục. Họ sẽ đánh mất đi sự dũng cảm của họ…và con cháu của họ sẽ có những tâm thức bị ngưng trệ như họ. Họ sẽ đồng chen chúc trong Vườn Địa Đàng…và họ chỉ biết có một điều. Hăy vâng lời! Hăy tuân phục! Hăy sống với giáo điều! Hăy luôn là những con người thánh thiện! Và hăy luôn thánh thiện…vân vân và vân vân…và họ sẽ măi măi không biết được ư nghĩa chân thực nhất của thánh thiện là ǵ...

 

B. Sự Bất Tuân Phục Có Phải Là Một Tội Lỗi?

 

            Có lẽ Thượng Đế đă cố ư. Ngài không muốn có những người con chỉ biết thụ động. Nếu ngài là Đấng Toàn Năng, chắc chắn ngài phải biết. Ngài đă dự định  như vậy. Adam và Eva đă có tất cả, nhưng như vậy…họ sẽ không học hỏi được ǵ. Họ không thể trưởng thành. Ngài muốn họ vượt qua lề lối đă định sẵn của ngài. Ngài khiêu khích bản ngă hiếu kỳ này trong họ. Ngài muốn họ phải có sự dũng cảm. Ngài muốn họ phải trưởng thành. Những người con không thể cứ bám vào cha mẹ mà sống. Ngài không muốn có những người con như vậy. V́ vậy, ngài đă cấm họ không được ăn trái cây Kiến thức. Nhưng có lẽ ngài biết, họ sẽ bất tuân. Họ phải rời khỏi ngài, họ mới có thể trưởng thành. Họ phải dấn thân vào cuộc đời khổ lụy để biết rằng những ǵ mà họ có xưa kia là quí báu. Ngài đă cho họ điều kiện trước khi họ bị đuổi khỏi Vườn Địa Đàng. Ngài sẽ gởi cho họ người con duy nhất của ngài để dẫn lối cho họ về Thiên đường…sau khi họ đă học hỏi những bài học này của họ. Họ phải t́m sự tự do của riêng họ. Họ phải biết thế giới bên kia có những ǵ. Chỉ khi nào, họ bị liệng vào cái ḷ luyện kim khổng lồ của trần thế, họ mới biết Thiên đường thực sự là ǵ. Khi quay trở lại, họ không c̣n mơ ước, họ không c̣n khát vọng về thế giới cuồng điên nữa. Từ đó, họ sẽ biết yêu thương Thượng Đế, họ biết yêu thương loài người vốn là anh em của họ. Họ sẽ biết sự sống thật sự là ǵ. Một nơi chốn thực tại để vui hưởng b́nh an và hạnh phúc giữa trăm ngàn khốn khó, vất vả, gian nan….

            Từ chữ “Không” đầu tiên mà họ đă thốt lên, họ phải thống khổ. Cái giá của tự do là sự thống khổ, nhưng chỉ có như vậy, họ mới t́m thấy chính con người của họ. Thượng Đế đă thử thách họ, và họ đón nhận sự thử thách này bằng cả một sự dũng cảm. Mặc dù sau đó, họ đă sợ hăi. Con đường tự do, hành tŕnh vào chốn bất khả tri tuy vô cùng gian nan, và đầy sự thống khổ, nhưng họ đă chấp nhận. Họ xem sự tự do của họ c̣n quan trọng hơn cả Vườn Địa Đàng. Họ muốn biết thế giới bên kia chứa đựng những ǵ. Họ muốn t́m hiểu bằng cách bất tuân phục. Họ muốn được nếm những trái đắng. Vị ngọt đă làm cho họ quá chán chê. Họ giống như những đứa trẻ được sinh ra trong một gia đ́nh quá giầu có. V́ quá giầu có,  họ có tất cả, nhưng v́ họ có tất cả, họ không biết làm ǵ với cuộc đời của họ. Họ mất bản chất sinh tồn. Họ sống lệ thuộc như những kẻ nô lệ. Họ đánh mất đi sự dũng cảm. Họ phải nương tựa vào người cha để sống. Nếu không có Thượng Đế, họ sẽ như những đứa bé mất đi mọi khả năng tranh đấu. Họ không c̣n biết thương yêu. Họ quên đi thực tướng của họ. Họ biến thành những con người vô dụng. Hiễn nhiên, đối với con người, buồn chán và vô dụng là hai thực tại vô cùng đáng sợ. Không đáng ngạc nhiên lắm khi họ đă nói “Không.”

 

C. Làm Cách Nào Để Trở Về Vườn Địa Đàng?  

            Từ sự lao ḿnh  đầu tiên của Adam và Eva vào trần thế, họ quên mất định hướng của họ. V́ vậy, họ đă lạc lối. Họ tiếp tục ăn trái cây Kiến thức. Và từ  cây Kiến thức đó, thay v́ họ t́m đường trở về nhà. Họ sa ngă thật sâu. Chân họ lún sâu trong bùn. Nhưng họ vẫn không biết được Thiên đường là ǵ. Trước mặt họ là những chuỗi ngày đau khổ. Họ sợ địa ngục. Họ không biết rằng địa ngục nằm ngay trước mắt họ. Quên sống trong hiện tại chính là đang tồn tại nơi chốn của địa ngục. Họ không thể sống cho thực tại v́ kiến thức đầy nghẹt trong tâm trí, v́ các mục tiêu trước mặt, mục tiêu của thiên đường, mục tiêu của một ngày mai hạnh phúc hơn, sung sướng hơn. V́ vậy, họ không c̣n một khoảng trống nào để lắng nghe tiếng gọi từ bên trong. Họ quan sát ngoại cảnh. Họ phản ứng theo ngoại cảnh, và từ đó…tham sân si xảy ra…và từ đó, họ luôn đau khổ.

Dĩ nhiên, sau những chán chê, họ muốn được trở về nhà. Có những người con sẽ t́m đường về nhà. Họ muốn t́m về sự b́nh an vĩnh cửu trong Vườn Địa Đàng, sau quá tŕnh đau khổ của một kiếp người. Họ phải t́m hiểu thế nào là Thiên đường? Thế nào là Vườn Địa Đàng? Họ muốn t́m về vùng đất vĩnh cửu đó. Họ phải trải qua vượt qua quá tŕnh…là họ phải t́m về chính họ. Họ phải suy nghiệm lại những ǵ mà họ đă làm qua. Họ phải xă bỏ những kiến thức mà họ đă góp nhặt như tiền nhân của họ đă từng góp nhặt. Họ phải ngây thơ và vô tội như những đứa trẻ th́ họ mới có thể trở về nơi chốn Vườn Địa Đàng. Chúa Giê-Su nói: "Thầy bảo thật anh em: nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, th́ sẽ chẳng được vào Nước Trời.(Mt 18:3)

            Họ phải buông bỏ những tính toán. Họ phải biết quên băn ngă của họ. V́ từ sự quên này, họ không c̣n bản ngă, họ sẽ biết duy nhất có một điều là họ không c̣n tạo tác nữa. Bất cứ những ǵ mà họ làm là ư muốn của Thượng Đế. Họ phải tập tuân phục. Họ sẽ là công cụ của Thượng Đế, và họ sẽ hành động qua Thượng Đế, qua t́nh yêu Thượng Đế đối với anh em của họ. Họ phải biết… Thượng Đế là T́nh yêu - Ai không yêu thương, th́ không biết Thiên Chúa,v́ Thiên Chúa là t́nh yêu. (1Ga 4:8), nhưng không đơn giản như vậy. Họ phải yêu bằng cách yêu mọi người vô điều kiện. Yêu như t́nh cha mẹ thương yêu con. Họ phải vượt qua hàng rào ngăn cách để nối tay nhau. Họ phải không c̣n tôi và người. Họ phải không c̣n sự phân biệt. Nếu họ c̣n sự phân biệt, rằng tôi là đúng, và người là sai, chân lư của tôi là đúng,  chân lư của bạn là sai. Chỉ có con đường của tôi đi là đúng, con đường của bạn là sai. Nhưng họ không biết rằng những ǵ mà họ suy nghĩ đều phát xuất từ sự ăn phải trái cây Kiến thức. V́ họ ăn phải trái cây Kiến thức này, cho nên họ tự cho ḿnh là luôn luôn đúng. Cái ngă tung hoành trên vùng tâm thức, bị ô nhiễm bởi trái cây Kiến thức. Sự cám dỗ càng vĩ đại chừng nào th́ băn ngă càng được bổ túc mănh liệt chừng nấy. V́ sự cám dỗ này, họ không thấy Thiên đường tại thế. Họ không biết sự sống là một đặc ân. Sự sống là một hành tŕnh mà mỗi bước đi cần nên được trân trọng. Mỗi giọt nắng cần được nâng niu. Mỗi chén cơm là một ân phước, mỗi ḥn sỏi là những thỏi kim cương và mỗi sự sống là một kiệt tác, bất phân biệt là loài nào. Hăy trân trọng! Trân trọng tất cả, và từ sự trân trọng đó, sẽ không c̣n biên giới, sẽ không c̣n ngăn cách v́ tất cả đều đồng một thể tính.

Thiên đường bắt đầu từ đây.  T́nh thương khởi sự từ nơi này. Con đường t́m về Thiên đường bắt đầu bằng hai trọng tâm,

Một là hăy sống thật trọn vẹn qua từng giây phút,

Hai là hăy phát triển ḷng nhân ái.

Chỉ có như vậy, họ không phải lo lắng t́m về nơi chốn Thiên đường xa xăm. Họ sẽ không c̣n bận tâm đến hỏa ngục, địa ngục và ḷ luyện ngục, và băn ngă sẽ tan biến theo từng nhịp đập của hư không.  Mỗi ngày qua là một ngày trên Vườn Địa Đàng. Mỗi hành động là một điệu luân vũ theo từng nhịp thở của vũ trụ. Mỗi nụ cười có thể làm rung động cả càn khôn. Mỗi giọt mưa là lời kêu gọi văng vẵng của Thượng Đế. Mỗi ngày trôi qua trên trần thế này là một ngày của Vườn Địa Đàng. Có phải là họ đă thật sự đang tự tại trong cơi Thiên đường của Thượng Đế hay không? Đúng rồi, nhưng muốn t́m về Vườn Địa Đàng, chỉ cần thêm một điều nữa nơi họ, đó chính là sự tỉnh thức!

 

                                                                                                                                                                       III.      Lời Kết

 

Chúng ta hy sinh tất cả, kể cả hiện tại để t́m về một Thiên đường. Chúng ta muốn có một đời sống vĩnh cửu. Chúng ta muốn được như các thánh thần, sẽ có rượu ngon uống hoài không hết, sẽ có những lễ hội thâu đêm suốt sáng, sẽ có ngọc ngà châu báu tràn ngập, và những cung điện nguy nga, những hoa thơm cỏ lạ khắp lối, những trái cây thơm ngọt luôn đầy mâm, cho nên chúng ta quên sống cho đời sống  này, bởi không thể có một đời sống nào đấy dẫy ân huệ như đời sống trong thực tại.

Không có một ai là tội lỗi. Trong chúng ta, không một ai thực sự là toàn thiện, không một ai hoàn toàn ác độc. Chúng ta là tổng hợp của cả hai. Cho nên đừng phán xét. "Anh em đừng xét đoán, để khỏi bị Thiên Chúa xét đoán, v́ anh em xét đoán thế nào, th́ anh em cũng sẽ bị Thiên Chúa xét đoán như vậy (Mt 7:1-2) Thế giới lưỡng nguyên của chúng ta là như vậy. Hăy chấp nhận nó với nụ cười tươi mỗi khi chúng ta trực diện  với đau khổ. Nếu muốn vượt thoát những hệ lụy của một đời người, hăy thực thi ḷng nhân ái, hăy thực hành bốn chữ “Đồng thể đại bi”. Hăy tự cứu chúng ta trước bằng cách thực thi ḷng nhân ái trong mỗi giây phút của cuộc đời - Nikos Kazanzaki, tác giả tập sách nổi tiếng Zorba The Greek nói, “Chúa Giê-Su không đến để cứu chúng ta, nhưng Ngài đă chỉ cho chúng ta một con đường để tự cứu ḿnh.” -  Chúng ta hăy sống thật trọn vẹn…như mỗi ngày là ngày cuối cùng trong cuộc đời của chúng ta…Khởi sự từ đó, chúng ta sẽ khám phá rằng, không c̣n biên giới giữa ta và người, không c̣n Thượng Đế và chúng ta. Không c̣n Thiên đường và địa ngục, chỉ c̣n duy nhất là phúc lạc của thực tại – một trái táo thơm hương của sự kết hợp nên một với Chúa.

Ở lời kết, tôi xin được trích dẫn câu nói của Baudelaire mà tôi đă đọc được ở một nơi nào đó. “Chân lư thật tuyệt mỹ. Chân lư quá tuyệt vời. Chân lư là Thượng Đế. Tôi tin Chân lư, v́ lư do đó, tôi cần phải chất vấn Chân lư.  Nếu không chống đối, tôi không c̣n là tôi. Tôi phải nói “Không”. Chỉ có như vậy, tôi mới  có thể nhận thức tôi chính là Tôi.”…

Đúng vậy, một cái Tôi thật ḥan mỹ…nếu mọi người chúng ta ai cũng đồng chung tay cạn hết chén trà đầy…- đầy kiến thức, đầy lư thuyết - Thiền sư Nan-In rót nước mời một giáo sư đại học. Nước đă trào khỏi ly mà sư vẫn rót. Khách nói, “Đầy quá rồi! Không thể rót thêm được nữa!” Sư nói, “Đúng vậy! Thí chủ đến đấy với đủ mọi thiên kiến, ư tưởng. Chẳng c̣n chỗ nào để cho tôi lọt vào cả.

 

 

CỎ LÙNG 

và LÚA M̀

 

Link Kỳ

Lời ṭa soạn:

I. Sống Đời Hay Sống Đạo?

(i) Một người nổi tiếng "ngoan đạo" đến nói với một nhà từ thiện:

- Thưa ngài, tôi được nghe nhiều về công việc bác ái của ngài.  Tôi đă nhiều lần cầu Chúa ban phước cho ngài, và tôi sẽ tiếp tục làm như thế.

Nhà từ thiện mỉm cười lắc đầu:

- Cám ơn ư định tốt lành của anh, nhưng tôi không tin vào Thiên Chúa.

Người "ngoan đạo" tỏ vẻ sửng sốt hỏi lại:

- Ông không tin có Thiên Chúa ư ?

Nhà từ thiện cũng mỉm cười lắc đầu:

- Mỗi ngày, tôi có hàng trăm việc để lo, tôi không mấy quan tâm về vấn đề này.

Người ngoan đạo lặng thinh một lát rồi tiếp tục:

-         Nếu ông không tin Chúa, cả đời ông chẳng làm được việc ǵ tốt.

 

(ii) Kinh sách Phật Giáo có ghi nhận một giai thoại khá thú vị về Tô Đông Pha.

 

Tô Đông Pha là một thi sĩ tài ba và cũng là người Giang Nam.  Một hôm, trong lúc ngẫu hứng v́ một câu quen thuộc trong thiền môn Phật Giáo "bát phương phong vũ cảnh vô hống" (gió mưa tám hướng không kinh sợ), Tô Đông Pha trổ tài viết bốn câu thơ.

Ngưỡng thủ thiên trung thiên

Mao quang chiếu đại thiên

Bát phong xuy bất động

Đoan toạ tử kim liên

Tạm dịch,

Kính đấng trời giữa trời

Ḷng mao chiếu đại thiên

Tám gió thổi không động

Ngồi vững sen vàng tím

Ngài Phật Ấn, một thiền sư nổi tiếng người Giang Bắc, bất ngờ sang thăm ông bạn chí cốt Tô Đông Pha. Khi thấy bốn câu này treo trên tường, Ngài liền phê ngay dưới bài thơ Tứ tuyệt: Cái rắm!

Khi về đần nhà Tô Đông Pha thấy  hai chữ "Cái rắm" ngạo nghễ.  Biết ngay là bút tích của ông bạn thân, Tô Đông Pha   không những là ĐỘNG LỬA mà c̣n ĐỘNG CHÂN nữa.  Từ Giang Nam đến Giang Bắc, ông t́m ngài Phật Ấn để hạch hỏi rằng:

- ÔNG THẦY KIA !  Sao dám mắng chửi người ?  Làm sao thầy dám "đánh rắm" vào tôn chỉ Lư tưởng của tôi vậy?

Thiền sư Phật Ấn điềm tĩnh trả lời:

- Tôi có mắng chửi ai đâu ?  Ông viết rằng tám gió thổi cũng không động mà chỉ cần một “Cái rắm" đă bắn ông từ Giang Nam tới tận Giang Bắc này sao?.

Tô Đông Pha giật thót ḿnh,  và xám hối về hành động của ḿnh. [1]

 

II.  Lối Nh́n Truyền Thống

Khi nói đến CỎ LÙNG trong Giáo Hội Công Giáo, người ta sẽ liên tưởng đến sự phân định rơ nét trong Kinh Thánh giữa CỎ LÙNG và LÚA M̀ (Mt 13,24-30), giữa "ÁNH SÁNG và  BÓNG TỐI" (Ga 1,9-11), giữa THIÊN CHÚA và MA QUỶ.  Khi đem vào thực hành, làn ranh đó thường được dùng để phân chia con người ra làm nhiều nhóm, nhiều giáo hội, và nhiều tư tưởng khác biệt.  Sự phân chia đó nhiều khi đă là sự phân chia người Có Đạo và người Không Đạo; người Đạo Công Giáo với người Đạo Tin Lánh; người Công Giáo với người Do Thái Giáo, vv.  Để rồi, chính những làn ranh giữa CỎ LÙNG và LÚA MẠCH tự chúng ta vẽ nên đó, đă là nguyên cớ nảy sinh ra tranh chấp, những hành động tàn bạo với kẻ khác ḿnh. 

(i) Nhiều học thuyết CÔNG GIÁO như thuyết lư Chính Trị Xă Hội (Political Society Church Model) [2], chủ thuyết Chuyên Nhất (Exclusive - No Salvation Outside The Church) [3], vv., chủ trương đem những giá trị được coi tốt đẹp trong Công Giáo vào trong các cơ cấu chính quyền, và trong xă hội; như một h́nh thức "THÀNH PHỐ CỦA CHÚA" (City of God), đặt luật đời, luật xă hội (Society Law) dưới quyền giám hộ của Luật Chúa (Divine Law).  Những thuyết lư hay chủ thuyết này đem lại những tác hại không nhỏ v́ những người Công Giáo, khi nắm được quyền hành, khi có địa vị, chính họ cũng không đem lại hạnh phúc và no ấm cho những người mà họ đáng lẽ phải phục vụ.  Tại Sao ?

(ii) Đối với một giáo dân Ki Tô Giáo: (a) mọi giá trị thuộc về Thiên Chúa là Ánh Sáng; (b) Phúc Âm được coi như kim chỉ nam về những giá trị của Thiên Chúa; (c) Giáo Hội, hay nói đúng hơn, các bậc lănh đạo giáo hội là những người được tin tưởng để hướng dẫn mọi giáo dân sống theo con đường của Ánh Sáng, con đường của Sự Thật và Sự Sống, con đường của Ánh Sáng. 

Người Ki Tô Hữu với tâm thức “là ánh sáng thế gian" (Mt 5,14) đă tự đặt ḿnh vào trong ḍng sống của Giáo Hội, trong ḍng sống của Thiên Chúa, để rồi, mọi giá trị, và hầu như mọi con người ngoài CĂN NHÀ GIÁO HỘI đó, đều thuộc vào phạm trù của tội lỗi. 

Và có lẽ, chúng ta đă quên "CỎ LÙNG ngay chính bản thân ḿnh" khi chúng ta đă quên rằng:

- Có người cả đời đi đạo vẫn c̣n đủ các loại tội (tội đạo và tội đời). Họ rất dễ tha thứ cho chính bản thân ḿnh: có ǵ đâu, XƯNG TỘI nhiều lắm cũng chỉ vài chục phút.  Nhưng khi đối xử với Cỏ Lùng Ngoại Nhân, họ khắt khe, thẳng tay và tàn bạo lắm.  

- Có người cầu Chúa tha lỗi cho người ngoại đạo đă "MÙ" không nhận ra Thiên Chúa, không chịu đón nhận "Tin Mừng", vv. Trong khi cả ngày, chính bản thân họ chẳng nhớ tới Chúa một giây, nói ǵ tới chuyện sống với Chúa!!

- Có người nhớ đến những người thợ trong mùa gặt đă làm với Cỏ Lùng, nói thẳng luôn: "My God will kill you" – Chúa của tao sẽ tiêu diệt mày!!

Và nh́n chung, những bất công, tàn bạo, hành động phi nhân đạo của những người được xem là "CÓ ĐẠO" đă để lại trong nhân loại không ít.  Và v́ đó, tự điển bách khoa Brittannica đă lại những nhận xét thật cô đọng:

"Trọn lịch sử Thiên Chúa Giáo được đánh dấu bởi rất nhiều phương thức nhằm định nghĩa Giới Luật Yêu Thương trong nhiều khuôn khổ: những người đồng đức tin, người thân, người cùng sứ sở, người cùng quốc gia, hay cùng 1 tổ chức để rồi: "không c̣n t́nh yêu cho những kẻ xa lạ" " [4].

"Thiên Chúa Giáo luôn thực hành thái độ thiếu bao dung khi họ đối diện với Do Thái Giáo, ngoại giáo, và ngay cả những người lạc giáo" [5].

"Những thế hệ Thiên Chúa Giáo khởi đầu cố gắng loại bỏ ngoại giáo, phá huỷ cơ sở tôn giáo của họ, đền thờ, truyền thống và trật tự dựa trên đó" [6].

 

III.  Đức Tin Bị Nguy Nan

Độ 13 năm trước, đă có một thời gian rất dài, tôi bị khủng hoảng v́ đức tin Công Giáo.

Ngày đó, tôi ghi danh học các lớp về tôn giáo, về Ki Tô Giáo (Christianity) theo quy định để được ra trường.  Và rồi, hết ngày này đến ngày khác, ḍng lịch sử các Giáo Hội Ki Tô Giáo dần dần hiện ra trước mắt.  Những ngày tháng đó, tôi thường nhớ đến đoạn Kinh Thánh mà ngàn xưa, Chúa Giê Su đă hỏi các môn đệ rằng: Phần các con, các con bảo Thầy là ai? 

Và rồi, SỰ THẬT luôn là những ǵ "đau như cắt cổ". Ḍng lịch sử nhân loại đă có những điều không hay về Giáo Hội Công Giáo.  Ḍng lịch sử đó ghi lại rằng: Giáo Hội Công Giáo là tôn giáo giết nhiều người nhất trong các tôn giáo mà tôi đă biết; hơn cả Hồi Giáo, hơn cả Phật Giáo, vv.  Những ngày tháng đó, tôi luôn trăn trở với một câu hỏi mang tính cách quyết định:

 

Giáo Hội Công Giáo thánh thiện ở chỗ nào ?

(i) Tôi thắc mắc hoài không hiểu: Tại sao Giáo Hội Thánh Thiện lại có thể có những mảnh đời đầy dẫy những lỗi lầm trong tư tưởng và trong hành động; rất nhiều khi c̣n là những hành động phi nhân bản nữa?

(ii) Tôi thắc mắc hoài không hiểu: Tại sao Giáo Hội Thánh Thiện mà có thời Công Giáo c̣n là Quốc Giáo tại hầu như mọi nước ở Châu Âu, ở những nơi đó vẫn chứa đựng vẫn có những hành động tàn ác, có sự h́nh thành của chủ nghĩa Đế Quốc, Thực Dân tham lam, tàn bạo, và khát máu

(iii) Tôi thắc mắc hoài không hiểu: Tại sao Giáo Hội Thánh Thiện, tràn đầy ân sủng Chúa Thánh Thần như Giáo Hội Công Giáo, lại phải chia ra làm nhiều mảnh qua các biến cố Ly Giáo và Lạc Giáo?

 

IV. Cỏ Lùng Theo Ánh Mắt Tâm Linh

 

Mùa Chay nhắc nhở chúng ta cái mỏng manh, cái tạm bợ, cái yếu đuối trong thân xác mỗi con người.  Mùa Chay cho chúng ta những cái nh́n "khiêm tốn" về chính ḿnh, nhưng cũng để nhắc nhở chúng ta một điều huyền diệu khác: Thế giới này luôn có sự hỗn độn giữa Thiện và Ác, và trong ngay cả tư tưởng và hành động của chúng ta, luôn có sự pha trộn giữa "Ánh Sáng và Bóng Tối".  Nói cách khác, làn ranh phân biệt "CỎ LÙNG" hay "LÚA M̀" hầu hết nằm trong ngay chính bản thân mỗi người chúng ta.  Như chính Chúa Giê Su đă nhắc nhở chúng ta trong ngụ ngôn người đàn bà tội lỗi rằng: "Nếu ai trong các ngươi không có tội"?  (Ga 8:1-11)

(i) Judas được xem là thánh thiện khi ngài được chính Con Thiên Chúa thu nhận là môn đệ.  Nhưng chính người môn đệ đó, sau này lại trở thành loài CỎ LÙNG xấu xa nhất: CẢ CHÚA CŨNG BÁN.

(ii) Thánh Phê Rô, vị giáo hoàng tiên khởi được Chúa Giê Su tín nhiệm trao quyền chăn dắt các đoàn chiên con, chiên mẹ của ngài. Nhưng tảng đá góc tường đó, vào lúc NGUY NAN nhất, lại tự ḿnh BỎ CHÚA CHẠY LẤY NGƯỜI.

(iii) và cũng với lối nh́n đó với các tội nhân thiên cổ như Hitler, Stalin, vv., đâu phải mọi hành động, tư tưởng trong suốt cuộc đời họ đều là CỎ LÙNG !

Câu chuyện giữa người “ngoan đạo” và nhà từ thiện, giữa Tô Đông Pha và Phật Ấn cho chúng ta thấy:

- Người “ngoan đạo” tưởng ḿnh là "ÁNH SÁNG", nhưng rồi ông chỉ là người theo đuổi danh từ "CÓ ĐẠO" mà không hiểu đạo, không hiểu chính hành động bác ái của nhà từ thiện đă là "ĐẠO", đă là những giá trị thuộc về Thiên Chúa.

- Thi hào Tô Đông Pha ngỡ ḿnh "hiểu đạo" khi làm thơ, mà rốt cuộc đă bị thiền sư Phật Ấn “gạt", để rồi phải tự thẹn.

và cũng thế:

- chúng ta, hết người này đến người khác đă vướng bận với "danh từ CÓ ĐẠO", "khuôn khổ Giáo Lư", "khuôn khổ Công Giáo" để rồi: chính từ trong lối Sống Đạo hay Sống Đời, chúng ta đă là CỎ LÙNG trong cái nh́n của những người "XA LẠ".

 

Lời Kết

Lúc này, tôi chợt nhớ đến lời độ lượng trong bốn câu thơ của Hoàng Ngự Thiên về một người đàn bà tội lỗi:

Ta sẽ chờ người: nơi cuối băi

Dạt về ră mục sắc hương xưa

Ta sẽ chờ người: nơi dấu ái

Riêng trời độ lượng có ta đưa.

Cảnh đời này không giống cảnh đời sau [7].  Cảnh đời này có đủ loại pha lẫn giữa Thiện và Ác, giữa Bóng Tối và Ánh Sáng, giữa Cỏ Lùng và Lúa Ḿ.  Ngay cả thánh Phê Rô, vị Giáo Hoàng tiên khởi của Giáo Hội cũng có khi là Cỏ Lùng. Giáo Hội Công Giáo v́ vậy là thánh thiện ở những nơi thánh thiện, những không gian và thời gian tốt lành.

Cảnh đời sau sẽ không thế: ngày Phán Xét, Thiên Chúa và những thợ gặt của ngài sẽ giúp chúng ta loại bỏ CỎ LÙNG, những ǵ tội lỗi ra khỏi thân xác và linh hồn, ra khỏi tư tưởng và hành động của mỗi người.

Và ngay khi chúng ta c̣n sống ở cảnh đời này, cho dù làn ranh giữa Cỏ Lùng và Lúa Ḿ c̣n chưa rơ nét, c̣n cho hoàn chỉnh, chúng ta chỉ c̣n cách sống sao để dung hoà Đức Tin và Hành Động vào  công cuộc hoán cải tâm linh cho chính bản thân ḿnh và cho người khác như thánh Phaolô đă chia sẻ: Con người hằng được đổi mới theo h́nh ảnh Đấng Tạo Hoá, để được ơn thông hiểu. (Cl 3:10).

Thực vậy, quá tŕnh hóan cải tâm linh – quá tŕnh đổi mới đ̣i hỏi phải thực hiện thường xuyện và suốt cuộc đời.

 

Tài Liệu Tham Khảo

 

[1] trích Bát Nhă Tâm Kinh do Hoà Thượng Tuyên Hóa Lược Giảng

--------------------------------------

 

[2] Models of The Church (Avery Dulles)

 

THE POLITICAL SOCIETY MODEL

In the period between approximately 1600 and the year 1940, Catholic ecclesiology had one dominant model or "paradigm" (the technical term for a dominant model) for describing and understanding the nature of the Church. That model was the secular political society, the State. It is the model that Robert Bellarmine presented in his classic definition of the Church in De Contoversiis (1588):

"The one and true Church is the community of men brought together by the profession of the same Christian faith and participation in the same sacraments under the authority of legitimate pastors and especially of the one Vicar of Christ on earth, the Roman Pontiff.... The one true Church is as visible and palpable as the Kingdom of France or the republic of Venice."

This definition, which enumerated only the visible and structural characteristics of the Church, did not fully express Bellarmine's concept of the Church. But it was this definition which Catholicism took to itself with enthusiasm in the following centuries, sometimes referring to the Church as the "perfect society". It is the model that is found in Cardinal Gasparri's Catechism (1932), which intentionally reflects Pius XI's Mortalium Animos (1928). We will generally refer to this model as the "political society model".

It was a serviceable model in the Counter-Reformation period. It gave definite guidelines by which Catholics could identify one another. Some elements of this model must be incorporated into any complete description of the Church; the bonds of professed faith, of sacraments and of government figure prominently in Vatican II documents. And in Catholic ecclesiology, as well as in that of most other denominations, the Church is essentially a society that can be identified by visible characteristics. But the emphasis on visible, institutional characteristics alone together with its polemical, exclusivist intent makes it a very deficient model of the Church. The Church is much more than a social structure. Other essential characteristics must be represented: the life of grace, a Christian communion of faith, hope and charity, the abiding presence of Christ and the gifts and assistance of the Spirit. In fact, the whole "mystery" dimension of the Church goes unrepresented in this model. And that is surely a basic weakness in a model that aims to express a reality that is above all a mystery of faith.

This model was dominant for far too long, with serious effects on Church life. It fostered what Yves Congar has called a "hierarchology" rather than an ecclesiology. With this went a corresponding over-emphasis on authority and a corresponding lack of lay involvement in the life and mission of the Church. Much heroic missionary activity was undertaken in the period, but the aim was generally to build up the Church society on earth, efforts to save souls being directed precisely to bringing more and more people into the Church society. Success for the missionary, and for the pastor at home as well, was measured in statistics of conversions, baptisms, regular attendance and communions. Bishop de Smedt was describing succinctly the effects of this model when he criticised the first preliminary schema on the Church presented to the Fathers at Vatican II, using the words "clericalism, juridicism, and triumphalism".

 

-----------------------------------------

[3] HỢP TUYỂN THẦN HỌC Số 22: Giáo HỘi HỌc III, CHƯƠNG 18a, GIÁO HỘI ĐỐI NGOẠI

Các tôn giáo ngoại kitô có giá trị như thế nào xét về mặt thần học? Các tác giả đề xuất nhiều ư kiến khác nhau. [19] Giáo lư chính thức công nhận các tôn giáo ấy có một giá trị và đóng giữ một vai tṛ tích cực trong việc cứu rỗi các tín đồ của ḿnh. [20] Dựa theo dạng Kitô học của riêng mỗi người, các tác giả nhận ra những vai tṛø khác nhau của các tôn giáo: 1) Theo Kitô học được gọi là “chuyên nhất” (exclusive), giữ lập trường cho rằng Đức Kitô là trung gian tuyệt đối duy nhất, và không để một ai ngoài Ngài, tham dự vào vai tṛ ấy; kết quả là ngoài Giáo hội tuyệt nhiên chẳng có ơn cứu độ. 2) C̣n Kitô học được gọi là “bao gồm” (inclusive), th́ dù ư thức Đức Kitô là Đấng trung gian duy nhất, nhưng lại xác tín rằng Ngài cứu rỗi mọi người ngay cả ở trong hoặc qua các tôn giáo khác; Giáo hội là bí tích cứu rỗi cho cả các dân ngoại nữa. 3) Kitô học “quy phạm” (normative) cho rằng Đức Kitô là trung gian chuẩn mực, và Thiên Chúa có thể cứu rỗi qua những trung gian khác; Giáo hội là “cộng đồng cứu độ chuẩn mực,” và các tôn giáo khác cũng là trung gian đối với các tín đồ của họ. 4) Nếu Đức Kitô không phải là trung gian quy phạm (non normative), tất Thiên Chúa dùng đến nhiều vị trung gian cứu rỗi cùng với các mạc khải khác; và Giáo hội chỉ là một cộng đồng cứu rỗi giữa nhiều cộng đồng khác.
Lập trường thứ hai là lập trường chính thức của Giáo hội Công giáo, bỏi đó là lập trường trung thành hoàn toàn với những ǵ Tân Ước cho biết về: Đấng trung gian duy nhất (x. Cv 4: 12; 1Tm 2: 5), Đấng nhập thể và cứu chuộc “chỉ một lần” duy nhất (x. Dt 9: 26.28), và thiên tính của Đức Kitô (x. Ga 20: 28). Giáo hội công nhận là các tôn giáo có giá trị thật về mặt cứu độ; nhưng nguồn ơn cứu độ là chính Chúa Kitô, và được chuyển thông – một cách nhiệm mầu chỉ Thiên Chúa biết – nhờ Giáo hội là bí tích cứu độ phổ quát. Những giá trị các tôn giáo chứa đựng, được coi như “hạt giống của Ngôi Lời;” bởi Thần Khí của Đức Kitô hằng hoạt động qua nghi thức và giáo lư của các tôn giáo ấy, khiến cho mọi người có thể mở ḷng để đón nhận ơn cứu rỗi. Tuy nhiên, nhiều điều trong các tôn giáo ấy cũng cần phải được “thanh tẩy” cho phù hợp với ư Thiên Chúa, như được mạc khải trong Kinh Thánh.

 

----------------------------------------------

[4] Brittainica Encyclopedia, Macropedia Version, Vol. 4, page. 525.

"The whole history of Christianity is characterized by many attempts to confine the commandment of love to certain cartegories: the fellow believer, the family member, the fellow tribeman or fellow countryman, or fellow party member, SO THAT NO LOVE IF LEFT FOR THE "FARAWAY PEOPLE"

-------------------------------------

[5] Brittainica Encyclopedia, Macropaedia version, Vol. 4, pg. 492:

- "Christianity consistently practiced intolerance attitude in its approach to Judaism and paganism as well as heresy in its own ranks".

------------------------------------

[6] Brittainica Encyclopedia, Macropaedia version, Vol. 4, pg. 492:

"Early Christianity aimed at the elimination of paganism, the destruction of its institutions, temples, traditions and the order of life based upon it."

---------------------------

[7] CẢNH ĐỜI NÀY và CẢNH ĐỜI SAU, Đức Giám Mục Bùi Tuần

1/ Cảnh đời này không phân biệt rơ cái tốt cái xấu.

a) Dụ ngôn thứ nhất là dụ ngôn về khu đất gieo trồng (x. Mt 13,18-23).

    Khu đất này có chỗ cỏ mọc kín,

                có chỗ đầy sỏi đá,

                có chỗ um tùm gai góc,

                có chỗ bằng phẳng, mịn màng.

    Người gieo giống gieo văi hạt giống trên khắp khu đất ấy. Nhưng, khi phát triển, các chỗ khác nhau của khu đất phát triển khác nhau. Không đồng đều. Rất lộn xộn. Cảnh đó không đẹp. Nhưng người chủ đất cứ để vậy. Sau mới tính.

b) Dụ ngôn thứ hai là dụ ngôn ruộng lúa có cỏ lùng (x. Mt 13,24-30).

     Chủ nhà gieo toàn lúa tốt trong ruộng. Nhưng ban đêm, kẻ xấu lẻn vào rắc các loại cỏ xấu. Lúa cũng mọc lên. Các loại cỏ xấu cũng mọc lên. Hơn nữa, các loại cỏ này cũng được thừa hưởng phân bón nước non dành cho lúa.

    Thế là lúa tốt sống chung với cỏ xấu. Cả hai cùng tươi tốt. Cảnh đó không hay. Nhưng người chủ cứ để vậy. Sau mới tính.

   

c) Dụ ngôn thứ ba là dụ ngôn chiếc lưới (x. Mt 13,47-50).

    Chủ sai người đi chài cá. Chài bằng lưới. Lưới này bắt được nhiều thứ cá. Có cá tốt. Có cá không tốt. Cá tốt sống chung với cá xấu, thậm chí cá tốt cũng sống chung với rắn, ốc, đỉa. Cảnh đó lộn xộn. Nhưng chủ bảo người chài cứ để vậy mà chài. Sau mới tính.   

d) Dụ ngôn thứ bốn là dụ ngôn ông phú hộ và người hành khất Ladarô (x. Lc 16,19-31).

    Ông phú hộ sống quá sung sướng. Người hành khất sống quá nghèo khổ. Hai người không xa nhau về địa lư, nhưng rất xa nhau về bậc thang xă hội. Có thể nhiều người tưởng ông phú hộ được Chúa thương đặc biệt. Biết đâu chính ông cũng nghĩ thế.  

Cảnh phân hoá đó thực ra rất khó coi. Nhưng rồi cũng quen. Chẳng mấy ai đặt vấn đề. Chúa cứ để vậy. Sau mới tính.

Qua 4 dụ ngôn trên đây, chúng ta thấy cảnh đời này là rất đa dạng. Dạng tốt có. Dạng xấu có. Chúng xen lẫn vào nhau. Nhiều khi khó phân biệt. Thậm chí, nhiều cái tốt bị đánh giá là xấu. Và ngược lại.

Nhưng sự xáo trộn sẽ không kéo dài măi măi. Đời sau sẽ phân biệt rơ ràng công minh.