Một ư nghĩa hoàn mới tiềm tàng trong chương Một Sáng Thế Kư đă xảy đến với tôi khi tôi nhớ lại rằng đầu tiên Thiên Chúa đă tạo nên ánh sáng và Ngài thấy nó tốt đẹp. Và rồi Ngài phân rẽ đất với nước. Ngài cũng thấy tốt đẹp. Rồi Ngài tiếp tục tạo ra thảo mộc và động vật. Ngài cũng thấy chúng tốt đẹp. Thế rồi Ngài tạo nên con người – giống h́nh ảnh Ngài.
Như vậy tôi cho rằng động lực làm điều tốt có một cái ǵ đó liên quan tới mục tiêu của cuộc sáng tạo.
Trái lại, động lực làm điều xấu th́ có sức hủy diệt chứ không sáng tạo.
Kết luận: Quyết định lựa chọn giữa tốt và xấu, giữa sáng tạo và hủy diệt là sự lựa chọn của chúng ta. Nói cho cùng chúng ta phải lănh nhận trách nhiệm và đón nhận những hệ quả của trách nhiệm ấy.
của Đức Tin Kinh-Thánh
9. Trước hết là cái nh́n mới về Thiên-chúa. Trong các nền văn-hoá có liên-hệ với Kinh-thánh, h́nh-ảnh về Thiên-chúa và các thần-linh, trên căn-bản, không rơ-ràng và đồng-nhất. H́nh-ảnh này, trái lại, ngày càng rơ ra với con đường đức tin của Kinh-thánh, qua lời nguyện nền-tảng mang tên Schema của dân Israel: “Hăy nghe, hỡi Israel, Thượng-đế, Chúa của chúng ta, chỉ có một” (Tl 6, 4). Chỉ có một Thiên-chúa, Ngài là đấng tạo thành trời đất và v́ thế là Chúa của mọi người. Ở đây xác-định hai điểm có một không hai: Mọi thần-linh khác không phải là Thiên-chúa, và toàn thế-giới chúng ta đang sống là do Thiên-chúa tạo ra, do Thiên-chúa mà có. Dĩ nhiên đâu-đó cũng có những tư-tưởng về sáng-tạo, nhưng chỉ ở đây mới minh-bạch, là chỉ có một Thiênc-húa thật và duy-nhất, chứ không có chúa nào khác, chính Ngài là nguyên-ủy của mọi thực-tại và thực-tại h́nh-thành do sức mạnh lời tạo-dựng của Ngài. Điều này có nghĩa là thực-tại này mang h́nh-ảnh Ngài và Ngài yêu nó, bởi chính Ngài muốn có nó, chính Ngài “làm ra” nó. Từ đây xuất-hiện yếu-tố thứ hai: Thiên-chúa này yêu con người. Quyền-lực thần-linh, mà Aristoteles từ đỉnh cao triết-học Hi-lạp đă cố nắm bắt bằng suy-tư, thật ra là đối-tượng của thèm-muốn và của t́nh yêu cho mọi loài thực-tại: Chỉ v́ được thế-giới yêu ḿnh nên thần-linh đó đă cho thế-giới chuyển-động [6]; chính thần-linh này chẳng cần ǵ cả và cũng chẳng biết yêu, nó chỉ biết được yêu mà thôi. Thiên-chúa độc-nhất mà dân Israel tin, trái lại, biết yêu. T́nh yêu của Ngài lại thêm đặc-điểm là có chọn-lựa: Ngài đă chọn Israel trong muôn dân-tộc và yêu nó – dĩ-nhiên với mục-đích để cứu toàn-thể nhân-loại. T́nh yêu đó của Chúa có thể gọi được là Eros, và Eros này đồng thời cũng là Agape [7].
Đặc-biệt hai tiên-tri Hôsê và Êzêkiel đă mô-tả mối t́nh đó của Chúa đối với dân Israel bằng những h́nh-ảnh thật khêu-gợi: cuộc đính hôn và hôn-nhân. Phá hôn-ước hay làm điếm, do đó, là phục-vụ ngẫu-tượng. Như vậy, tục thờ phồn-thực (cơ quan sinh dục nam – nữ) với việc lạm-dụng Eros, như ta thấy trên đây, đă được đề-cập; và như vậy sự trung-thành của Israel đối với Thiên-chúa của họ cũng đă được nói đến ở đây. Chuyện t́nh của Chúa đối với Israel hệ-tại thẳm sâu ở chỗ là Ngài đă ban cho Israel luật Thora, nghĩa là đă mở mắt họ để họ thấy được bản-chất thực-sự của con người và đă chỉ cho họ con đường làm người chân-chính. Câu chuyện này hàm-chứa sự-kiện: con người cảm-nhận được ḿnh là người yêu của Thiên-chúa khi sống trung-thành với Thiên-chúa độc-nhất, và khám-phá ra niềm vui nơi chân-lí và công-lí, niềm vui nơi Chúa mà cũng là niềm vui của chính ḿnh: “Ngoài Ngài ra tôi đâu có ai trên trời? Với Ngài, tôi chẳng màng ǵ dưới đất... Nhưng tôi - hạnh-phúc được ở bên Chúa” (Tv 73 [72], 25. 28).
10. Eros của Chúa đối với con người, như ta đă nói, hẳn là Agape. Không phải chỉ v́ nó được ban tặng một cách hoàn-toàn tự-do và vô điều-kiện, nhưng cả v́ nó là t́nh yêu tha-thứ. Đặc-biệt Hôsê chỉ cho ta thấy chiều-kích Agape, vượt xa khía-cạnh nhưng-không trong t́nh Chúa, đối với con người. Israel đă “ngoại-t́nh”, xé bỏ kết-ước; Lẽ ra Chúa phải xét-xử và phụ-rẫy nó. Nhưng cũng từ đây Chúa cho ta thấy Ngài là Chúa chứ không phải là một phàm-nhân: “Làm sao ta nỡ bỏ ngươi, hỡi Êphraim, làm sao ta nỡ thí ngươi, hỡi Israel?...Ḷng ta chống lại ta, ḷng thương-hại sôi lên. Ta không nổi giận và sẽ không huỷ-diệt Ephraim. Bởi ta là Thiên-chúa, không phải là phàm-nhân, là đấng thánh ở giữa ngươi” (Ho 11, 8-9). T́nh yêu nồng-nàn của Chúa đối với dân Ngài - đối với con người - đồng thời là t́nh yêu tha-thứ. Nó quá lớn đến nỗi Chúa phải chống lại chính ḿnh, t́nh yêu Ngài phải chống lại công-lí của Ngài. Ở đây, kitô-hữu thoáng thấy bí-mật của thánh-giá hé mở: Thiên-chúa yêu con người đến đỗi chính Ngài đă nhập thế làm người, đi theo con người đến chết và với cách đó Ngài đă giao-hoà công-lí lại với t́nh yêu.
Có một thứ đạo xuất hiện ngay từ thuở tạo thiên lập địa, vào lúc thủy tổ ḷai người A-đam và E-và hiện diện nơi vườn địa đàng: đó là “đạo tâm” hay “đạo làm người”. Trong muôn ḷai thụ tạo, duy chỉ con người mới có “tâm” để nhận biết “đạo”, là thiên luật chi phối và vận hành vạn vật. Nói theo ngôn ngữ của Lăo Tử th́: “Đạo mà có thể dùng lời để diễn tả được, th́ không phải là Đạo vĩnh cửu bất biến. Tên mà có thể đạt cho nó được, th́ không phải là Tên trường tồn bất diệt. Lúc không tên, Nó là gốc của trời đất. Khi có tên, Nó là Mẹ của muôn ḷai”[1]; nói theo Đức Khổng Tử th́ “mọi người cùng trở về một tụ điểm mà bằng những con đường khác nhau, trăm điều suy nghĩ nhưng cùng đi đến chỗ nhất trí.” [2] Nói theo cổ nhân th́ “một gốc sinh ra muôn vàn thứ, muôn vàn thứ qui về một gốc” [3]; nói theo thánh sử Gio-an th́ “Lúc khởi đầu đă có Ngôi Lời … Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người, th́ chẳng có ǵ được tạo thành” [4] Và nói theo chữ nghĩa của Aristote th́ “đạo” là “nguyên nhân của mọi nguyên nhân.” [5]. Riêng lối giải thích thần học cho rằng “không có ơn cứu độ ở bên ng̣ai giáo hội công giáo”[6] th́ nay đă trở nên lỗi thời lạc điệu bởi v́ hiện nay trên thế giới có trên 6 tỉ con người, th́ không lẽ Thiên Chúa chỉ yêu thương cứu độ 1 tỉ người theo đạo Thiên Chúa thôi sao? [7] Bài viết này thử nh́n vào tôn giáo, qua lăng kính của một tín đồ công giáo, để mong nhận ra “đạo tâm” là đạo nền tảng nơi con người (đạo làm người), một thứ đạo phổ quát vượt lên trên hết mọi thứ đạo (công giáo ṭan cầu), với ước mong t́m về “hiệp nhất” theo ước nguyện của Đức Ki-tô. [8]
Con người không thể sống mà không có tôn giáo như lời Thánh Âu Tinh: “Lạy Chúa, Chúa đă dựng nên chúng con cho Chúa và ḷng chúng con c̣n khắc khỏai măi cho tới khi được an nghỉ trong Chúa.”[9]. Thời xưa cho đến thời nay, dù ở vào bất ḱ không gian hay thời gian nào, con người luôn: “T́m kiếm chân lí, khát khao sự thiện, thèm muốn tự do, ngưỡng mộ cái đẹp, làm theo tiếng nói lương tâm.” [10]. Nỗi băn khoăn về nguồn gốc, về thiên nhiên, về hạnh phúc và khổ đau, về sinh lăo bệnh tử, về thiện ác tốt xấu, về mục đích cuộc đời, về tương lai hậu vận, luôn gắn liền với thân phận làm người. Bao lâu con người c̣n băn khoăn thắc mắc, th́ bấy lâu con người c̣n cần đến tôn giáo. Không có một chế độ chính trị nào, không có một tổ chức trần gian nào, cho dù cung ứng mọi nhu cầu cho thân xác con người được ấm no đầy đủ, th́ những thực tại trần thế ấy vẫn không thể thỏa măn nỗi khát vọng tâm linh nơi con người. Lịch sử chứng minh đế quốc La Mă đă từng chủ trương tiêu diệt Ki-tô giáo[11] , cũng như đă từng có những chế độ chính trị độc tài muốn xóa bỏ tôn giáo, nhưng đến nay tôn giáo vẫn tồn tại, c̣n đế quốc Rô-ma th́ đă biến mất và các chế độ chủ trương vô thần gần như đă bị tận diệt v́ không đủ sức thuyết phục nhân tâm. C̣n nữa, cho dù tôn giáo, bao gồm hàng ngũ người lănh đạo và các tín đồ, có sa đọa đ́nh đốn đến thế nào đi nữa, th́ nhu cầu tôn giáo luôn vẫn c̣n, bởi khát vọng tâm linh vẫn luôn thôi thúc ḷng người.
TÔN GIÁO LÀ G̀ ?
Để có thể hiểu về tôn giáo, xin nêu ra 3 định nghĩa từ 3 nguồn khác nhau. Tôn giáo được định nghĩa là:
1. “Giáo lí lấy thần đạo mà lập ra giới ước khiến người ta sùng bái và tín ngưỡng” [12].
2. “Niềm tin vào sự tồn tại của một hay nhiều thần thánh đă sáng tạo ra vạn vật và cho con người linh hồn để tiếp tục tồn tại sau khi chết về thể xác” [13]
3. “Niềm tin và tác động sùng bái một Thượng đế hay nhiều thần, một hệ thống đặc thù giải thích về niềm tin và sự sùng bái đó, thường th́ bao gồm lí tưởng luân lí, hay một triết lí sống v…v… [14]
Cả 3 định nghĩa nêu trên có thể hiểu được như sau: Tôn giáo chia ra làm 2 phần: h́nh thức thờ phượng bên ng̣ai là lớp vỏ, và tác động thờ phượng bên trong là tâm linh. Lớp vỏ bên ng̣ai là cơ cấu tổ chức, cơ sở, phẩm trật, thánh kinh, truyền thống, giáo lí, tín điều, bí tích, giáo luật, văn kiện, học thuyết v…v … Và phần tâm linh sâu thẳm là phần“giống h́nh ảnh Thiên Chúa”[15]. Nói đến tâm linh là nói đến khả năng yêu thương chỉ có nơi con người. Có thể sánh ví lớp vỏ bên ng̣ai của tôn giáo là hiện tượng, tâm linh là bản chất; lớp vỏ bên ng̣ai là phương tiện, tâm linh là mục tiêu; lớp vỏ bên ng̣ai là h́nh thức, tâm linh là nội dung. Như thế mới hiểu được tại sao Thiên Chúa là “Thần khí”, và Thiên Chúa cũng là “ yêu thương”. Thần khí và yêu thương chính là “đạo tâm”, bởi v́ “mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của thày ở điểm này: là anh em có ḷng yêu thương nhau.” [16]
“ĐẠO TÂM” TRONG TIN MỪNG
Đức Giê-su mặc dù mang thân phận Thiên Chúa, nhưng khiêm hạ đến với trần gian như một người phàm, đem “đạo tâm” đến để kiện ṭan cuộc sống con người: “ Đă đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giê-ru-sa-lem. Các người thờ đấng các người không biết, c̣n chúng tôi thờ đấng chúng tôi biết, v́ ơn cứu độ phát xuất từ dân Do Thái. Nhưng giờ đă đến- và chính là lúc này đây- giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, v́ Chúa Cha t́m kiếm những ai thờ phượng Người như thế. Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật” [17] Vấn đề đặt ra là: nếu Đức Giê-su hôm qua, hôm nay và măi măi luôn vẫn là hiện tại và là một, th́ khi nói với người thời nay, chắc chắn các cụm từ“trên núi này” sẽ được thay thế bằng cụm từ “nơi thánh đường này”; “Giê-ru-sa-lem” thay bằng “công giáo Rô-ma”; và “thần khí” bằng “tâm linh” . Như thế, thờ phượng đích thực theo Đức Giê-su phải là thờ phượng trong tâm linh, là “đạo tâm”, theo giảng dạy của đấng “là đường, là sự thật, là sự sống” [18]
Các dẫn chứng dưới đây hỗ trợ cho lập luận vừa kể:
- Chúa Giê-su kịch liệt lên án tập đ̣an kinh sư và biệt phái quen thói giữ đạo h́nh thức (giả h́nh), nấp bóng tôn giáo để được vinh thân ph́ da với nhiều đặc quyền đặc lợi.[19]
- Linh mục Gildo Dominici Đỗ Minh Trí đă viết: “Cầu xin Thiên Chúa hăy cứu vớt chúng ta khỏi những sự cuồng tín tôn giáo: đây là sự đam mê nguy hiểm nhất, bởi v́ tôn giáo không phải là Thượng Đế. Đôi khi người ta đă lầm lẫn tôn giáo với Thượng Đế, và người ta đă giết hại hàng triệu con người v́ các lí do tôn giáo. Để có được ḷng đam mê cho con người, trước tiên cần phải có ḷng đam mê vào chính bản thể Thượng Đế, chứ không phải vào tôn giáo. Tôn giáo th́ có những đặc quyền đặc lợi, là có thể gây sự xung đột với quyền lợi của con người. Những quyền lợi của Thượng Đế luôn luôn phù hợp với quyền lợi của con người.”[20]
- Đức Giê-su truyền giảng “đạo tâm” nơi “Bài Giảng Tám Phúc” [21].
- Ngày chung thẩm chính là ngày phán xét về “đạo tâm”: ”Xưa ta đói các người không cho ăn … Ta ḿnh trần các người không cho mặc… Ta ngồi tù các người không thăm viếng.” [22]
- Đức Giê-su không dẹp bỏ các giá trị tôn giáo theo truyền thống của dân tộc Do Thái, nhưng ngài muốn tôn giáo phải hướng về t́nh thương là “đạo tâm” hay “đạo làm người” . V́ phụ mẫu Đức Giê-su là người Do Thái, nên việc tuân phục các truyền thống đạo Do Thái là lẽ đương nhiên: Đức Giê-su chịu cắt b́ [23]; bà Ma-ri-a và ông Giu-se dâng hiến trẻ Giê-su nơi đền thờ theo luật Môi-sen [24] ; hàng năm Người theo cha mẹ trẩy hội đền Giê-ru-sa-lem mừng lễ Vượt Qua; và hằng vâng phục phụ mẫu khi trở về Na-da-rét [25].
- “Đạo tâm” hay “đạo làm người” ḥa lẫn trong thiên nhiên, tự do không lệ thuộc, cùng phù hợp tŕnh độ và ḥan cảnh của hết mọi người “ Gió muốn thổi đâu th́ thổi, ông nghe tiếng gió, nhưng không biết gió từ đâu đến và thổi đi đâu. Ai bởi thần khí mà sinh ra th́ cũng vậy.” [26] Cũng như: “ Không ai có thể vào nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thần khí. Cái bởi xác thịt sinh ra là xác thịt; cái bởi Thần khí sinh ra là Thần khí.” [27]. Như vậy, cần phải có cái nh́n như thế nào về tất cả các tôn giáo hiện diện trên ṭan cầu hiện nay ?
TÔN GIÁO LÀ PHƯƠNG TIỆN
Tôn giáo chỉ là phương tiện dẫn đưa con người đến Thiên Chúa như lời linh mục Nguyễn Tầm Thường đă viết: “Tôn giáo chỉ là phương tiện đi về t́nh người. T́nh thương mới là cứu cánh. Tôn giáo là cứu cánh sẽ đưa đến chiến tranh tôn giáo. Tôn giáo phải đưa con người đến ḷng độ lượng bao dung. Như Thiên Chúa trong Ki-tô giáo đă đồng hóa ngài với chính con người. Trong cuộc phán xét sau cùng, Phúc âm tường thuật Thiên Chúa ấy nói:”Đi đi cho khuất mắt ta mà vào lửa đời đời, nơi dành cho tên Ác Quỷ và các thần của nó. V́ xưa ta đói các ngươi không cho ăn, khát các ngươi đă không cho ta uống.” Nghe vậy, họ chối là có bao giờ xảy ra như thế đâu. Thiên Chúa đó đáp lại:” Mỗi khi các ngươi không làm như thế cho những người bé mọn này là không làm cho chính ta.” (Mt 25:35-45)[28]
Tất cả mọi tôn giáo đều cần thiết bởi v́ mỗi người, mỗi dân tộc, có tŕnh độ hiểu biết, điều kiện, ḥan cảnh và môi trường khác nhau, nên có nhu cầu và cần sự đáp ứng khác nhau. Các tôn giáo tồn tại được theo ḍng thời gian là v́ đáp ứng được những nhu cầu khác nhau đó. Thế giới hiện nay đang có nhiều tôn giáo và giáo phái. Điều này phản ảnh rơ nét nhân lọai có nhiều nhu cầu khác nhau. Chẳng hạn như ở Nhật chính phủ cho phép 180,000 giáo phái họat động, và ở Hoa Ḱ có lẽ có tới cả hàng ngàn giáo hội hay giáo phái khác nhau. Như thế, ước mơ về một tôn giáo hiệp nhất “ một đàn chiên theo một chủ chiên” là chuyện không tưởng trên cơi đời này! “Đạo tâm” có thể giúp con người đi đến “hiệp nhất” mà không khai trừ hay lọai bỏ tôn giáo hay giáo phái mỗi người đang tham gia. “Đạo tâm” trở thành “Tôn giáo ṭan cầu”cho mọi người, v́ đă là người th́ ai nấy đều phải vâng theo luật thiên nhiên (thiên luật), là phải sống đạo làm người, cho dù người ấy có ư thức hay không, muốn hay không muốn. Chính v́ thế, tất cả mọi tổ chức tôn giáo đều là phương tiện bên ng̣ai, giúp cho con người thể hiện “đạo tâm”bên trong. Các tôn giáo có thể ví như các tấm bản đồ giúp cho việc t́m đến mục tiêu. Có những bản đồ ḥan chỉnh hướng dẫn đầy đủ mọi chi tiết, th́ cũng có những bản đồ đơn sơ khiếm khuyết. Tấm bản đồ mỗi người có trong tay càng rơ ràng tỉ mỉ, càng chi tiết và trong sáng nhiều chừng nào, th́ sẽ giúp người coi bản đồ không bị lầm lạc, mau đi đến đích, cùng tiết kiệm được năng lực, thời giờ và tiền của. Nhiệm vụ của mỗi người trên trần gian là phải học cho tốt và cho thuộc bài học của riêng ḿnh, v́ “phải yêu mến Thiên Chúa hết ḷng, hết linh hồn, hết sức lực và hết trí khôn.”[29] Chính v́ thế mỗi người theo tiếng lương tâm, phải nỗ lực vẽ cho được tấm bản đồ tốt nhất, chính xác nhất, theo tŕnh độ hiểu biết và ḥan cảnh của riêng ḿnh, để xử dụng vào mục đích: t́m về nhà cha [30] . Khi chưa biết đường đi nước bước và chưa biết đích đến, con người cần đến bản đồ là phương tiện đi đường để t́m ra mục tiêu. Nhưng khi đă “giác ngộ” và tường tận đường đi đích đến rồi, th́ tấm bản đồ không c̣n cần thiết nữa theo lời Thánh Phao-lô: “V́ chưng sự hiểu biết th́ có ngần, ơn nói tiên tri cũng có hạn. Khi cái ḥan hảo đến th́ cái có ngần có hạn sẽ biến đi. Cũng như khi tôi c̣n là trẻ con, tôi nói năng như trẻ con, hiểu biết như trẻ con, suy nghĩ như trẻ con; nhưng khi tôi đă thành người lớn, th́ tôi bỏ tất cả những ǵ là trẻ con.” [31]
Tâm linh hay “đạo tâm” vừa là gốc và cũng vừa là ngọn, vừa là khởi thủy và cũng vừa là đích đến. “Đạo tâm” là đền thờ của Thiên Chúa, v́ ai sống trong yêu thương là sống trong Chúa. “Đạo tâm” không lệ thuộc h́nh thức tổ chức, cơ cấu, tín điều, luật lệ hay qui tắc do con người đặt ra. “Đạo tâm” là đạo ḥan ṭan b́nh đẳng, không bảng hiệu khoa trương, không mặc cảm tự tôn, không cường điệu tự phong ḿnh là nhất, không h́nh thức lễ nghi, không khai trừ lọai bỏ bất cứ một ai, dù là người đồng đạo hay khác đạo, có tín ngưỡng hay vô tín ngưỡng. “Đạo tâm” là chính lương tâm mỗi người: có “luật nhân quả” là tiêu chuẩn được dùng để phán xét, có “bí tích yêu thương” là dấu chỉ quyết định tương lai hậu vận đời người, v́ “tất cả chúng ta đều phải được đưa ra ánh sáng trước ṭa Đức Ki-tô, để mỗi người lănh nhận những ǵ tương xứng với các việc tốt hay xấu đă làm, khi c̣n ở trong thân xác.” [32]
“ĐẠO TÂM” LÀ SỰ “KẾT HIỆP MỘT CÁCH NÀO ĐÓ VỚI ĐỨC KI-TÔ”
Công đồng Vatican II đă nhận định: “nhờ việc nhập thể, con Thiên Chúa đă kết hiệp một cách nào đó với mọi người.”[33] . Thông điệp “Đấng Cứu Chuộc Con Người” (Redemptoris Hominis) cũng quả quyết: “Mọi người không trừ một ai- đă được Đức Ki-tô cứu chuộc, bởi v́ Đức Ki-tô kết hiệp một cách nào đó với con người, với từng người một không trừ ai, ngay cả khi họ không ư thức” [34]. Sách Giáo Lí Công Giáo cũng dạy : Lănh nhận bí tích rửa tội có thể hiểu bằng 3 cách: bằng nước (được rửa tội khi gia nhập đạo), bằng máu (chịu chết v́ đức tin), bằng lửa (ḷng sám hối, ước ao cùng sống bác ái): ” Tất cả những người không biết ǵ về Phúc Âm Chúa Ki-tô và Giáo hội của Ngài, nhưng t́m kiếm chân lí và thực hiện thánh ư Chúa như họ hiểu biết, th́ có thể được ơn cứu độ.” [35] . Sách GLCG c̣n nhấn mạnh: “Thiên Chúa đă gắn chặt ơn cứu độ vào phép rửa tội, nhưng ngài không bị trói buộc vào bí tích của ḿnh.” [36]
“Kết hiệp một cách nào đó” với Đức Ki-tô phải được hiểu là lối sống“đạo tâm”, là sống yêu thương bác ái, là sống đạo làm người. Điều thật sự quan trọng không phải là tôn giáo, không phải là bí tích, mà là yêu thương. “Đạo tâm” là tôn giáo tốt nhất, dễ hiểu nhất, tự do nhất, dễ được mọi người chấp nhận nhất, v́ “đạo tâm”dễ đưa mọi người đến gần Thiên Chúa mà không bị lệ thuộc bởi những ǵ do con người lập ra. Ở đâu có yêu thương th́ ở đấy có “đạo tâm”, ở đâu có “đạo tâm” th́ ở đấy có Thiên Chúa. Con người sống là sống với tha nhân, nên những việc đạo đức người công giáo quen làm như đi nhà thờ, gia nhập đ̣an thể, tham gia sinh họat xứ đạo, lănh nhận các phép bí tích, là những việc nên làm, v́ đó là cơ hội thể hiện “đạo tâm”, làm giàu tương quan t́nh người, và là môi trường tốt giúp cho “đạo tâm” được thực hiện cùng tha nhân, với tha nhân, và cho tha nhân. Tuy nhiên khi lồng sinh họat tôn giáo vào các mục tiêu thương mại như “xin khấn hay xin lễ đời đời”, cũng như lời phát biểu cho rằng “việc lănh nhận đầy đủ các phép bí tích trước khi qua đời là dấu chỉ được ơn cứu rỗi” tại các tang lễ của người công giáo Việt Nam [37], th́ cần phải được thận trọng xét lại, v́ lối phát biểu ấy thiếu khôn ngoan và tế nhị, lỗi đức ái đối với cả người công giáo lẫn người ng̣ai công giáo, dễ khiến người tham dự tang lễ hiểu rằng những ai không được gặp linh mục trước khi qua đời, hay không được chịu các phép bí tích của đạo công giáo, là những kẻ vô phước không nhận được ơn cứu rỗi! Được cứu rỗi hay không là tùy thuộc vào“ yêu thương”, tùy thuộc vào thứ “t́nh cho không biếu không”, biết chấp nhận thua thiệt trong thân phận làm người để t́m đến mục tiêu cao đẹp hơn, như Đức Giê-su đă chịu nạn chịu chết treo trên thập tự để chuộc tội ḷai người. Đời sống cùng lời giảng dạy của Đức Giê-su thể hiện rơ một thứ “t́nh cho không biếu không” ḥan hảo nhất, và đấy là cách thế biểu lộ nhân tính cao cả nhất của Đức Giê-su trong suốt cuộc đời 33 năm dương thế. Chính v́ vậy, khi người công giáo tuyên bố dùng phương tiện làm mục đích, lấy giáo hội hay các bí tích làm điều kiện để được ơn cứu rỗi, th́ hiển nhiên họ đă đi ngược lại giáo lí công giáo, ngược lại tuyên ngôn của Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II, ngược lại giáo huấn của công đồng Vatcan II, và nhất là ngược lại lời giảng dạy của Đức Giê-su trong Tin Mừng. Khi tuyên xưng Thiên Chúa là đấng yêu thương vô cùng, thánh thiện vô cùng, công bằng vô cùng, khôn ngoan vô cùng … th́ không lẽ “Đấng Vô Cùng” ấy chỉ thương riêng một thiểu số người công giáo trên cơi đời này hay sao? Kết hiệp một cách nào đó với Đức Ki-tô chính là sống “đạo tâm”, là “đạo yêu thương”, và là ch́a khóa để vào nước trời.
THAY LỜI KẾT
Văn hào Pháp Antoine de St. Exupery có nói: “Nếu bạn muốn xây dựng một con tàu, th́ chẳng thà là bạn dạy thiên hạ ước ao khỏang trời vô biên bất tận ng̣ai biển khơi, hơn là lùa người đi t́m ván đóng, cũng như chỉ định cho họ công việc phải làm”. Xây dựng con tàu giáo hội là việc làm của tất cả mọi tín đồ, bất kể là tu sĩ hay giáo dân, v́ tín đồ là giáo hội [38]. Tôi yêu mến Đức Giê-su v́ Người thật là một nhân vật ḱ diệu trong lịch sử ḷai người, chẳng vậy mà đă có biết bao nhiêu con người đă –đang- và sẽ t́m thấy ư nghĩa chân thực cho đời ḿnh, bằng cách sống theo tấm gương tuyệt vời của Đức Giê-su! Đời dương thế của Đức Giê-su là những chuỗi ngày ẩn dật suốt trong 30 năm. Vào 3 năm giảng dạy cuối đời, Người không hề muốn nắm giữ một vai tṛ nào trong các hội đường Do Thái hay tại thành thánh Giê-ru-sa-lem. Đạo Người giảng dạy là đạo t́nh thương, và các phép lạ Người làm cũng làm v́ yêu thương, muốn đứng về phía người nghèo, những kẻ thấp cổ bé miệng, những người bị hất hủi, những kẻ tật nguyền linh hồn hay thân xác, những người cô thân cô thế, những kẻ bị xă hội ḷai người lánh xa ruồng bỏ. Đức Giê-su không khiếp sợ cường quyền, không bị mê hoặc trước bả vinh hoa phú quí trần gian. Người lên án thậm tệ tập đ̣an giáo sĩ và kinh sư, những kẻ sống giả h́nh ăn trên ngồi trước chỉ nói mà không làm, chất gánh nặng lên vai người khác, c̣n bản thân họ và những người thuộc giai cấp như họ th́ ăn trắng mặc trơn; họ là những kẻ lợi dụng tôn giáo để “buôn thần bán thánh”, cũng như đưa chính trị vào tôn giáo để củng cố quyền lực và địa vị [39] Người đă phải trả giá bằng chính mạng sống của ḿnh, qua cái chết phanh thây như kẻ tội đồ trên thập tự giá.
Tôi từng tự hỏi: Tại sao Đức Giê-su đă không để lại “ngọc xá lợi”[40] nơi trần gian, để người đời đỡ phải lí luận tranh căi, cũng như khỏi phải t́m cách lí giải Thánh Kinh theo chiều hướng và chủ trương của giáo hội ḿnh? !
Tôi từng tự hỏi: Tại sao các nhà truyền giáo Tây phương đă dám can đảm hi sinh cả tính mạng ḿnh khi vượt biển băng ngàn đi truyền đạo tại các nước xa xăm như Việt Nam, nhưng họ đă để lại vết nhơ về những tranh căi vô ích liên quan đến việc thờ cúng ông bà tổ tiên theo “đạo làm người” [41]?!
Tôi từng tự hỏi: Tại sao những người có chung niềm tin vào Kinh Thánh, cùng tin vào Đức Giê-su Ki-tô, mà lại để biến cố li giáo đă xảy ra giữa giáo hội công giáo Rô-ma với giáo hội Đông phương [42], cũng như với tu sĩ thông thái và khổ hạnh Martin Luther[43]; và từng chuỗi các tôn giáo mỗi lúc mỗi tách rời nhau thêm từ đó cho đến nay ?!
Giờ đây tôi xác tín: “Đạo tâm” hay “đạo yêu thương” là đạo do chính Chúa Giê-su sáng lập thuận theo “Thiên ư”. V́ lượng yêu thương vô cùng vô tận, Thiên Chúa muốn dạy ḷai người“đạo tâm”để ḷai người biết “ước ao khỏang trời vô biên bất tận ng̣ai biển khơi”, hơn là chỉ biết co ro cúi đầu nhận lệnh.
“Đấng Tạo Hóa th́ cao cả vĩ đại hơn “con tàu” do tay người phàm làm ra”, và “Đạo tâm” là “đạo gốc” sinh ra mọi tôn giáo [44]. Như thế, nếu như không muốn nh́n thấy thế giới ḷai người phải đi đến chỗ bị tận diệt do xung đột và tranh dành hơn thua, các tôn giáo có chung một sứ mệnh là phải t́m về cội nguồn [45], cùng nắm tay nhau t́m đến mục tiêu chung là truyền bá “đạo tâm”, là đạo phổ quát, là đạo từ Trời, đang khi vẫn có thể duy tŕ bản sắc riêng của từng tôn giáo. Nói theo ngôn ngữ thời thượng th́ “đạo tâm” là “tôn giáo ṭan cầu” vậy.
GHI CHÚ:
[1] “Đạo khả đạo phi thường đạo, danh khả danh phi thường danh.Vô danh thiên địa chi thủy, hữu danh vạn vật chi mẫu” (Đạo có thể gọi được là đạo, không phải là đạo “thường hằng”. (Đạo Đức Kinh)
[2] Thiên hạ đồng qui nhi thù đồ, nhất trí nhi bách lự (Hệ từ hạ, V)
[3] “Nhất bản tán vạn thù, vạn thù qui nhất bản”
[4] Ga 1:1-3
[5] Causa causarum
[6] ”Extra exclesiam nulla salus” là công thức thần học cổ điển bắt nguồn từ tác giả của nó là thánh Cyprianô (tử đạo năm 258), đă được giáo hội công giáo xử dụng măi cho đến khi các văn kiện công đồng Vatican II ra đời.
[7] Theo bản thống kê Vatican th́ có trên 1 tỉ người công giáo trên ṭan thế giới. Có 450,000 người được phong chức, phần lớn trong số người này là linh mục, được chỉ định điều hành 99.5 % giáo hội. Như thế một người được truyền chức th́ coi sóc 2,444 tín đồ. Vậy th́ đâu có thời giờ để thăm viếng các gia đ́nh, tổ chức sinh họat trong giáo xứ, thi hành bí tích xức dầu bệnh nhân, hay hội thảo mục vụ liên quan đến việc điều hành cộng đồng Ki-tô hữu trong vai tṛ linh mục? Việc thiếu hụt linh mục rất phổ biến trong t́nh trạng hiện nay. Chính v́ thế mà việc nhấn mạnh đến việc lănh nhận các phép bí tích để được cứu rỗi trở nên “lố bịch” v́ có nhiều tín hữu cả đời không gặp linh mục (t́nh trạng các giáo hội chịu bách hại), hay chỉ gặp linh mục một vài lần trong đời người (t́nh trạng các nước Âu châu).
[8] Ga 17:21-23
[9] Confessio I,I
[10] RH 18
[11] Cuộc bách hại bắt đầu từ năm 64 thời Ḥang đế Nê-ron kéo dài cho đến năm 314 với chiếu chỉ Milan tha đạo dưới thời Ḥang đế Constantin.
[12] Nguyễn Văn Khôn, Hán Việt Từ Điển
[13] Viện Ngôn Ngữ Học, Từ Diển Anh Việt, 1993
[14] Webster’s Student Dictionary: “Belief in God or a group of gods to be worshiped; a particular system of such belief and worship, often including moral ideals, a philosophy of life, etc.”
[15] St 1: 26-27
[16] Ga 13:35
[17] Ga 4 : 21-25
[18] Ga 14:5
[19] Mt 23:1-36; Mc:12:38-40; Lc 11: 39-48 và 20:45-47
[20] Gildo Dominici Đỗ Minh Trí, Việt Nam Quê Hương Tôi, Diễn Đàn Chúa Nhật, 1992, trang 139
[21] Mt 5:3-12; Lc 6:20-23
[22] Mt 25:31-46
[23] Lc 2:21
[24] Lc2:22-28
[25] Lc 2:41-51
[26] Ga 3:8
[27] Ga 3:5-6
[28] Nguyễn Tầm Thường, Những Trang Nhật Kư Của Một Linh Mục, 2002, trang 199.
[29] Lc 10: 27
[30] Vạn thù qui nhất bản
[31] 1Cor 13:9-11)
[32] 2Cor 5:10
[33] GS 22
[34] RH 11
[35] SGLCG Số 1258, 1259 và 1260
[36] SGLCG Số 1257
[37] Lối phát biểu này rất phổ biến từ các linh mục lănh đạo cộng đồng Việt Nam .
[38] SGLCG Số 899
[39] Xem Mt 23:1-29; Mc 12:38-40; Lc 11:39-48 và Lc 20:45-47
[40] Dấu chứng thân thể như xương, răng , quần áo, đồ dùng, chữ viết …
[41] “Việc thờ phụng tổ tiên, nhiều người ngọai quốc hiểu nhầm là đạo Ông Bà, chính là do ḷng hiếu kính biết ơn của con cháu đối với tổ tiên. Việc thờ phụng này không thể kể là một tôn giáo được, không có giáo chủ, cũng không có giáo điều, do đó đồng thời thờ phụng tổ tiên, người Việt Nam vẫn theo tôn giáo riêng, có người theo một đạo, có người theo hai, ba đạo, miễn là hai, ba đạo này không có điều ǵ mâu thuẫn với nhau.” (Cửu Long Giang & Toan Ánh, Người Việt Đất Việt, Nam Chi Tùng Thư, 1967, trang 270)
[42] Giáo hội Đông Phương tách rời khỏi giáo hội Tây phương Rô-ma (vào năm 1053) cũng v́ tranh căi hơn thua về việc xử dụng ‘bánh không men” hay có men trong thánh lễ.
[43] Martin Luther đưa ra thông cáo Wittenberg (Oct. 30, 1517) gồm 95 đề tài với mục đích ngăn chặn việc mua bán ân xá để gây quĩ xây ṭa giám mục Mainz và kiến thiết đền thánh Phê-rô ở Rô-ma. Rút cục , ông tuyên bố li khai khỏi giáo hội công giáo (Oct.12, 1520) trước áp lực của ṭa thánh.
[44] Nhất bản tán vạn thù
[45] Vạn thù qui nhất bản