Tâm Linh Vào Đời

 

Text Box: Số 15 Ngày 05.05.2006

 

 
 

Lời giới thiệu

 

Chúng ta bắt đầu bằng

 Một phút suy tư về Linh đạo với nền Tu Đức Chiều Sâu

Hiệp thông với Chúa chứ không phải giả mù, khóa cửa tâm hồn và chú trọng Tu Đức Bề Ngoài.

Và một trong những cách trở về với nền Tu Đức Chiều Sâu

đó là phải Tái Sinh

Nghĩa là phải thay đổi quan niệm, năo trạng, lối nh́n đă bị khắc sâu vào trí năo từ thủa c̣n thơ.

Và một trong những quan niệm mới được diễn tả trong

 Luân hồi – một chuyến rong chơi kỳ thú

Cuối cùng, chúng ta cùng nhau khám phá ra

 Ch́a khóa Thần diệu mỡ cửa Vườn Địa Đàng

 

 

 

 

Một phút suy tư

Linh Đạo với nền Tu Đức chiều sâu

 

 

Lm. Morwood

.......  Lm. Morwood tiếp tục trách chúng ta là tại sao chúng ta c̣n phải đi t́m Chúa ở những nơi nào khác? Tại sao chúng ta lại khóa ḿnh trong nền tu đức chỉ nh́n ra Chúa nơi thiên cung hơn là một linh đạo tập trung vào Thiên Chúa đang ở trong và ở giữa chúng ta, thôi thúc chúng ta, nhắc nhở chúng ta có một căn tính thần thiêng (our sacred identity) và phải sống thực sự với căn tính ấy? Đây là thao trường chúng ta phải hoán đổi và là trung tâm sứ điệp Chúa Giêsu gửi cho mỗi chúng ta.

Linh đạo của chúng ta cần phải nhấn mạnh thật rơ ràng và thông suốt mối giây liên hệ nền tảng này giữa Thiên Chúa và chúng ta. Linh đạo này nhấn mạnh đến cả hai thực tại là Thiên Chúa hiện diện thực sự trong chúng ta và trách nhiệm của chúng ta phải làm thấm nhập sự hiện diện này và thể hiện rơ ràng trong lối sống của chúng ta. Tội lỗi căn bản của chúng ta, nếu có thể gọi đây là "tội tổ tông," chính là giả mù trước thực tại chúng ta là ai và các cách thức chúng ta khóa cửa không để khả năng thần thiêng thấm nhập trong chúng ta. Nói cách khác, chúng ta đă vô ư thức hoặc đă không làm sống động Thiên Chúa sống trong chúng ta. Chúng ta đă và đang sống với nền tu đức bề ngoài chú trọng vào đọc kinh, vào nghi lễ, vào hành hương mà quên đi nền tu đức chiều sâu tập trung vào mối giây thông hiệp với Chúa trong chính ḿnh và nơi vạn vật. Chúng ta đang sống với linh đạo sợ sa hoả ngục hơn là sợ làm mất ḷng Chúa đang ở trong chúng ta và ở trong các tạo vật chung quanh chúng ta. .......

Trở về Đầu trang

 

 

TÁI SINH

 

Linh Kỳ

 

** Tái Sinh theo người viết là "Sống Lại", không mang tính cách "Luân Hồi".

"Thật, tôi bảo thật ông: không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thần Khí.6 Cái bởi xác thịt sinh ra là xác thịt; cái bởi Thần Khí sinh ra là thần khí. (Ga 3: 5)

Đă là người sống trong thế giới này, họa hiếm lắm mới có một người không nghĩ đến cuộc sống đời sau.  Có thể v́ lẽ đó mà từ khi loài người biết ghi chép, biết kể chuyện và biết suy tư, thế giới đă tồn tại và phát triển rất nhiều những học thuyết, những tôn giáo, những lề lối tôn thờ hay tu tập ngơ hầu để mỗi cá nhân có thể chuẩn bị hành trang cho chính bản ḿnh trong cuộc sống đời sau.

 

I. Ơn Cứu Chuộc Qua Biến Cố Tử Nạn

Khi nghĩ đến "Cứu Chuộc", bất kỳ ai trong chúng ta cũng rất dễ dàng đặt hai câu hỏi:

1. Cứu từ tay ai ?

2. Chuộc? Chuộc từ tay ai? và Giá là bao nhiêu?

Ở những thế kỷ đầu của Công Giáo, được sự chỉ dạy tận t́nh và tận gốc của các Tông Đồ, các tín hữu trưởng thành rất nhanh về tâm linh. Và khi trưởng thành tâm linh đến một mức độ nào đó, họ đă bắt đầu "cuộc sống thần nghiệm". Họ "đă hỏi", và đă "chiêm nghiệm" rất nhiều về các mầu nhiệm của Thiên Chúa. Cũng v́ thế mà ở các thế kỷ đầu của Giáo Hội Công Giáo, có rất nhiều trường phái Công Giáo, học thuyết mới lạ được đề xướng, phần nhiều đă bị lên án là "Lạc Giáo".

Đứng trước thảm cảnh "thần học" đó, các bậc giáo phụ trong Giáo Hội Công Giáo cũng không ngừng đề xướng các giải thoát thần học, bao gồm:

(a) Học Thuyết Thần Nghiệm [1]

Thánh Irene thành Lyon là đồ đệ của thánh Polycarpe và là đồ tôn của thánh Gioan Tông Đồ. Ngài không trực tiếp trả lời hai câu hỏi thách đố thần học trên (ngài không biết? hoặc ngài không rơ?), mà ngài chỉ đưa ra một kết luận:

- Nhân loại được Tái Sinh nhờ máu Chúa đă đổ trên đồi CanVê. (Adversus Haereses)

Học thuyết thần nghiệm được sự ủng hộ của các thánh Hippôlyte, thánh Athanase, thánh Grégoire de Nysse, vv.

 

(b) Học Thuyết Chuộc Lại [2]  

Học thuyết này do Origenê đề xướng và đă trả lời trực tiếp hai câu hỏi trên của tín hữu:

1. Cứu từ tay ai ?

- Cứu = cứu từ tay Sa Tan

 

2. Chuộc? Chuộc từ tay ai? và Giá là bao nhiêu?

Chuộc cũng từ tay Sa Tan;

và Giá chuộc? - giá chuộc chính là sự tử nạn của Chúa Giê Su; v́ yêu thương, ngài phó nộp thân ngài cho Sa Tan làm giá cứu chuộc

Học thuyết này, theo quan niệm thời nay, nhiều người Công Giáo sẽ cho là "quái dị". Có khi, có kẻ sẽ cho là "Lạc Giáo" hoặc "Rối Đạo". Thực ra, học thuyết này một thời nổi tiếng bởi có sự ủng hộ của các giáo phụ lừng danh: thánh Ambrôxiô (thầy của Augustine), thánh Augustine, và dĩ nhiên là thánh Thomas Aquinas với Summa Theologica, v́ có thể gọi họ là một "bộ ba" có quan hệ thần học và tư tưởng mật thiết tuy sống khác thời.

Ngoài hai học thuyết trên, có thể nói là tồn tại rất nhiều học thuyết khác. Ngày nay, chúng ta dễ dàng nhận thấy đề xướng của các giáo phụ không "thỏa măn" hai câu hỏi trên. Công Đồng Tren Tô vào thế kỷ 16 cũng minh định điều đó. [3]

Trong chúng ta và ở nơi này, dĩ nhiên có những người đă đi đạo lâu năm và có thể trả lời rất dễ dàng câu hỏi kế tiếp:

3. Trong 1/6 số nhân loại đă được "Rửa Tội" và đang ǵn giữ đức tin Công Giáo, có bao nhiêu người trong chúng ta đang sống "đời sống thần nghiệm" với hai câu hỏi trọng thiết như các tín hữu thuở xưa đă làm?

 

II. Ngày Chúa Giê Su Chịu Chết

    Hàng năm, Giáo Hội Công Giáo diễn lại chặng đường Cứu Chuộc và sự Thương Khó của Chúa Giê Su như để nhắn nhủ với chúng ta rằng: Thiên Chúa yêu thương chúng ta hơn chính bản thân ngài, và v́ đó, ngài đă chịu chết để Cứu Chuộc Nhân Loại.

   Nhưng có bao giờ, các bạn đọc t́m thấy một sự khẳng định trong nền giáo dục Công Giáo cho một câu hỏi rất thiết thực: Thiên Chúa đă chết điều ǵ để Cứu Chuộc nhân loại?

- Khi một em nhỏ hỏi đến điều này, chắc chắn sẽ có nhiều người lớn xoa đầu bảo nó: đừng suy nghĩ và đừng hỏi bậy bạ;

             Khi một người Công Giáo trưởng thành hỏi đến điều này, thông thường chỉ quy về ba trường hợp:

-         (i) Anh "rối đạo";

-         (ii) Anh "chống Giáo Hội" hay "chống Chúa";

-         (iii) Anh là con người phàm hèn, không thể hiểu hết Thiên Chúa, không thể hiểu hết "mầu nhiệm ngôi hai Cứu Chuộc".

Có thế thôi, Giáo Dục Công Giáo mấy ngàn năm đă là vậy và là như thế.

Trong thực tế, tuy trong ḍng lịch sử Công Giáo đă tồn tại rất nhiều lời giải thích về Sự Chết và Sự Cứu Chuộc của Chúa Giê Su, giáo hội vốn chưa bao giờ khẳng định một lời giải thích nào là chân chính. [4]

Cũng trong thực tế, nhiều người Công Giáo dễ bất b́nh và trở nên sỗ sàng thay v́ chính họ và người đặt câu hỏi phải cùng nhau t́m hiểu, phải suy tư và phải t́m kiếm cho một lời giải thích, một lối thoát thần học.

Và cứ thế, hàng năm tôi vẫn thường suy niệm về Mầu Nhiệm Ngôi Hai Cứu Chuộc.  Là một người thích t́m ṭi và hay đặt câu hỏi, nói ra th́ sợ các đồng đạo chê cười, hay thậm chí là lên án, chớ tôi thật nhiều khi cũng đă nghĩ thế này:

(i) Ngày Chúa Giê Su chịu chết:

a. Nếu chỉ bản tính nhân loại của ngài chết th́ khó mà có thể gọi là Chúa chết cho thiên hạ? 

- V́ thân xác chỉ là nhục thể, tựa như một bộ y phục rồi cũng sẽ hư mất.  Và nếu ngài chỉ chết và hy sinh có chừng đó th́ tầm thường quá; thế gian đâu có thiếu mẫu người hy sinh cho lư tưởng cao qúy, cho người ḿnh yêu và nhiều khi cũng là cho người không yêu ḿnh tư nào!

b. Nếu bản tính Thiên Chúa cũng chết th́ làm sao có thể gọi là Thiên Chúa hằng hữu và hằng có đời đời? 

-  Ba ngày đó, có một Thiên Chúa Sống, một Thiên Chúa chết hay là có một Thiên Chúa đă chết một phần ba (Chúa Cha vẫn thản niên vuốt rầu cười, trong khi Tháh Thần như cơn gió thoảng bay lang thang!!)?

c. Và tôi cũng thường tự thuyết phục ḿnh rằng: Chúa được định nghĩa là hằng có đời đời th́ ngài có bao giờ lại chết? Cho dù là v́ bất cứ lư do ǵ!

(ii) Con người không thể hiểu hết Thiên Chúa.  Từ nhỏ, tôi lại thường được nhắc nhở bởi lời giải thích này.  Và v́ lẽ đó, hầu như mọi câu hỏi đến lúc gay cấn đều được chặn đứng bởi lời giải thích rất huề tiền: Đó là màu nhiệm, đừng suy nghi lung tung kẻo rối đạo!!!

Cứ mỗi lần tâm sự với ai về những suy tưởng của ḿnh về Thiên Chúa đến đây, tôi cũng phải tự "đạp thắng".  Tự đạp thắng để nhắc nhở chính ḿnh không nên bước ra vùng trời tôn giáo quen thuộc mà thân nhân, gia đ́nh và rất nhiều bạn hữu c̣n tŕu mến gọi đó là: MÀU NHIỆM CỦA ĐẠO CÔNG GIÁO.

Nhưng rồi quanh tôi, ngoài "riêng một góc trời Công Giáo" đó, luôn c̣n có ḍng đời, luôn c̣n có những cái nh́n khắt khe và thực tế:

- Thần học Ki Tô Giáo rơ ràng c̣n chưa trọn vẹn và sau mấy ngàn năm đă lộ rơ NHIỀU KHUYẾT ĐIỂM;

- Thế giới hiện nay chỉ độ 1/6 là người Công Giáo và nhiều khi, con số cũng chẳng nói lên được ǵ.  Con số có thể nói được ǵ nếu phải trừ ra những mánh mung hay những h́nh thức nhiều khi c̣n được gọi là "thủ đoạn kiếm tín đồ".  Và tương lai th́ sao?  chỉ tính số đă đủ thấy Giáo Hội Công Giáo đang "Leo Dốc" mà không c̣n cơ hội "Phát triển và giữ vững" ở nhiều nơi. [5]

Các đồng đạo có thể  rất ngạc nhiên, sửng sốt hay phẫn nộ khi đọc thấy ḍng suy tưởng này của tôi.

 

III.  Tái Sinh

      Những người Ki Tô Giáo ở Mỹ thường hay truyền miệng với nhau rằng: "I believe because it is absurd". - “Tôi tin bởi v́ nó là vô lư” (tạm dịch)

Và v́ thế:

(i) Cho dù Câu Truyện Tạo Dựng trong Thánh Kinh có nhiều nét hư cấu, tôi vẫn tin v́ chả lẽ đất trời tự nhiên mà có?  - Tôi tin bởi v́ nó là vô lư!

(ii) Cho dù ḍng lịch sử Giáo Hội có chứa đựng nhiều sai lầm, nhưng tôi vẫn tin v́ chả lẽ lời tuyên xưng trong kinh Tin Kính: tôi tin có một hội thánh thánh thiện là không đúng? - Tôi tin bởi v́ nó là vô lư!

Ở nơi nhà thờ, nơi hội đường Công Giáo, tuyên xưng "Tôi Tin" dễ lắm;

Ở nơi học đường, hay ngoài xă hội, khi xử dụng "Tôi Tin bởi v́ nó là vô lư" kiểu đó, thiên hạ sẽ cười mà cho rằng:"chỉ là những lời Cuồng Tín".

Ḍng lịch sử Công Giáo chứa đựng nhiều hào quang tôn giáo giả tạm, nhiều lời giải thích về ơn cứu rỗi mang tính hoang đường, và nhiều h́nh thức "TÔI TIN" ai thoạt nh́n cũng biết đó là "CUỒNG TÍN". 

Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thường nghe rằng:

- Nhân loại ngày nay xa rời lương tâm, xa rời giá trị đạo đức, xa rời nhà thờ, và xa rời các giá trị thuộc về Thiên Chúa. [6]

- Giáo Hội Công Giáo giáo điều, bảo thủ, độc tôn và có khi là tàn bạo đang chết dần tại Châu Âu, các nước tiến bộ, và mai này sẽ bị XÓA TÊN. [7]

Và c̣n biết bao nhiêu điều khác nữa.  Thật ra, đâu có lời giải thích nào mang tính cách thần sầu đến thế.

(i) Ngày nay, người Công Giáo ít đi nhà thờ thiệt, nhưng có phải họ có rời xa nhân bản, lương tâm, đạo đức, và quên Chúa là Cha không?  hay là v́ đi nhà thờ cũng chả giúp ích ǵ mấy? và nền giáo dục Công Giáo chả có ǵ hay và đáng lắng nghe?

- Có người bảo rằng:

(ii) Ngày nay, Giáo Hội Công Giáo đang mất dần ảnh hưởng và số giáo dân tại các nước Âu Châu, Nhật Bản, vv., nhưng có phải là Giáo Hội Công Giáo đang lạc bước, ngày càng xa rời các giá trị thuộc về "Thiên Chúa"?

Theo thiển ư,

Nếu chúng ta:

(a)    Không khuyến khích suy tư;

(b)   Không năng động t́m kiếm;

(c) Không sửa đổi để làm sống lại những ǵ đă và đang mất, để cho nền giáo dục Công Giáo được TÁI SINH, th́ có lẽ hai ngàn năm sau: khi một em bé hỏi Chúa đă chết ǵ để Cứu Chuộc Nhân Loại, vẫn c̣n những "người lớn" xoa đầu bảo nó "ĐỪNG HỎI NỮA"!

Nếu chúng ta không tự nhận ra:

(a)    không có chuyện tôn giáo vượt trên đạo đức - "There is no such thing as religion over-riding morality" [8];

(b) không có lời giải thích hoang đường nào mang tính cách thuyết phục; không làm TÁI SINH những điều hợp lư trong Công Giáo, th́ có lẽ hai ngàn năm sau: vẫn c̣n có người rời xa Giáo Hội, vẫn c̣n có ḍng đời và vẫn một lời khắt khe nhất "CUỒNG TÍN".

 

Lời Kết

Ai trong chúng ta c̣n "Mê Say" Thiên Chúa như các thánh, như các tín hữu thuở xưa để sống một "cuộc sống thần nghiệm", suy niệm về các mầu nhiệm của ngài mỗi ngày?

Theo thiển ư,

- Người nào chịu suy tư t́m ṭi, chịu lắng nghe để t́m đến gần Chúa nhất, th́ trên con đường trở lại để "ĐƯA CHÚNG TA VỀ THIÊN QUỐC", người đó sẽ được "CỨU CHUỘC SỚM NHẤT".  Có lẽ thôi, tôi không dám trả lời "Chắc Chắn".  Cũng rất có thể, ngài sẽ thương và cứu chuộc những người xa ngài nhất như ngài đă thương trong ngụ ngôn con chiên lạc.  Vậy cũng tốt, v́ t́nh yêu thương "Thiên Chúa là Cha", chúng ta nên t́m đến gần hơn để cho ngài đỡ nhọc công.

               

Nói tóm lại,

như Thiên Chúa đă tự "thay đổi" để lập thêm Giao Ước Mới

như Thiên Chúa đă tự "biến ḿnh" để nhân loại được thấy "T́nh Yêu Thiên Chúa",

và như thân xác Giê Su đă tự ḿnh "chịu chết" để được TÁI SINH,

           chúng ta luôn phải tự "thay đổi", tự "biến ḿnh", phải tự ḿnh "chịu chết" nơi quan niệm, năo trạng, lối nh́n.. hầu để được "TÁI SINH".

Lời kết luận mà tôi nêu ra chắc chắn vẫn c̣n nhiều giới hạn; giới hạn v́ tôi c̣n chưa hiểu hết Thiên Chúa. Và v́ lời giải thích đó c̣n có giới hạn, tôi vẫn c̣n chưa đủ sức thuyết phục cả những người chịu lắng nghe tôi nói chớ không dám nghĩ đến cả thế giới.  Và nếu tôi không tự ḿnh t́m kiếm Thiên Chúa mà chỉ dừng lại ở "tôi tin" th́ cũng có rất có thể, "Đức Tin" của tôi chỉ là "Cuồng Tín" và c̣n mang nặng tính cách "Hoang Đường"; chẳng biết mai này c̣n có cơ hội "TÁI SINH" hay không?

Trở về Đầu trang

Tài Liệu Tham Khảo

 

[1] CÔNG CUỘC CỨU ĐỘ

Vấn Đề và Mầu Nhiệm - Jean Millet

Hợp Tuyển Thần Học số 35

 

"Học Thuyết Thần Nghiệm ( thánh Irênê)

 

Thánh Irênê (~130-200, giám mục thành Lyon, Pháp) đồ đệ của thánh Polycarpe, và thánh Polycarpe lại là đồ đệ của thánh Gioan Tông đồ; như thế là hăy c̣n rất gần với cội gốc đă đoán biết những khó khăn; chính v́ vậy mà trong cuốn Chống Lạc giáo (Adversus Haereses) ngài đă đặt câu hỏi như sau: Bằng cách nào cái chết của Đức Kitô trên thập giá đă có thể làm cho chúng ta đáng được vào Nước Trời? Câu trả lời của ngài là câu trả lời thuộc loại thần nghiệm. Ngài viện dẫn học thuyết đă nổi danh thời đó của thánh Phaolô nói về việc thâu họp (récapitulation) nhân loại đă được tái sinh trong Đức Kitô. Ngài c̣n cho rằng việc thâu họp đó đă được niêm ấn bằng máu thánh trên đồi Canvê, nhưng lại không nói rơ về các cách thức thể hiện của sự việc ấy. Về sau, luận đề đă được nhiều giáo phụ khác lấy lại, như Hippôlyte, thánh Athanase, thánh Grégoire de Nysse, v.v...

 

Nhưng, theo các nhà b́nh giải th́ luận đề vẫn c̣n nhiều thiếu sót và không rơ ràng đủ. Đau khổ trên đồi Canvê có mang thêm được ǵ cho cuộc tổng thâu họp nhân loại? Sau này, đưa ra nhận xét trong chiều hướng đó, Duns Scot nói rằng: chỉ cần nhập thể, chứ chẳng cần phải chịu đau khổ, th́ Đức Kitô cũng đă có thể hoàn thành công cuộc thâu họp kia; c̣n việc cứu độ thế giới th́ cũng đă có thể được thực hiện chỉ đơn thuần bằng một nguyện ước nội tâm không thôi của Đức Kitô! V́ thế, nhận xét trên đây cần được đào sâu thêm."

 

 

[2] CÔNG CUỘC CỨU ĐỘ

Vấn Đề và Mầu Nhiệm - Jean Millet

Hợp Tuyển Thần Học số 35

 

"Học Thuyết Chuộc Lại

Ôrigênê là người đề xuất học thuyết này, dựa vào ư niệm mua chuộc, lấy từ thông tục mua bán nô lệ thời xưa. Luận đề cho là: V́ tội lỗi, con người đă trở thành nô lệ của Satan. Vậy, theo lẽ đương nhiên, nếu muốn đảm bảo hạnh phúc cho con người, th́ chính Đức Kitô phải chuộc họ lại từ tay Satan. V́ thế, Đức Kitô đă phó nộp cho Satan mạng sống của Ngài làm giá chuộc. Nguôi ḷng và thỏa măn với lễ tế hy sinh của Đức Kitô một lễ tế có giá trị vô biên Satan bằng ḷng để con người được tự do khỏi ṿng nô lệ của nó. Dù có quái dị, luận đề cũng đă được rộng răi phổ biến trong những thế kỷ đầu lịch sử Kitô giáo. Thánh Ambrôxiô tán đồng; thánh Âugutinô lấy làm quan điểm của ḿnh. Cho đến thời Trung Cổ cũng c̣n gặp thấy học thuyết ấy: thánh Tôma Aquinô vẫn nói đến quyền của quỷ dữ trên con người trước khi được Đức Kitô cứu chuộc. [4] "

 

Đành là hấp dẫn đối với trí tưởng tượng con người, nhưng luận đề thiếu hẳn nền tảng thần học cũng như triết học. Quỷ dữ được dành cho quá nhiều quyền hành, mà thực ra, nó cũng chỉ là tạo vật, và phải được coi là như thế. Vậy th́, để nói cho có lư sự, không thể có chuyện trao cho quỷ dữ quyền được đặt điều kiện cho Đấng Tối Cao. Chấp chứa quá nhiều thần thoại và để cho chúng tự do thao túng, lối giải thích này thuộc loại không thể chấp nhận được.

 

 

[3] CÔNG CUỘC CỨU ĐỘ

Vấn Đề và Mầu Nhiệm - Jean Millet

Hợp Tuyển Thần Học số 35

 

"Tất cả những ngập ngừng, những cố gắng giải thích của buổi đầu vẫn tiếp tục hằn rơ nhiều thế kỷ sau, trên nỗ lực nghiên cứu vấn đề. Công đồng Trentô đă nhận là vấn đề chưa được giải quyết. Chính cái chết của Đức Giêsu Kitô đă mang lại ơn cứu độ cho loài người: về điều này không hề có ai nghi ngờ bao giờ. Nhưng là bằng cách nào? Chưa ai biết phải trả lời như thế nào."

 

 

[4] CÔNG CUỘC CỨU ĐỘ

Vấn Đề và Mầu Nhiệm - Jean Millet

Hợp Tuyển Thần Học số 35

        "I - NHỮNG GIẢI THÍCH VỀ VẤN ĐỀ CỨU ĐỘ

Vấn đề này đă được giải thích nhiều suốt trong ḍng lịch sử, và cho đến bây giờ, Giáo Hội vẫn nh́n nhận nhiều cách giải thích khác nhau. Nhưng công thức tín lư th́ lại rất hiếm hoi: điều này cho thấy đó quả là một vấn đề phức tạp, không dễ nghiên cứu. Dẫu sao, ghi lại những cách giải thích nổi tiếng nhất vẫn là việc làm hữu ích, bởi sẽ giúp soi sáng cho các cuộc tranh luận c̣n tiếp tục diễn ra trong cách kiểu thời nay.

Trước hết, nên cùng với tất cả các thần học gia, ghi nhận rằng khác với điều mọi người vẫn tưởng, cho đến nay lịch sử chưa bao giờ thấy được một minh định tín lư nào về chủ đề Cứu Độ. Ai cũng nhận nhận là: các bản tuyên tín liên quan đến vấn đề đều vắn gọn và có tính cách chắp nối từ nhiều mảnh. Và c̣n có thể đi xa hơn nữa để nói rằng: Kinh Thánh không giới thiệu một giáo lư có hệ thống nào về vấn đề Cứu Độ."

                ---------------------------------------------------------------------------

 

[5] (i) LỊCH SỬ GIÁO HỘI CÔNG GIÁO, chuyển dịch "The Compact History of the Catholic Church" của Alan Schreck, www.nguoitinhuu.com

 

“Trong cái nh́n của một Kitô Hữu, thế kỷ hai mươi phải được thẩm định một cách khác biệt. Vào năm 1850, số người theo Kitô Giáo chiếm một nửa dân số thế giới. Vào năm 1950, con số này giảm xuống c̣n một phần ba. Rất có thể vào thập niên 2000, con số này chỉ c̣n một phần sáu, trừ khi làn sóng rao giảng Tin Mừng tái xuất hiện.”

 

(ii) "Vatican: Numbers of European priests fall"
(AP, April 30, 2006)

Vatican City - The number of priests has decreased worldwide in the last quarter-century, with the sharpest fall in Europe - where there are now 20 percent fewer Roman Catholic clerics, the Vatican said.

Experts say the reasons for the drop are complex, but they cite increasing secularization in Europe; some also cite a broader culture that devalues celibacy.

The Vatican, in figures released Saturday, said the number of priests worldwide fell from 420,971 in 1978 to 405,891 in 2004 - a decrease of 3.5 percent. A

Vatican statement called the decline "rather disappointing."

------------------------------------------------------------------

[6](i)  “Công Đồng Vatican II: Văn Kiện Về Sự Tương Giao của Giáo Hội Công Giáo với Thế GiớI (kể cả những người ngoài Kitô Giáo)”,

LỊCH SỬ GIÁO HỘI CÔNG GIÁO, chuyển dịch "The Compact History of the Catholic Church" của Alan Schreck, www.nguoitinhuu.com

“Cũng vậy, cần phải hiểu rằng nhiều khó khăn trong Giáo Hội Công Giáo kể từ Công Đồng Vatican II th́ không dính dáng ǵ đến công đồng, nhưng đó là các khó khăn tạo nên bởi một nền văn hóa ngày càng trần tục và vô thần mà Giáo Hội đang ở trong đó. Thật vậy, nếu không có Công Đồng Vatican II, Giáo Hội Công Giáo sẽ ở vào t́nh trạng tệ hại hơn nữa trong việc đối phó với các thử thách ở bên ngoài Giáo Hội.

Chúng ta hăy tóm lược một số khó khăn phát sinh từ 1965 có thể liên hệ đến Công Đồng Vatican II hoặc do sự hiểu lầm công đồng. Nhiều khó khăn phát sinh v́ đă hiểu sai lầm về điều công đồng dạy bảo về cách cởi mở hoặc tiếp xúc với thế giới hiện đại. Hàng ngàn linh mục và tu sĩ nam nữ đă từ bỏ cộng đoàn của họ chỉ v́ tinh thần truyền giáo và sứ vụ không c̣n ư nghĩa ǵ đối với họ. Họ nghĩ rằng Công Đồng Vatican II khuyến khích họ phải liên hệ nhiều đến thế giới, phải hoạt động như các các sự xă hội ngoài đời, như các tâm lư gia, hoặc những người phục vụ nhu cầu của quần chúng. Nhiều linh mục và tu sĩ hiển nhiên đă không hiểu những ǵ Công Đồng Vatican II nói về căn tính thiêng liêng và sứ vụ của họ, cũng như họ cần được tiếp tục hướng dẫn bởi các bề trên có thẩm quyền trong Giáo Hội.

Một số giám mục dường như lẫn lộn giữa sự dễ dăi với điều công đồng cổ vơ là hăy trở nên vị mục tử đúng nghĩa; họ đă lẫn lộn giữa vai tṛ người cha và mục tử của dân Chúa với việc cho phép người Công Giáo suy nghĩ và hành động bất cứ ǵ họ muốn. Tinh thần thử nghiệm đang lan tràn trong Giáo Hội Công Giáo mà một số giám mục không biết cách kiểm soát thế nào cho đúng.

Trong lănh vực phụng vụ, nhiều người Công Giáo mất đi tính cách thiêng liêng trong sự thờ phượng. Sự tham dự được nhấn mạnh, nhưng nhiều người không c̣n tôn kính sự hiện diện thực sự của Chúa Giêsu. Những thử nghiệm và sáng chế trái phép đă làm khó khăn hơn việc thích nghi với những thay đổi thích đáng mà chính sự thích nghi ấy đă là một thử thách, tỉ như cử hành phụng vụ bằng tiếng bản xứ và chủ tế quay mặt xuống giáo đoàn. Liên hệ đến vấn đề này là nhiều người mất đi sự hiểu biết về Giáo Hội, họ không coi Giáo Hội là mầu nhiệm của công tŕnh và sự hiện diện của Thiên Chúa trong thế giới. Một số người Công Giáo bắt đầu coi Giáo Hội chỉ như một tổ chức của loài người.

Với sự cổ vơ các phương cách tiếp cận mới đối với việc nghiên cứu phúc âm và các lănh vực khác, một số thần học gia và người Công Giáo đă không nh́n thấy vai tṛ của đức giáo hoàng và các giám mục như những người giảng dạy đích thực và duy tŕ đức tin. Nhiều người Công Giáo hoang mang khi một số lư thuyết của các học giả phúc âm đă được tŕnh bầy trong nhà thờ vào ngày Chúa Nhật như một tín điều tuyệt đối. Nhiều người Công Giáo bắt đầu chấp nhận quan điểm của các thần học gia và quay về với họ để t́m sự chỉ đạo. Khi huấn quyền cố gắng sửa đổi điều này, nhiều khi xảy ra sự xung khắc giữa các thần học gia và các giám mục, hoặc giữa các học giả và đức giáo hoàng; một số người Công Giáo bắt đầu coi quan điểm của các học giả có giá trị hơn sự giảng dạy chính thức của Giáo Hội qua đức giáo hoàng và các giám mục.

Liên hệ đến vấn đề trên là sự khủng hoảng trong giáo dục Kitô Giáo, nhất là vấn đề giáo lư. Ở một vài nơi, trẻ em không được dạy các điều căn bản của đức tin chỉ v́ người lớn chống đối các tín điều ấy. Đôi khi, điều được cho là chân lư Công Giáo th́ thực sự chỉ là quan điểm chung của thời đại, tỉ như việc khước từ tội nguyên tổ. Phương pháp dạy và việc làm sáng tỏ các chân lư đôi khi lại che khuất học thuyết đíùch thực và trọn vẹn của Công Giáo.

Sau Công Đồng Vatican II, truyền thống Công Giáo về luân lư quả thực có hư hao, v́ nhiều người Công Giáo giải thích rằng, việc đi vào thế giới hoặc tiếp xúc với thế giới có nghĩa t́m kiếm giá trị đạo lư trong thế giới trần tục. Điều này đă mở cửa cho sự dễ dăi t́nh dục, tách biệt t́nh dục với mục đích sinh sản và vai tṛ làm mẹ, và nhiều giá trị giả dối khác. Sự gia tăng ly dị, ngừa thai nhân tạo, và ngay cả phá thai trong giới Công Giáo -- một điều hiếm hoi cách đây 40 năm trước -- là chứng cớ của sự hư hao về cách sống đạo của người Công Giáo.

Do bởi Tuyên Ngôn về Các Tôn Giáo Ngoài Kitô Giáo, một số người Công Giáo lầm tưởng rằng không cần phải hoán cải người ngoại giáo về với Đức Giêsu Kitô. Cũng thế, một số người Công Giáo Tây Phương tưởng được khuyến khích t́m về các tôn giáo khác để có được sự chỉ đạo, và họ thâu nhận h́nh thức cầu nguyện của các tôn giáo ấy như thể đức tin và linh đạo Công Giáo một cách nào đó chưa đầy đủ hay chưa thích đáng.”

 

 (ii)   “Tục Hóa Và Nhu Cầu Tôn Giáo",  Tông huấn NGƯỜI TÍN HỮU GIÁO DÂN (Christifideles Laici), ĐGH Gioan Phaolô II

“4. Làm sao chúng ta không nghĩ đến t́nh trạng lănh đạm đối với tôn giáo đang phổ biến không ngừng và thuyết vô thần ở dưới nhiều h́nh thức khác nhau, nhất là dưới h́nh thức rất phổ thông là phong trào tục hóa? Con người say mê theo những cuộc chinh phục ngợp trời của khoa học, kỹ thuật tung hoành không giới hạn, và nhất là lâng lâng theo chước cám dỗ, một chước cám dỗ vừa rất cũ nhưng vẫn luôn mới, là muốn đặt ḿnh ngang hàng với Thiên Chúa (Gn. 3,5) bằng việc xử dụng tự do của ḿnh một cách bừa băi. Con người như thế đă tụ ư chặt đứt căn rễ sâu xa tôn giáo của ḿnh. Họ đă bỏ quean Thiên Chúa, cho là Thiên Chúa không có một ư nghĩa ǵ đối với cuộc sống của họ, hoặc chối bỏ Ngài để sấp ḿnh thờ lạy đủ mọi thứ "tà thần".

 

Chủ thuyết tục hóa hiện tại, là một hiện tượng rất nghiêm trọng. Không những nó làm tổn thương đến cá nhân, nhưng c̣n đến cả những cộng đồng, như Công Đồng đă ghi: "Nhiều đoàn lũ ngày càng đông đảo xa rời tôn giáo trong đời sống thực tế" (8). Chính Ta cũng đă nhiều lần nhắc nhở, hiện tượng tục hóa đă đánh ngă nhiều dân tộc có truyền thống Công Giáo rất xa xưa, và hiện tượng này đ̣i hỏi phải cấp tốc có một tổ chức truyền giáo mới.

 

Nhưng, ước vọng và nhu cầu tôn giáo không thể hoàn toàn mai một. Lương tâm mỗi người khi họ có can đảm đương đầu với những vấn nạn về ư nghĩa cuộc sống, ư nghĩa đau khổ và sự chết, họ không thể ngần ngại kêu lên như thánh Agustinô: "Lạy Chúa, Chúa đă dựng nên con cho Chúa, v́ thế tâm hồn con không thể an nghỉ cho đến khi được an nghỉ trong Chúa" (9). Như vậy, thế giới hôm nay, dưới nhiều h́nh thức ngày càng phổ biến, ngày càng linh động, họ làm chứng rằng con người đang mở mắt nhận ra cuộc sống có cái ǵ thiêng liêng và siêu việt, trở về với ư thức thần thánh qua việc cầu nguyện, và đ̣i hỏi tự do kêu cầu danh Chúa.”

 

 

(iii) Italy - International Religious Freedom Report 2004
Released by the Bureau of Democracy, Human Rights, and Labor

U.S. Department of State - http://www.state.gov/g/drl/rls/irf/2004/35462.htm

 

“Section I. Religious Demography

The country has a total area of 116,347 square miles, and its population is approximately 57 million. An estimated 87 percent of native-born citizens are nominally Roman Catholics, but only 20 percent regularly participate in worship services.”

 

 

(iv) Brazil - International Religious Freedom Report 2005
Released by the Bureau of Democracy, Human Rights, and Labor

U.S. Department of State - http://www.state.gov/g/drl/rls/irf/2004/35462.htm

 

“Section I. Religious Demography

The country has an area of 3,287,673 square miles, and its population is approximately 182 million. Nearly all major religions and religious organizations are present in the country. Many citizens worship in more than one church or participate in the rituals of more than one religion. The 2000 census indicated that approximately 74 percent of the population identify themselves as Roman Catholic, although only a small percentage regularly attend Mass.”

 

 

(v) Poland - International Religious Freedom Report 2005
Released by the Bureau of Democracy, Human Rights, and Labor

U.S. Department of State - http://www.state.gov/g/drl/rls/irf/2004/35462.htm

 

Section I. Religious Demography

The country has an area of 120,725 square miles, and its population is an estimated 39 million. More than 96 percent of citizens are identified as Roman Catholic; however, Eastern Orthodox, Greek Catholic, and much smaller Protestant, Jewish, and Muslim congregations meet freely.

According to the 2004 Annual Statistical Yearbook of Poland, the following figures represent the formal membership of the listed religious groups but not the actual number of persons in those religious communities; for example, the actual number of Jews is estimated at between 20,000 and 30,000, while the formal membership of the Union of Jewish Communities totals only 2,500. The Yearbook estimated that there are 34,294,521 baptized Roman Catholics; 509,100 Orthodox Church members; 82,000 Greek Catholics; 126,573 Jehovah's Witnesses; 79,050 Lutherans (Augsburg Confession); 24,025 Old Catholic Mariavits; 21,299 members of the Polish Catholic Church; 20,571 Pentecostals; 9,487 Seventh-day Adventists; 4,627 Baptists; 5,114 members of the New Apostolic Church; 110 members of Muslim associations; 910 Hare Krishnas; 4,400 Methodists; 2,800 members of the Church of Christ; 3,563 Lutherans (Reformed); 2,353 Catholic Mariavits; and 1,199 members of the Church of Jesus Christ of Latter-day Saints (Mormons). Each of these religious groups has a relationship with the State governed by either legislation or treaty, with the exception of Jehovah's Witnesses, the New Apostolic Church, the Church of Krishna Consciousness (Hare Krishna), and the Church of Christ.

A 2003 public opinion poll indicates that the attitude of Poles toward religion is little changed from the last polling, conducted in 2001. Approximately 57 percent of citizens actively participate in religious ceremonies at least once per week. Nine percent of respondents declared that they have no contact with the Roman Catholic Church, an estimated 34 percent declared that they attend church irregularly or sporadically, and approximately 2 percent declared themselves to be nonbelievers. The survey also found women to be more religious than men, with 65 percent of the former attending church regularly, compared with 48 percent of the latter. There was a slight (3 percent) decrease in the number of Poles identifying themselves with the Roman Catholic Church and an identical increase in the number of those reporting they prefer to "believe in their own way."

 

 

[7] (i) Holy Father Laments "Dying" Church in West

Some thoughts from our new Pope... Pope Laments 'Dying' Churches in West

By NICOLE WINFIELD, Associated Press Writer Thu Jul 28, 1:00 PM ET

 

"Benedict also touched on another his favorite themes: the state of the church in Europe. He said in contrast to the developing world, where there is a "springtime of faith," the West was "a world that is tired of its own culture, a world that has arrived at a time in which therés no more evidence of the need for God, much less Christ, and in which it seems that man alone can make himself.

 

"This is certainly a suffering linked, Íd say, to our time, in which generally one sees that the great churches appear to be dying," he said, mentioning Australia, Europe and the United States."

 

 

(ii) "Spain will 'not be a Catholic country in 20 years'",
("Expatica," April 05, 2006)
 Madrid, Spain - For the first time ever, a majority of young Spaniards said they did not consider themselves Catholics, according to a new survey.

 

The survey, by the Fundacion Santa Maria, said many felt a mounting distrust of the the Roman Catholic Church and growing disbelief in God, the Spanish daily El Pais reported.

The authors of the survey said its results indicate that within a generation Spain will no longer be a Catholic country, as this generation's children will not be brought up as believers.

-------------------------------------------------------

 

[8] "As soon as we lose the moral basis, we cease to be religious. There is no such thing as religion over-riding morality. Man, for instance, cannot be untruthful, cruel or incontinent and claim to have God on his side".  - Mahatma Gandhi

 

Trở về Đầu trang

 

 

 

 

LUÂN HỒI

MỘT CHUYẾN RONG CHƠI KỲ THÚ…

 

Phan Tâm Huy

 

Lời ṭa soạn: Tâm Huy, một Phật tử trẻ, đă nh́n Luân hồi như một chuyến rong chơi kỳ thú. V́ Tâm Huy đón nhận cái chết như là một trạm dừng cuối sân ga, để từ đó khởi hành một chuyến phiêu lưu học hỏi thêm nhiều kinh nghiệm sống trước khi đi tới bến bờ giác ngộ. Vậy, đứng trước cái chết, chúng ta, người công giáo có thái độ như thế nào? Đó là chia ly tang thương sầu khổ?  Đó là ngày trời đất chuyển rung và ḷng người kinh khủng hỗn lọan?  Đó là ngày thịnh nộ sầu oán, đắng cay? Hay đó cũng giống như lúc con thuyền không gian phải rũ bỏ các tầng dưới nặng nề của thân xác để cuối cùng chỉ c̣n khoang điều hành tâm hồn nhẹ nhàng bay theo quỹ đạo t́nh yêu Thiên Chúa trong một vũ vụ mênh mông không bờ bến?

 

 

I.  Câu Chuyện Trường Sinh Bất Tử…

 

Nếu có ai đă từng đọc qua lịch sử Trung Quốc, chắc là sẽ không quên câu chuyện đặc biệt về Tần Thủy Hoàng. Khi đạt đến đỉnh cao của tham vọng, vị hoàng đế này v́ khao khát trường sinh bất tử, cho nên ông phái một v́ quan mang năm trăm người vượt biển t́m thuốc trường sinh bất tử cho ông. Suốt quảng đời c̣n lại, ông luôn nghĩ đến cái chết lúc nào cũng cận kề. Ông t́m đủ mọi cách, kể cả uống loại y dược có chứa chất thủy ngân do một ngự y dâng cho ông. V́ loại y dược độc hại này và v́ sự sợ hăi tột cùng của ông, suốt cuộc đời c̣n lại, ông đă sống những chuỗi ngày cực kỳ khốn khổ. Khi đọc câu chuyện này về ông, tôi ngạc nhiên tự hỏi, một hoàng đế, ngôi cao tột đỉnh danh vọng như ông, chỉ v́ tham sống sự chết này mà ông đă tự chết dần chết ṃn trong những chuỗi ngày mà đáng lư ông phải sống thật vui vẽ, và tận hưởng những ǵ mà ông có, nhưng thật là đáng tiếc…

Tần Thủy Hoàng đă đau khổ tột đỉnh v́ ông biết ông không thể thoát nào được đôi bàn tay lông lá của tử thần. Không một ai thoát được, v́ vậy, mọi người đều mơ tưởng đến sự sống đời đời sau sự chết. Một quá tŕnh tham ái của băn ngă. Nhân loại ai cũng tham sống sợ chết. Tôi tự hỏi, với tuổi thọ một trăm năm, nhân loại c̣n than van là chưa đủ, nếu họ có cơ hội sống một ngh́n năm, nếu Thượng Đế ban cho họ cơ hội thọ ngang với trời đất như ngài Bàn Cổ, họ có đủ thoả măn hay không? Khát vọng này sẽ luôn quẫn quanh. Nhân loại sẽ không bao giờ biết được rằng, nếu một trăm năm không đủ…th́ dù họ có sống đời đời cũng không ích lợi ǵ. Họ sẽ làm ǵ với một sự sống đời đời? Họ sẽ sống ra sao đây với những chuỗi ngày dài đăng đẳng khi họ biết rằng tử thần sẽ không bao giờ t́m đến? Nếu có một sự sống đời đời thực sự, họ chỉ có ăn, ngủ và thụ hưởng ḥai như vậy th́ linh hồn của họ có tê bại đến chết dần chết ṃn hay không? Có bao nhiêu người trên quả đất này muốn kéo lê một cuộc đời như vậy?

Nếu chúng ta có thuốc trường sinh bất tử, hăy tưởng tượng lúc đó trái đất sẽ ra sao? Con người sẽ tràn ngập địa cầu. Không loài vật và cây cối nào có thể sinh tồn v́ tất cả loài vật và cây cối đều biến thành thực phẩm. Trái đất sẽ khô cằn v́ không có một ai chết.  Thuốc men sẽ không đủ. Con người sẽ sống dật dờ bởi họ muốn chết mà họ không thể nào chết. Hăy tưởng tượng đến vấn nạn của hiện tại, với tốc độ tỷ lệ giữa số người chết và số người được sinh ra mỗi ngày, chúng ta c̣n phải đương đầu với nạn nhân măn. Nếu có sự bất diệt trên trái đất, con người sẽ tràn ngập vũ trụ, kể cả ḷng biển để có đủ nơi sinh tồn. Thế giới ngày nay gần như trong nguy cơ bị huỷ diệt với những vũ khí hạt nhân do con người sáng tạo dù tuổi thọ của họ không quá một trăm năm. Hăy tưởng tượng nếu con người có tiềm năng không bao giờ chết. Thế giới lúc đó sẽ không có lấy một ngày yên vui, và vũ trụ của chúng ta sẽ biến thành một nơi điên loạn…tràn ngập những con người không biết sợ hăi. Biển xanh sẽ dậy sóng, các ngôi sao sẽ không được yên thân, bởi con người phải t́m đủ mọi cách để chinh phục vũ trụ để họ và con cái họ có nơi chốn để dung thân.  

 Lúc tôi đọc báo, có đọc qua về những con người giầu có. Họ sống thừa thăi đến nỗi họ không c̣n thiết sống nữa. Đời sống của họ trở nên quá vô vị. C̣n có một số người tự kết liễu đời ḿnh v́ họ không chịu đựng nỗi kiếp sống khốn khổ này. Nếu con người có một đời sống trường tồn, họ có chịu đựng nỗi sự buồn chán hay không? Có một số người đă thắng lottery, họ có sung sướng măn nguyện hay không? Loài người không bao giờ biết thoả măn. Con người là một động vật không bao giờ chấm dứt mọi khát vọng. Thỉnh thoảng, tôi có gặp một vài người bạn. Họ than thở với tôi là họ quá chán nản với đời sống này. Họ nghe nói sống đến một trăm năm là họ sợ hăi rồi. Họ nói với tôi, chỉ cần trời cao cho họ sống đến bảy chục (Nhân Sinh Thất Thập Cổ Lai Hy) th́ họ cũng cảm thấy là may mắn lắm rồi. Nếu sống lâu hơn một trăm tuổi, họ sẽ làm ǵ với một thân thể già nua? Họ không muốn sống què quặt với quảng đời c̣n lại của họ. Họ muốn có một cuộc sống nhiều sinh lực, nhiều hào hứng và lợi ích hơn là họ phải kéo dài ḥai một cuộc đời vô nghĩa…như Tom Hank, trong phim “The Green Mile” Bạn bè của ông đều qua đời  hết. V́ ông được ân hưởng phép lạ, cho nên ông đă kéo dài sự sống của ông với một chú chuột cũng già nua như ông. Ông chỉ muốn được chết, nhưng ông lại không thể nào chết được. Nếu Thượng Đế mà ban cho ông sự chết, chắc là ông sẽ mừng rỡ lắm. Nhất định là ông sẽ vội vă đón nhận ngay đặc ân này.

   

II.   Sự Chết: Hành Tŕnh Không Biên Giới…

 

Có lẽ chúng ta đă từng đọc qua về cái chết dũng cảm của nhà hiền triết Socrates. Lúc người hầu mang đến cho ông ly có chứa nước cốt cây Cigué đến cho ông. Ông uống cạn. Vẻ mặt b́nh thản, ông nằm xuống. Các học tṛ của ông bao quanh than khóc. Ông an ủi họ. “Tạ sao các con phải khóc? Các con phải vui mừng mới phải chứ? Ta sắp được thay đổi một nơi cư trú khác. Ta sắp được thay đổi một đời sống khác. Ta đang cầu nguyện. Ta rất là vui mừng đón chờ thần chết đến t́m ta. Ta biết ông sẽ đón chờ ta trong sự hân hoan.” Ông đă nhắm mắt lại. Ông nằm yên lặng để tận hưởng cái chết đang gần tới. Ông thầm th́, “Chân phải của ta tê cứng từ ngón chân rồi. Coi ḱa, hơi lạnh lan dần lên đến đùi. Ta đang thưởng thức nó. Chân trái của ta cũng như vậy. Ta đang cảm giác hơi lạnh đang thấm dần trong cơ thể của ta. À, c̣n tay trái của ta nữa ḱa. Tay phải cũng như vậy. Thật là thích thú quá. Th́ ra cái chết là như vậy. Ahhh..mặt của ta cũng đang bắt đầu tê cứng. “ Rồi đột nhiên ông mở mắt ra, nh́n một người đệ tử và dặn, “Con ơi. Ta có mắc nợ một con gà của người hàng xóm. Ta quên trả. Con nhớ trả muốn nợ này cho ta nghe không?” Sau đó, ông mĩm cười và nói tiếp. “Lưỡi của ta đă tê cứng rồi. Ta không…nói…đượợc nữa…Ta…điiiii đâaaay…” và ông nhắm đôi mắt lại, b́nh thản mỉm cười ra đi…

Quả là một kinh nghiệm vĩ đại! Socrates đă kinh nghiệm sự chết bằng tất cả một thái độ tự tại của ông. Ông không phản kháng v́ ông biết rằng ai cũng phải chết? Sự chết cũng là một kinh nghiệm như bao nhiêu sự kiện mà ông đă kinh nghiệm qua trong cuộc đời ông, kể cả kinh nghiệm có một người vợ dữ dằn hơn Sư Tử Hà Đông J. Mọi người đều thà chết hơn là họ có một người vợ như ông đă có, Một phụ nữ vốn không xem ông ra ǵ. Ông tự tại đón nhận cả thau nước mà bà tạt vào mặt ông, cũng thản nhiên như lúc tử thần t́m đến với ông. Tôi cho rằng Thượng Đế cũng đang mỉm cười với ông. Chắc ngài cũng rất là thích thú với con người lạ lùng này. Ít ra, cũng có một người hiểu được sự nhân từ của ngài. Th́ ra là vậy. Sự sống đời đời…ai cũng muốn có sự sống đời đời, nhưng mấy ai hiểu rằng Thượng Đế muốn họ phải kinh nghiệm sự sống của họ bằng một thái độ như thái độ của Socrates? Ngài muốn họ khám phá hạnh phúc thật sự của họ. Nếu không, th́ ngài đă không từng nhắn nhủ là Thiên đường vốn ngay trong họ. Thiên đường khởi sự từ đây…Không có ǵ kỳ thú hơn…khi nhân loại tự ḿnh kinh nghiệm tất cả mọi sự biến chuyễn của vũ trụ, của nhân sinh quan qua trái tim tràn đầy yêu thương của họ, của kể cả cái gọi là sinh lăo bệnh tử. Một kinh nghiệm trực tiếp trong thế giới này ngoài sự chờ đón, ngoài sự dự liệu của họ…Một hành tŕnh không biên giới để họ có thể cảm nhận họ là một con người, rất là con người với đủ loại cảm thọ, với bao nhiêu kinh nghiệm thăng trầm của một đời người...

Qua những biến động của cuộc sống, con người vươn lên cao trong sự thăng hoa, với trí tuệ siêu việt hơn, với trái tim rộng mở hơn, và với một sự biết ơn hơn với những ǵ mà vũ trụ đă ban cho họ. Có trăi qua đau khổ, nhân loại mới có thể cảm nhận nỗi đau khổ của bao nhiêu người khác. Có kề cận cái chết, họ mới thấu hiểu được sự nhỏ bé của họ trước một vũ trụ quá huyền diệu. Có đối diện với sinh lăo bệnh tử, họ mới cảm nhận được mọi sự mà họ có đều là vô thường, kể cả xác thân này. Bao nhiêu thứ góp nhặt trong trần thế, giũ tay một chốc biến thành không. Cuộc đời như một chuyến du hành trên đoạn đường ngắn ngủi rồi đột ngột chấm dứt, không biết được ngày giờ nào. Với sự sống ngắn ngủi này, có những bài học nhân loại cần phải học hỏi. Nếu không học hỏi được những bài học mà kiếp trước họ đă dỡ dang, họ phải đầu thai kiếp khác để tiếp tục học hỏi.

Thí dụ như câu chuyện của một người đàn ông mà tôi có đọc qua đâu đó. Trong một kiếp, ông là một con người không có ḷng mẫn cảm với mọi người chung quanh ông. Khi đối diện với sự chết, ông cực kỳ hối hận. Ông cầu nguyện cho ông kiếp sau được học bài học yêu thương này. Với tâm thức này, ông đă chọn lựa cho ông một kiếp như ư. Chính v́ vậy, qua một kiếp sau, ông phải lưu lạc làm thân nữ để ông biết được t́nh yêu là ǵ. Trong sự sống của một người nữ, ông có thể cảm nhận được t́nh yêu không điều kiện của một người mẹ đối với con cái của ḿnh. Trong thân thể của một người nữ, ông sát cánh bên người chồng với bao nhiêu sự hy sinh mà ông sẵn sàng trao cho mà ḷng không một chút đ̣i hỏi phải trả lại. Ông kinh nghiệm t́nh yêu đó qua sự mẫn cảm tận cùng trong nhịp đập  của trái tim của một người mà trong một kiếp đă lỡ làng bài học yêu thương.

Như Socrates, có lẽ ông thấu triệt sự kiện đó khi người vợ của ông không ngừng sỉ nhục ông. Có lẽ nhờ bà, ông đă trở thành một vĩ nhân, một hiền triết của mọi thời đại. Sự chết của ông mang đến cho con người hiện đại một sự kinh ngạc vô biên ở một thái độ tự tại an nhiên. Vâng, ông đă sống…Ông không một chút ngần ngại học hỏi mọi kinh nghiệm mà sự sống đă ban cho ông…kể cả đón nhận thần chết với nụ cười trên môi khi ông điềm nhiên làm một chuyến du hành ngàn đời vào cơi thiên thu…

 

 

III.   Sinh Tử: Con Đường Của Muôn Thử Thách…

 

Chắc là đến đây, bạn cho rằng nếu chết bằng thuốc độc như Socrates th́ thật là dễ dàng quá, có nhiều người chết c̣n thảm khốc hơn nữa. Vâng, có một cái chết vô cùng thảm khốc như cái chết của Mansoor. Một câu chuyện nữa…Có một đạo sư Ấn Độ kể về Mansoor. H́nh như Mansoor là một nhà tiên tri th́ phải. Cái chết của ông thật là kinh khủng. Chính quyền lúc đó hành h́nh ông c̣n vô nhân đạo hơn cả lúc Đức Chúa Giê Su bị hành h́nh. Người đồ tể được lệnh phải chặt tay chân ông. Người này phải móc mắt của ông ra. Cơ thể của ông bị cắt từng mảnh nhỏ khi ông dám tuyên bố ông là Thánh, đại diện cho Thượng Đế. Khi Mansoor bị hành h́nh, ông đă cười những tràng cười dài làm cho các đao phủ cũng phải ngạc nhiên. Các đao phủ đă tức ḿnh hỏi, “Ngươi chắc là bị điên rồi. Tại sao ngươi lại cười? Có chuyện để đáng cho ngươ cười hay sao?” Ông trả lời. “Ta cười v́ ngươi trừng phạt một kẻ khác mà không phải ta. Thân thể này không thuộc về ta. Ngươi không thể nào trừng phạt ngôi nhà của người phạm tội. Tại sao ngươi lại chặt tay chân của ta? Tại sao ngươi lại trừng phạt không phải chính ta mà ngôi nhà của ta vậy? Ta không phải chỉ có cười ngươi. Ta cười Thượng Đế! Ta cười ngài v́ ta có thể nhận diện được ngài dù ngài có hiện thân qua h́nh thể của một tên đồ tể để thử thách ta. Ngài muốn thử xem ta có thừa nhận ngài hay không? Ta thật là hân hoan. Dù thế nào đi nữa, ta vẫn kính yêu ngài, và vẫn đón nhận ngài với sự trừng phạt kinh khủng này.”

     Cuối cùng, họ cắt lưỡi ông. Đến giây phút cuối, ông vẫn cười ngạo nghễ. Đối với ông, cái chết là một tṛ đùa, một tṛ chơi mà Thượng Đế thử thách ông. Mansoor kinh nghiệm sự hành h́nh tàn bạo mà tâm không một măy may giao động. Ông đă vượt trên sự chết...với những tràng cười không dứt trên môi. Ông đón nhận mọi kinh nghiệm của sự sống trong sự tự tại thản nhiên lúc ông trực diện mọi ḥa hợp lẫn đối lập. Ông đă vượt trên thế giới Nhị nguyên. Ông nh́n thấy sự sống lẫn tử thần là một mà không phải là hai…Cả hai đều đồng nhất thể. Đối với ông, mọi sự xảy ra đều là thử thách của Thượng Đế. Mansoor đón nhận thử thách đó. Ông đă cười ngạo nghễ với Thượng Đế, khi ngài hiện ra với nhiều h́nh thể khác nhau để thử thách ông, như ngài đă hiện thân qua h́nh thể của những người gây cho ông bao sự đau khổ, kể cả qua h́nh thể của một đồ tể đang cắt thân thể của ông ra từng mảnh nhỏ.

Con người th́ không có được tinh thần của Mansoor. Nếu có ai làm cho họ giận dữ, lập tức họ sẽ thù người này đến muôn vạn kiếp. Thay v́ ch́a má phải cho người ta tát sau khi bị tát lần thứ nhất, họ nhất định phải tát kẻ đó lại ngay. Chẳng những họ không tát người đó một tát mà thôi, họ phải làm cho người đó thân bại danh liệt mới thôi. Nếu ai làm điều ǵ phật ḷng họ, họ sẽ rũa người đó bị đày xuống hỏa ngục đời đời. Hỏa ngục đời đời? Tội lỗi ǵ mà nặng nề vậy, ng̣ai tội lỗi làm phật ḷng họ? Con người cho rằng họ đang làm vậy v́ công lư, v́ Chân lư. Thế nào là Chân lư?  Ai có thể tự ḿnh đại diện cho Chân lư? Mọi sự sát phạt trong thế giới nẩy sinh qua tâm, qua sự thiếu suy niệm quán sát từ tâm, từ cơi Thiên đường bên trong. Làm sao con người không thể xem đó là tiếng gọi  của Thượng Đế? Mọi nghịch cảnh là Thượng Đế mang lại thử thách cho họ, qua h́nh thể của những con người chung quanh. Những kẻ thù càng đối nghịch với con người càng nhiều, có nghĩa  là sự thử thách của họ càng lớn. Tôi cho rằng Thượng Đế không bao giờ thử thách những ǵ ngoài sự chịu đựng của con người. Ngài đă thử thách Mansoor như vậy v́ ngài biết Mansoor có đủ sức để chịu đựng. Ông đă học hỏi bài học cuối cùng của ông khi đối diện trước một thử thách kinh khủng này. C̣n nhân loại th́ sao? Mỗi ngày qua, có những thử thách mà họ đối diện, vậy họ có vượt qua nổi hay không? Đa số đều vượt qua không nổi. Khi nào chưa học được những sự thử thách này, họ sẽ vẫn c̣n măi học hỏi cho đến khi nào họ chứng nghiệm mới  thôi.   Vậy hăy thử làm Mansoor một lần! Hăy thử cười ngạo nghễ trước mọi nghịch cảnh của trần gian với một ḷng biết ơn chân thành…và nên xem chúng là những thử thách mà Thượng Đế muốn họ phải vượt qua…Hăy xem những con người chống báng họ là một Thượng Đế đang ẩn mặt để thử thách họ! Nếu họ vượt qua được, như Mansoor đă vượt qua, họ đă thấy được Thượng Đế rồi…

 

 

IV.  Đối Diện Với Điều Bất Khả Tri…

 

     Một câu chuyện cuối cùng… Có một du tăng trở về nhà sau một chuyến đi xa. Tin đứa con trai của ông đă chết đă làm cho ông sửng sốt. Ông đau khổ gần như điên loạn. Người du tăng vội vă chạy thật nhanh về làng, thanh gươm rung rẩy trên tay ông. Lúc ông đến đầu làng, đám tang đang đi ngang qua. Vị Thiền sư, thầy của ông đi bên cạnh quan tài. Nh́n thấy quan tài nhỏ bé, với đôi mắt gần như nhuốm lệ, không chịu đựng được nữa, ông đưa thật nhanh lưỡi gươm ngay cổ vị Thiền sư này và hét lớn, “Thầy hăy cho con một lời đi! Con rất yêu thương đứa con trai này của con. Thầy hăy giúp con nhận thức nỗi đau của sự sinh ly tử biệt này. Làm sao con có thể vượt trên vấn nạn này đây? Vậy thầy hăy cho con một lời đi?” Vị Thiền sư điềm tỉnh nh́n người môn đồ tội nghiệp của ngài. Bất th́nh ĺnh, ngài mở bung nắp quan tài ra. Ngài nói, âm thanh tràn đầy sự xót thương, “Như con đă thấy đó. Ta đă không hề dấu con bất cứ một điều ǵ.” Trong một khoảnh khắc, vị du tăng sửng sốt.. Người con trai nhỏ mười tuổi của ông đang nằm trong quan tài, khuôn mặt của đứa con trai ông vẫn c̣n hiển lộ đầy sự ngây thơ…Một đứa bé tuổi c̣n hồn nhiên, vẫn chưa trăi qua những hệ lụy cuồng điên của cuộc sống, bây giờ nằm trong quan tài lanh lẽo…..

Qua giây phút chấn động, người du tăng thả thanh gươm xuống, ông nh́n vị Thiền sư một giây rồi ngậm ngùi trả lời, “Th́ ra là như vậy. Th́ ra là như vậy.” Nỗi đau như bộc lộ hết trong ông. Ông đă nhận thức khi nh́n thấy đứa con nhỏ của ông trong quan tài. Đúng rồi, thầy của ông đă không hề dấu ông một điều ǵ. Ngài đă dạy cho ông biết thế nào là sự sống, và bây giờ ngài dạy cho ông thấy luôn cả sự chết. Ông nhận thức được sự tham ái của ông. Sự chết không chừa một ai. Dù giàu có hay nghèo hèn, dù quyền quí hoặc thấp kém, dù là cỏ cây, loài vật hoặc con người, dù là tinh tú kể cả quả địa cầu này, tử thần có thể đến bất cứ lúc nào. Nỗi đau khổ của ông không liên hệ ǵ đến sự chết lẫn sự sống…v́ nó chính là thực tại. Vị Thiền sư có thể bị sát hại bất cứ lúc nào dưới lưỡi gươm của ông trong cơn đau khổ gần như xé nát tâm can, nhưng vị thầy này, một lần nữa, đă không dấu ông bất cứ điều ǵ. Một lần nữa, ngài dạy cho ông cách phải đối diện với sự chết. Khi tâm của ông bị che lấp bởi sân si hỉ nộ ái ố, ông không c̣n nhận thức được rằng, tử sanh là việc không thể tránh được. Ông chỉ lo gắn bó với cảm thọ của ông. Ông không nhận chân được đến khi vị thầy đă cho ông học một bài học trực tiếp…về tử thần… cũng như về sự sống…về sự thành-trụ-hoại-không (Xuất hiện – phát triển – hủy họai – trở về hư vô) của vạn hữu....

Tôi cho là Thượng Đế rất nhân từ. Ngài hiểu con người. V́ vậy, ngài giới hạn con người cho họ được sống một trăm năm. Trong một trăm năm đó, nếu họ biết sống th́ cũng kể như quá đủ. Không một ai muốn mặc một chiếc củ kỹ cho đến mục nát luôn mà không được mặc một chiếc áo mới khác. Chính bản thân tôi cũng vậy. Tôi sẽ nhàm chán rất lẹ. Tôi không muốn mang ḥai một thân xác này, cũng một khuôn mặt như vậy, cũng một thân thể như vậy, cũng một đời sống như vậy. Nếu tôi có một cuộc sống đời đời như vậy, không sớm th́ muộn, tôi sẽ hết muốn…sống…v́ chán… Luân hồi cho tôi có cơ hội được thay đi khuôn mặt này, thay đi h́nh thể này. Cho tôi có cơ hội là một người đại phú giầu có trong một kiếp, và nghèo khó trong một kiếp khác, hoặc là tôi có cơ hội được làm cỏ cây, sỏi đá, từ cây xanh cho đến kiếp người. Đây là một cuộc dạo chơi kỳ thú. Một đời sống bất diệt đời đời với biết bao nhiêu kinh nghiệm mà tôi trăi qua trong ṿng quay luân hồi này. Nếu tôi muốn chấm dứt sự sống luân hồi không ngừng nghĩ này, tôi có thể tu hành để giải thoát…và tôi có thể tự chọn cho ḿnh một con đường để vượt qua bến bờ của bên kia, hay là tôi có thể tự tại trong thế giới này để có thể giúp đỡ những chúng sinh đang khốn khổ. Làm sao tôi có thể chối từ một cuộc rong chơi quá hào hứng? Làm sao mà tôi có thể muốn sống đời đời khi tôi có được cơ hội kinh nghiệm hết tất cả mọi kinh nghiệm trong vũ trụ này, trước khi tôi muốn đạt được giải thoát, vượt qua bến bờ bên kia của Giác ngộ? Tôi không muốn chỉ có một kinh nghiệm trong một kiếp sống trường cữu. Như vậy, măi măi, tôi sẽ không học hỏi được ǵ mới. Măi măi, tôi chỉ là một chiếc bóng kéo lê cuộc đời thừa thăi trong vũ trụ vô biên giới…mà đáng lư ra, tôi phải sống trong một ân huệ sống, cũng như tôi sẽ chết trong một ân huệ được chết. Một thế giới lưỡng nguyên cực kỳ vi diệu. Nếu thế giới này thiếu vắng bóng dáng của tử thần, tôi không biết con người sẽ ra sao. Họ phải vui mừng th́ đúng hơn…v́ có thần chết lăng văng đùa giỡn với họ từng phút, từng giờ, từng ngày qua.

Con người sẽ làm ǵ nếu họ biết tất cả? Con người sẽ làm ǵ khi họ được sự sống đời đời ở kiếp hiện tại hay là kể cả Thiên đường mai sau? Chẳng lẽ họ chỉ muốn sống tự tại mỗi ngày qua trong cơi Thiên đường qua sự che chở của Thượng Đế ḥai sao ? Tôi cho đó là vị kỷ.  Sự sống đời đời chỉ dành cho những con người ích kỹ. Họ chỉ biết thụ hưởng qua ân huệ của Thượng Đế. C̣n bao nhiêu người không được ơn phước đó th́ sao? C̣n bao nhiêu con người đau khổ, và vạn vật đang chờ đón họ dưới cơi trần thế th́ sao? Nếu Đức Chúa Giê Su muốn có sự sống đời đời, chắc là ngài không phải mất công đi xuống trần gian để chịu khổ nạn. Nếu có sự sống đời đời, họ sẽ làm ǵ với những tháng ngày qua trên Thiên đường vậy? Thiên đường không phải là nơi chốn tích tụ những con người ích kỹ, mà là nơi tích tụ những con người đă vượt qua tất cả các bài học và mọi kinh nghiệm của thế gian, kể cả bài học t́nh yêu mà họ đă chia xẻ cho nhân loại dưới trần thế này. Tôi cho rằng, nếu Mẹ Teresa được Thượng Đế ban cho bà sự sống đời đời trên cơi Thiên đường, chắc chắn bà sẽ chối từ ngay. Bà sẽ yêu cầu ngài cho bà được tái sinh trong thế gian không phải chỉ một lần, mà nhiều lần, để bà có cơ hội để phục vụ tha nhân, và để bà có được cơ hội ban phát t́nh thương đến những con người không được may mắn như bà, những con người vẫn c̣n ch́m đắm trong hệ lụy của chính tâm trí của họ, những con người luôn luôn đau khổ. Bà sẽ yêu cầu Thượng Đế như vậy. Tôi chắc chắn là Mẹ Teresa sẽ từ chối ân huệ này.

 

 

V.  Kết Luận

 

      Tôi kể cho bạn nghe bốn câu chuyện trên. Để bạn thấy rằng, đừng t́m kiếm Thượng Đế để chỉ đ̣i hỏi phúc lạc. Hăy đón nhận mọi sự mà ngài ban cho bạn, hạnh phúc lẫn đau khổ, sự sống lẫn sự chết, và mọi đắng cay lẫn nhục nhằn. Làm sao chúng ta có thể hạnh phúc khi tâm thức chúng ta đ̣i hỏi quá nhiều thứ? Làm sao chúng ta có thể hạnh phúc khi tâm thức của chúng ta tràn đầy thống khổ? Dù Thượng Đế có ban cho chúng ta biết bao nhiêu ân huệ, chúng ta không thấy được, bởi chúng ta đang đ̣i hỏi những ǵ mà chính chúng ta cũng không thể nhận thức, như đ̣i hỏi một sự sống đời đời? Làm sao chúng ta có thể sống đời đời khi sự sống trong hiện tại, chúng ta đă không sống cho thật trọn vẹn, cho đầy đủ? Làm sao chúng ta có thể sống một cuộc sống trên Thiên đường khi ngay trong cơi hiện tại, chúng ta không nhận thức là chúng ta đang tận hưởng biết bao ân huệ mà tạo hóa đang mang đến cho chúng ta? Nếu vậy, dù chúng ta có được sống trong Thiên đường, dù chúng ta có tất cả những cung vàng điện ngọc, dù chúng ta có tất cả,  chúng ta vẫn than văn…bởi trái tim của chúng ta là một vực sâu không đáy. Làm sao mà Thượng Đế có thể làm cho chúng ta thoả măn tất cả khi chúng ta vẫn luôn đ̣i hỏi, hơn là chúng ta cần nên sống với hiện tại. với chính trái tim nhân ái của ḿnh??? Trên chuyến du hành của một đời người, sự sống là một tuyệt tác, nhưng sự chết, tử thần là một phần cuối cùng để hoàn thành bức họa phẩm tuyệt vời đó. Luân hồi là những họa phẩm không ngừng được sáng tạo do kinh nghiệm, do tâm hồn của một con người đang du hành qua nó, trên nó…và không ngừng tận hưởng nó…

     Đây mới là tặng phẩm thật sự từ Thượng Đế, qua ngài, một SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI…

Trở về Đầu trang