Tâm Linh Vào Đời

 

  

Số 16 Ngày 19.05.2006
 

  Li Gii Thiu

 

Tâm Linh Vào Đời trân trọng giớ thiệu Linh mục giáo sư Nguyễn Trọng Viễn với bài

Những Căn Bệnh Trầm Kha: Đạo Sinh Hoạt

Chắc chắc sẽ lưu lại trong ḷng độc giả ít nhiều suy tư dù lả giáo sĩ hay giáo dân.

Phụ họa cho làn sóng tư tưởng trên, qua bài Giáo ḥang Biển Đưc XVI Bảo thủ hay Cấp tiến,Linh Giao cũng gợi cho chúng ta một lối nh́n về Giáo hộ cơ chế và Giáo hội nhiệm thể.

Cuối cùng Lung Linh xin phác thảo một vài nét về Phục sinh hay Tái sinh?

Théo Ánh mắt Tâm Linh.

Tâm linh Vào đời dành một gó nhỏ bé tâm t́h đới độc giả trong mục

Cùng nhau khám phá trong tinh thần hiệp thông

 

 

Những căn bệnh trầm kha

trong đời sống đức Tin Công giáo

tại Việt Nam

 

 

Nguyễn Trọng Viễn O.P.

 

Ngỏ . . .

 

Tôi nghe kể : có một người kia, rất giầu có và có những 18 bà vợ. Mỗi bà đều có cơ ngơi riêng, cuộc sống tương đối an nhàn. Khi gần qua đời, ông ta tin vào Chúa, theo đạo Công giáo và được rửa tội. . .

Khi nghe câu chuyện ấy, một người Công giáo đă thốt lên ngay : ông này hên thật ! được cả đời này lẫn đời sau !

Những nhận định kiểu như thế chúng ta có thể thấy khá nhiều. Nếu chúng ta thêm vào nhận định ấy một vế thứ hai, hoàn toàn hợp lư, chúng ta sẽ phải nói: những người Công giáo “đạo gốc” đă không được “hên” như thế, v́ họ phải biết đạo sớm, phải lo giữ đạo cả một cuộc đời mà chẳng chắc có được lên thiên đàng hay không.

Điều ấy cho thấy khá rơ hiện trạng đời sống đức Tin của người Kitô hữu Việt Nam : đạo không phải là một hồng phúc, nhưng là một gánh nặng, một gánh nặng phải mang vác để đổi lấy cuộc sống thiên đàng mai sau.

Quả thật, nói chung, những cộng đoàn Kitô giáo vẫn chưa có mấy dấu hiệu khá lên về đời sống bác ái; tổ chức quản trị trong Giáo hội ít biểu lộ một thái độ tôn trọng tín hữu, nhất là những người bé mọn; sinh hoạt trong Giáo hội ít triển nở thành thái độ có tâm huyết với cuộc đời …

Trong nhân cách Kitô hữu, nói chung, chúng ta cũng ít thấy biểu lộ một sự trưởng thành và triển nở phong phú v́ được làm con cái Chúa; tâm hồn người Kitô hữu ít có sự b́nh an và hạnh phúc; thái độ người Kitô hữu ít diễn tả được sự tự do của con cái Chúa, nhưng thường là một thái độ dúm dó, sợ hăi, nệ luật, lách luật, h́nh thức, ấu trĩ

Tóm lại, người ta không thấy dấu hiệu một đời sống sung măn của một người được Chúa kêu gọi : “Phần Tôi, Tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào” [Ga 10,10];

Và ta cũng không thấy rơ dấu chứng mà Đức Giêsu nêu lên như nét đặc trưng của cộng đoàn môn đệ Chúa : “Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy : là anh em có ḷng yêu thương nhau” [Ga 13,35].

Từ những triệu chứng “lâm sàng” như thế, chúng ta c̣n có thể khám phá ra nhiều căn bệnh trong đời sống đức Tin Kitô giáo, và đó là những căn bệnh rất nặng. Tôi thường dùng từ “đạo” để diễn tả những căn bệnh ấy.

Từ “đạo“ ở đây được dùng để chỉ một thứ nguyên lư chi phối toàn bộ đời sống, ảnh hưởng trên tất cả hay hầu hết các lănh vực.

Theo tôi, hiện nay, đời sống đức Tin trong Giáo hội Công giáo Việt Nam, ít nhất, có những căn bệnh trầm kha như : “đạo” sinh hoạt, “đạo” kính sợ, “đạo” luân lư, “đạo” thiêng liêng và “đạo” thực dụng. Ngoài ra, chúng ta c̣n có thể kể đến những căn bệnh “nhẹ” khác : bệnh sáo ngữ, bệnh h́nh thức, bệnh đoàn lũ, bệnh chủ quan nơi tầng lớp giáo sĩ . . .

 

Làm thế nào để người Kitô hữu có được sự gặp gỡ cá vị với Đức Giêsu nhiều hơn, chứ không chỉ tham dự sinh hoạt tôn giáo ?

Làm thế nào để người Kitô hữu nhận ra một Đức Giêsu là Bạn và là người Anh, là Đấng có thể chia sẻ cả những yếu đuối và tội lỗi của ḿnh ?

Làm thế nào để người Kitô hữu t́m thấy niềm vui chân thật chứ không phải chỉ c̣ng lưng “đóng thuế” cho một thế giới thiêng liêng nào đó ?

Làm thế nào để người Kitô hữu nhận được t́nh thương cứu độ của Chúa Giêsu chứ không phải chỉ là nỗ lực luân lư nhằm tu sửa một cách khó nhọc?

Làm thế nào để người Kitô hữu gặp gỡ được chính Chúa và được biến đổi chứ không phải chỉ xoay sở và thu gom những công phúc cho cá nhân ?

Làm thế nào để thái độ trung tín với một Đức Giêsu Kitô chịu chết và Phục sinh cũng chính là lời loan báo Tin Mừng như một giải pháp cho cuộc sống nhân sinh hôm nay ?          

Những câu hỏi ấy thực sự là một thách đố cho Giáo hội Việt Nam, hiện tại và trong những năm sắp tới[1].

***

Điều chắc chắn là mọi cái nh́n “vơ đũa cả nắm” đều không trung thực. Liệu chừng những hiện tượng tiêu cực được tŕnh bày trong những suy tư dưới đây đúng được bao nhiêu phần trăm ? Câu trả lời chắc chắn sẽ rất khác biệt tùy theo từng người và tùy vào từng năo trạng.

Dù sao, xin được một lần nói lên. . .

 


 

 

 

“Đạo sinh hoạt”

 

Tổ chức chặt chẽ và sinh hoạt rầm rộ, đó chính là nét nổi bật nhất trong khuôn mặt của Giáo hội Công giáo. Ở đâu có người Công giáo, ở đó có nhà thờ, có giờ kinh giờ lễ, có ban bệ tổ chức… Có lẽ cũng có những người bên ngoài thầm thán phục và muốn áp dụng phương thức này cho các tổ chức, đoàn thể hoặc tôn giáo của họ. Thật sự không ai có thể chối rằng những tổ chức và sinh hoạt như thế đă góp phần làm cho đời sống đức Tin được nuôi dưỡng và tăng trưởng. Tuy nhiên, chính nét ưu điểm ấy lại hàm chứa những nguy cơ sâu xa, nhất là khi nó trở thành một thứ “đạo”, một thứ nguyên lư chi phối toàn bộ đời sống đức Tin chân thực của Giáo hội.

Nhiều Kitô hữu, cho đến hiện nay, vẫn chỉ sống đạo theo kiểu gắn đời ḿnh vào cỗ xe của những sinh hoạt trong giáo xứ hay đoàn thể. Họ tranh luận và bàn căi sôi nổi với nhau về cách thức tổ chức, nhưng lại không một chút bận tâm cá nhân về chính đức Tin của ḿnh, đức Tin thể hiện trong thái độ của cá nhân khi gặp những hoàn cảnh phức tạp, đức Tin khi chọn một giải pháp cho cuộc sống, đức Tin khi chấp nhận Thánh ư Chúa trong cuộc đời của chính ḿnh.

Chúng ta có thể thấy rơ thứ đạo sinh hoạt này trong nhiều xứ đạo, nhất là những xứ đạo di cư và đặc biệt là trong những xứ đạo lâu năm không có linh mục. Điều mà một thời người ta cho là sự vững chắc của đức Tin, thật ra, phần lớn chỉ là sự “vững chắc” của những tổ chức sinh hoạt mà không có bao nhiêu ḷng tin cá vị vào Thiên Chúa và đón nhận muối men của Tin Mừng trong chính tâm hồn, cũng như thể hiện trong thái cử hằng ngày.

 

1. Thử truy t́m nguồn gốc
1.1 Đức Tin trong thời kỳ "Kitô giới"

Ở Tây phương, thời kỳ Trung cổ được gọi là thời đại "Kitô giới" [chrétienté], nghĩa là thời đại mà ảnh hưởng Kitô giáo tràn ngập trong mọi ngơ ngách, mọi lănh vực. Trong xă hội ấy, văn hoá và sinh hoạt Kitô giáo được tổ chức và sắp xếp để bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào người Kitô hữu cũng thấy ḿnh nằm trong thế giới của tôn giáo. Tính chất tôn giáo hiển hiện rơ rệt và tạo nên một "cái khung"; không những là khung cảnh, nhưng c̣n là một khuôn khổ có khuynh hướng trở nên tiêu chuẩn duy nhất của một đời sống đạo tốt đẹp. Quan niệm chung chung trong tâm thức người Kitô hữu khi ấy là : sinh hoạt càng sầm uất th́ đời sống đạo càng phong phú và sốt sắng…

Trong cái khung ấy, nhiều Kitô hữu sống đức Tin bằng cách tham dự các sinh hoạt tôn giáo; c̣n giữ đạo nghĩa là c̣n tham dự các sinh hoạt đạo; giữ đạo sốt sắng nghĩa là tham dự nhiều sinh hoạt tôn giáo. Hơn nữa, nhiều khi cái khung ấy c̣n thay thế cho tâm t́nh tôn giáo đích thực, thay thế cho niềm tin như một sự gắn bó cá vị với Chúa và thể hiện những giá trị đích thực của Tin Mừng. Trong khuôn khổ ấy, người ta cảm thấy không đọc kinh sáng tối, không làm dấu trước khi ăn, không kiêng thịt ngày thứ Sáu . . . là phạm tội, nhưng lại không thấy áy náy chút ǵ cả khi thể hiện một lối sống và thái độ trái ngược với Tin Mừng của Chúa.

1.2 Kinh nghiệm về đời sống đức Tin trong thời tục hoá

Thế nhưng, khởi từ thế kỷ XVI, trào lưu tục hoá xuất hiện và cứ lớn mạnh lên dần, lớn mạnh theo đà phát triển của các khoa học thực nghiệm, các môn học đời, các nghệ thuật đời; những trào lưu ấy dần dần xâm lấn vào mảnh đất của tôn giáo trước đây. Sau cùng, trào lưu tục hoá thể hiện qua các biến cố chính trị và trở thành những biến cố làm rung chuyển vị thế Giáo hội. Cách mạng Pháp 1789 là một biến cố mở màn cho một tiến tŕnh giới hạn hoặc loại trừ các sinh hoạt tôn giáo. Dần dần người ta đi đến khái niệm phân biệt rơ ràng đạo và đời.

Ban đầu các vị giáo hoàng và những vị hữu trách trong Giáo hội t́m mọi cách để phục hồi vị thế thống lănh trước đây của ḿnh; t́m cách tái xây dựng một xă hội "Kitô giới" càng giống với "thời hoàng kim" của ḿnh bao nhiêu càng tốt, các h́nh thức của ḷng sùng mộ công cộng được khuyến khích phát triển : đọc kinh liên gia, tổ chức những đoàn hội theo nghề nghiệp, theo giới, thành lập những hội từ thiện… Tuy nhiên, những nỗ lực ban đầu ấy vẫn chỉ nhằm mục đích xây dựng lại "cái khung" Kitô giới trước đây.

Dần dần, các vị giáo hoàng cũng nhận ra được rằng không thể quay ngược ḍng lịch sử; trào lưu tục hoá ngày càng lớn mạnh và hầu như không có ǵ ngăn cản nổi. Thế rồi, từ khoảng cuối thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX, những tưởng chừng như đe dọa phá hủy đời sống Kitô giáo như thế lại là một cơ may để nhiều Kitô hữu t́m lại ư nghĩa, giá trị đích thực của niềm tin[2].

Khi phải đối diện với những giá trị và những cám dỗ trần thế, đức Tin của người Kitô hữu bị cật vấn và một số Kitô hữu lại khao khát t́m hiểu sâu xa hơn niềm Tin của ḿnh. Bị quăng vào một xă hội trần tục, nhiều Kitô hữu, giờ đây, mới cảm thấy nhu cầu sống đức Tin chân chính, thuần khiết của Kitô giáo. Trước nhu cầu tự biện minh và làm chứng cho Đức Tin giữa xă hội trần tục, nhiều Kitô hữu nhận ra ư nghĩa đời sống đức Tin và trách nhiệm thể hiện niềm tin của ḿnh bằng những ǵ cơ bản bản nhất của Kitô giáo, đó là ḷng bác ái, ḷng Tin, Cậy, Mến trong cuộc sống hằng ngày, chứ không phải bằng cách đấu tranh để thiết lập một thế giới Kitô giáo như xưa nữa. Ư thức mới này thực sự là một luồng gió của Thánh Thần để mở ra nhiều cuộc canh tân tốt đẹp[3] : canh tân ư thức đức Tin, canh tân sinh hoạt phụng vụ và canh tân ư thức tông đồ. Đức Tin trở thành một nhu cầu thật của cuộc sống và chính nhu cầu ấy lại góp phần canh tân tổ chức phụng vụ...

Khi đời sống đạo chỉ là nếp sinh hoạt th́ phụng vụ chỉ c̣n là một việc phải làm để giữ đạo; nỗ lực của phụng vụ chỉ là làm sao cho người tín hữu tham dự cách sinh động và sốt sắng lúc cử hành nghi thức. Ngược lại, khi đức Tin trở thành một nhu cầu thật, phụng vụ mới trở nên nguồn mạch và là nơi người giáo dân t́m đến để kín múc chất liệu cần thiết cho cuộc sống của ḿnh. Rồi việc canh tân phụng vụ lại thúc đẩy những nỗ lực canh tân cách giải thích Kinh Thánh và nhiều lănh vực khác.

1.3 T́m nguyên nhân rạn nứt trong Giáo hội Việt Nam

H́nh như đời sống Kitô giáo ở Việt Nam, được truyền bá từ Tây phương vào thế kỷ XVI, vẫn c̣n giữ nguyên bầu khí của thời Trung cổ Tây phương. Trong một thời gian dài, người Kitô hữu Việt Nam thường tụ tập lại thành xóm đạo và đời sống có phần đóng kín trong những sinh hoạt của làng xóm.... Mọi sinh hoạt, đạo và đời, thường được tổ chức một cách kỹ lưỡng và bao trùm hết đời sống. Đời sống đức Tin của mỗi người, do đó, vẫn c̣n được tháp nhập vào sinh hoạt đạo đức trong giáo xứ và vẫn "chạy" trong quĩ đạo của những tổ chức tôn giáo.

Thế nhưng ngày nay, đặc biệt trong thời kinh tế thị trường, người Kitô hữu không c̣n đóng kín sinh hoạt của ḿnh trong các xóm, xứ đạo. Không gian sinh hoạt hằng ngày mở rộng tới các sinh hoạt đời, trong một thế giới trần tục; bầu khí "văn hoá" của người Kitô hữu không c̣n thuần khiết tôn giáo. Chính trong giai đoạn này, ta thấy khuôn khổ đời sống đạo của người Kitô hữu Việt Nam có nhiều dấu vết rạn nứt, đặc biệt trong những xứ đạo vốn có truyền thống sinh hoạt tôn giáo sầm uất. Một số Kitô hữu sống xa ảnh hưởng của sinh hoạt tôn giáo, cả về không gian lẫn 'văn hoá", và cảm thấy ư nghĩa tôn giáo phai lạt dần. Một số đông hơn vẫn tham dự các sinh hoạt tôn giáo nhưng chỉ quan niệm giữ đạo là giữ sinh hoạt đạo như trước đây; sinh hoạt đạo là những nghĩa vụ phải chu toàn, những đ̣i buộc, theo thói quen lâu đời của truyền thống gia đ́nh, của giáo xứ. Do đó, khi đời sống xă hội có nhiều sinh hoạt khác cần thiết và hấp dẫn hơn, họ bắt đầu thấy sinh hoạt tôn giáo là một điều vướng víu, nặng nề và muốn từ bỏ. Cũng có một số ít Kitô hữu dần dần khám phá ra nhu cầu đức Tin trong đời sống của ḿnh, đức Tin như là dưỡng chất cho tâm hồn và là ánh sáng soi chiếu cho những giải pháp trong cuộc sống của ḿnh.

Tuy nhiên, nếu đời sống đức Tin vẫn được quan niệm, chủ yếu, chỉ như là những sinh hoạt tôn giáo, chiếm một khoảng không gian và thời gian nhất định, nó sẽ đứng vào vị thế đối đầu và cạnh tranh với các sinh hoạt khác, một sự cạnh tranh "không khoan nhượng".

Phải chăng, với nền kinh tế thị trường tại Việt Nam, Giáo hội Việt Nam cũng đang phải đấu tranh với một trào lưu tục hoá ? Liệu chừng sinh hoạt của Giáo hội Việt Nam vẫn có thể tiếp tục cuộc đối đầu trong thế mạnh với các sinh hoạt và nhu cầu trần thế đang càng ngày càng gia tăng ?

Trước những câu hỏi ấy, chúng ta phải tự hỏi xem "thế mạnh" của Kitô giáo nằm ở đâu ? Kinh nghiệm về việc khám phá lại đời sống đức tin trong lịch sử Giáo hội có thể hữu ích cho việc canh tân đời sống Kitô hữu tại Việt Nam hiện nay không ?

 

2. Thử nhận định về hiện trạng Giáo hội Việt Nam
1. Một đời sống đạo dựa dẫm vào nếp sinh hoạt

Nhiều người Kitô hữu và một số chức sắc ngoại quốc đă từng trầm trồ về nét sinh hoạt sầm uất của Giáo hội Công giáo Việt Nam. Cho tới hiện nay, bước vào thiên niên kỷ thứ III, chúng ta vẫn tương đối an tâm khi nh́n vào các nhà thờ trong giờ lễ, khi nh́n thấy đông đảo tín hữu, nhất là giới trẻ, trong các dịp tĩnh tâm; chúng ta cũng ngạc nhiên khi thấy vẫn c̣n, và ra như càng ngày càng nhiều hơn, những chuỗi người xếp hàng dài chờ xưng tội…

Tuy nhiên, trong ḷng những tổ chức và sinh hoạt ấy, đời sống đức Tin có tính chất cá vị h́nh như lại khá yếu kém. Các nhà thờ của chúng ta thường đông người trong những giờ có tổ chức sinh hoạt phụng vụ, nhưng lại vắng hoe khi không có tổ chức nào. Ta thấy rất ít những người đến với Chúa một cách hoàn toàn tự nguyện và xuất phát từ nhu cầu đức Tin trong cuộc đời. Người ta chỉ đến với Chúa v́ lề luật, v́ sinh hoạt hoặc để xin vài ơn cụ thể nào đó.

Tổ chức giáo xứ của chúng ta có những ban bệ khá vững chắc, nhưng lại không thể hiện được bao nhiêu cách sống thấm nhuần Tin Mừng. Nhiều giáo xứ, nhất là những giáo xứ lâu năm không có linh mục, vẫn tổ chức các sinh hoạt đạo sầm uất : làm hang đá, rước kiệu, táng xác Chúa, cờ xí, chuông trống, áo xống, ngắm nguyện. . . Thế nhưng, ngay trong chính những sinh hoạt đạo ấy, người ta lại có thể đấu đá nhau sát ván bằng những phương thức không có một chút men Tin Mừng nào, ngay cả bằng những phương thức xă hội đen.

Nhiều người sinh hoạt lâu năm trong hội đoàn, nhiều em sinh hoạt một thời gian dài trong nhóm giúp lễ, nhưng khi hết hội đoàn, rời bỏ nhóm, th́ tâm hồn cũng chẳng c̣n một chút ǵ là giá trị đạo. Nhiều trường hợp các em lại c̣n hư hỏng thêm do “gần chùa gọi bụt bằng anh”, hoặc do việc kết bè kết nhóm khi sinh hoạt hội đoàn. Nguyên do cũng chỉ v́ sinh hoạt trở thành “đạo”, thành nguyên lư; và hết sinh hoạt, th́ đạo cũng hết.

2. Một đời sống đạo chỉ qui chiếu vào luật lệ

Cung cách sống đạo của phần lớn Kitô hữu hiện nay là cố gắng chu toàn các giới răn của Chúa. Đời sống đức Tin được qui định bằng luật lệ, được diễn giải thành những hành vi cụ thể : làm dấu, đọc kinh, xưng tội, sinh hoạt mùa Vọng, mùa Chay, kiêng thịt, ăn chay…

Có lẽ nhiều "chức sắc" trong Giáo hội vẫn đặt người tín hữu vào vị thế như những giáo dân thời Trung Cổ, nghĩa là coi họ như những Kitô hữu ít học và cần những hướng dẫn tỉ mỉ, rơ ràng để giữ luật bằng cách chu toàn những việc cụ thể. Điều ấy ngày nay lại có nghĩa là dùng phương thức của trẻ con để giáo huấn những người lớn :

 Kiêng thịt chứ không phải là tự nguyện có một chút hy sinh; ăn chay nghĩa là "một bữa no hai bữa đói" và có thể "mất chay" nếu lỡ ăn bất cứ điều ǵ ngoài ba bữa chính, chứ không phải là một hành vi nói lên ḷng khao khát Chúa;

Đi lễ Chúa Nhật thế nào cho "thành sự" chứ không phải kín múc nguồn mạch sức sống cho cuộc sống thường ngày;

Làm dấu trước bữa ăn thay v́ một tâm t́nh tạ ơn….

Trong những nếp qui định ấy, có khá nhiều Kitô hữu hiện nay rơ ràng đă không sống được một tâm thức của đức Tin chân chính. Người Kitô hữu cố gắng giữ luật để khỏi phạm tội chứ ít hiểu rằng giữ luật là một sự tín trung với Chúa; người Kitô hữu đi lễ như một trách nhiệm phải chu toàn chứ không sống tinh thần hiệp thông với cộng đoàn để tạ ơn Chúa; nhiều bạn trẻ tránh tội v́ sợ Chúa phạt, nên khi lỡ phạm một tội trọng [chẳng hạn bỏ lễ Chúa Nhật] th́ chọn lập trường "cùi không sợ lở", “chơi luôn”. . . cho đến khi xưng tội lại. Nhiều người rất sốt sắng trong việc nhà đạo, nhưng không sống một chút giá trị ḷng thương yêu và tôn trọng những người bé mọn, sự cảm thông, tha thứ, cái nh́n của đức Tin siêu nhiên… Do đó, chúng ta thấy nhiều người Kitô tính toán chi tiết để khỏi vi phạm luật, nhưng không hề thấy lỗi lầm của ḿnh trong những việc không thấy ghi rơ các các giới răn, chẳng hạn làm cho những người chung quanh phải khổ…

3. Đánh giá giáo sĩ và tu sĩ qua sinh hoạt

Trong Giáo hội Việt Nam, những tổ chức và sinh hoạt đạo phần lớn gắn liền với một "tầng lớp", giáo sĩ và tu sĩ. Trong tâm thức người Kitô hữu Việt Nam, có thể nói, sự hiện diện của tầng lớp này chính là "linh hồn" của Giáo hội.

Tuy nhiên, giáo dân thường cần tới giáo sĩ và tu sĩ như là những người đáp ứng các sinh hoạt chứ không phải đáp ứng nhu cầu đức Tin. Những địa phương, những tổ chức và sinh hoạt được các giáo sĩ và tu sĩ đảm nhận th́ sinh hoạt phát triển. Uy tín và tầm quan trọng của giáo sĩ và tu sĩ rơ ràng cũng được đánh giá dựa theo tiêu chuẩn này. Rất nhiều bạn trẻ đi tu v́ thích những hoạt động của giáo sĩ hoặc tu sĩ chứ không phải v́ nét đẹp của người rao giảng Tin Mừng. Giáo sĩ và tu sĩ được coi như là những người có địa vị trong tổ chức Giáo hội, “có việc làm” trong “ban bệ” tổ chức sinh hoạt của Giáo hội.

Nhiều bạn trẻ đi tu để t́m một vị thế trong tổ chức và để thể hiện ḿnh trong những sinh hoạt của Giáo hội. Linh mục vốn được trọng dụng hơn các tu sĩ, bởi v́ linh mục có vị thế quan trọng hơn trong các tổ chức và sinh hoạt; tu sĩ có khả năng hoạt động có vẻ như vẫn "hợp thời" hơn những tu sĩ sống tinh thần Tin Mừng cách âm thầm… Như thế chúng ta cũng hiểu tại sao người Việt Nam thích đi tu làm linh mục nhiều hơn, thích các ḍng hoạt động nhiều hơn, và thường đánh giá một giáo sĩ hay tu sĩ theo khả năng tổ chức và sinh hoạt chứ không phải trong ư nghĩa đời sống đức Tin và giá trị Tin Mừng. Bạn trẻ có thể quư mến một tu sĩ coi cổng thật nhân ái, nhưng vẫn thích làm linh mục để xuất hiện trước cộng đoàn.

4. Giáo sĩ và tu sĩ khẳng định ḿnh trong sinh hoạt

Giới giáo sĩ và tu sĩ Việt Nam đang có rất nhiều nỗ lực để canh tân sinh hoạt tôn giáo. Giáo hội Việt Nam, nói chung, vẫn c̣n khá nhiều ơn gọi và vẫn c̣n một lực lượng giáo sĩ, tu sĩ tương đối trẻ, năng động, để có thể xoay sở trong những sinh hoạt tôn giáo nhằm thu hút sự tham gia của người Kitô hữu. Quả thật, hiện nay, chính những nỗ lực sáng tạo, đổi mới h́nh thái sinh hoạt tôn giáo cho hấp dẫn hơn, sinh động hơn, đang là sức mạnh chính yếu để giữ ǵn nếp sống đạo trong Giáo hội Việt Nam.

Tuy nhiên, trong bầu không khí chung của một thứ “đạo sinh hoạt”, phần lớn giáo sĩ và tu sĩ có lẽ cũng không thoát được tâm thức chung. Khả năng khẳng định ḿnh trong sinh hoạt Giáo hội đă trở thành “giá trị” lớn trong ḷng Giáo hội Việt Nam và chính "giá trị" ấy đang tác động sâu xa trong mọi lănh vực, cả trong ư nghĩa ơn gọi.

Do đó, tầng lớp giáo sĩ và tu sĩ nhận thấy trách nhiệm chính yếu của ḿnh là đảm nhận những tổ chức và sinh hoạt trong Giáo hội; và ngầm hiểu rằng điều làm nên “sức sống” của Giáo hội Việt Nam cũng chính là những sinh hoạt và tổ chức sầm uất… Nhiều giáo sĩ và tu sĩ bận tâm chuẩn bị những "kỹ năng" cần thiết trong sinh hoạt của Giáo hội nhiều hơn là bận tâm sống giá trị Tin Mừng. Nhiều giáo sĩ và tu sĩ nỗ lực làm cho tổ chức phụng vụ được hấp dẫn và lôi cuốn chứ không mấy ưu tư cần làm ǵ để nuôi dưỡng đức Tin chân chính và thật sự loan báo Tin Mừng cứu độ.

Chính v́ thế, sinh hoạt và tổ chức trong Giáo hội Công giáo được củng cố vững chắc hơn mọi tôn giáo khác, nhưng phẩm chất đời sống đích thực của người Kitô hữu thể hiện trong cuộc sống hằng ngày có lẽ cũng chẳng hơn ai.

Mặt khác, chúng ta thấy không hiếm những tu sĩ, giáo sĩ, trong vai tṛ, trách nhiệm của ḿnh, đă hết ḿnh khuyên nhủ, dạy dỗ người giáo dân những điều hay lẽ phải; nhưng khi lọt ra khỏi vị thế và trách nhiệm của ḿnh, trong một hoàn cảnh khác hoặc sống một vị thế khác, th́ lại ứng xử một cách khá "tự nhiên" như bất cứ một người nào khác, những cách ứng xử không biểu lộ một chút nào tinh thần của Tin Mừng. Cũng như với các người sinh hoạt trong hội đoàn, một tu sĩ bỏ ơn gọi, thường thường, chẳng mấy chốc cũng trở lại một con người hết sức b́nh thường và tầm thường như mọi người khác.

5. Bệnh sáo ngữ

Quĩ đạo sinh hoạt c̣n lôi kéo theo nhiều căn bệnh khác trong đời sống Giáo hội : bệnh h́nh thức và nguy hiểm hơn là “bệnh sáo ngữ”. Nhiều linh mục tu sĩ phải cố gắng trau dồi kỹ năng giảng thuyết, chủ yếu, để khẳng định ḿnh trong sinh hoạt. Kỹ năng ấy dĩ nhiên là cần thiết; nhưng ta cũng thấy có khá nhiều điều được nói trên toà giảng chỉ là những sáo ngữ, những điều mà người nói đă học được, đă cố suy nghĩ để có cái mà nói, đă trau chuốt để thêm hấp dẫn; nhưng tự thâm tâm cũng không biết rằng người nghe có thể sống được điều ấy không, hoặc chính người nói cũng chẳng bao giờ cố gắng một chút để sống điều ḿnh nói

Bệnh sáo ngữ làm cho những điều được nói trở thành ngôn từ thuần túy hoặc tư tưởng thuần túy. Những điều ấy thường cũng được giáo dân đón nhận theo cung cách “sáo”, giảng vui hay giảng buồn, hấp dẫn hay nhàm chán. Không có một thái độ tự chủ để nhận định, không có thái độ chân thành để lắng nghe lời mời gọi của Tin Mừng cho chính ḿnh, th́ cũng không có nét “sáng tạo”, một sự sáng tạo b́nh thường, xuất phát từ sự gặp gỡ thực sự giữa lời ngỏ đặc thù của Chúa và cá nhân đặc thù của bản thân. Những lời nói như thế không có được cái hồn, biểu lộ trong một lối nh́n riêng, một vài ngôn từ riêng, một khía cạnh cảm nhận riêng. Những ngôn từ ấy không có “cá tính” nhưng là những sản phẩm đúc khuôn, sản phẩm nhái. Chính v́ thế, những lời giáo huấn cũng không đến được với tâm hồn thính giả, mà chỉ loanh quanh trong một lô sáo ngữ quen thuộc và không làm chứng được một sức sống của Lời Chúa. Chính “đạo sinh hoạt” là môi trường nuôi dưỡng và củng cố thái độ sáo ngữ. Do vậy, người ta c̣n thấy rất nhiều những lời cám ơn, những lời chào đón, giới thiệu, những lời chia buồn, chia vui trong dịp tang ma hiếu hỷ đầy những sáo ngữ.

Mặt khác, nhiều giáo huấn của những người có trách nhiệm trong Giáo hội được suy diễn từ nếp sống của ḿnh chứ không phải từ nền tảng đời sống Kitô hữu đích thực, biến bài giảng thành những giáo huấn luân lư và kỷ luật, dựa theo nếp sống của giới tu sĩ và linh mục. Nhiều khi lời giảng của linh mục có khuynh hướng lôi kéo người giáo dân ra khỏi cuộc sống thật, để đưa giáo dân vào thế giới của những giá trị “thiêng liêng” hoặc đưa vào khuôn khổ quản trị.       

6. Cung cách đoàn lũ

Trong đạo sinh hoạt, người ta thường phải quan tâm đến sự trật tự, nề nếp, ổn định. Do đó, nhiều mục tử biến chất trở thành những nhà quản trị, những người bận tâm tới nề nếp chung hơn là lưu tâm để đoàn chiên có thể sống dồi dào. Nếu cần, những nhà quản trị có thể thẳng tay gạt bỏ hoặc đàn áp những cá nhân không theo qui luật chung, dù đó là những hoàn cảnh éo le và đáng thương.

Tổ chức phụng vụ phải trật tự, cử điệu diễn tả phải thống nhất, mọi thành phần đều phải giữ đúng giờ, ngồi đúng chỗ… Nhiều chuyên gia phụng vụ chỉ quan tâm “làm sao cho đúng” chứ ít để ư “làm sao để nuôi dưỡng đức Tin”. Khi những người có trách nhiệm, linh mục, ông trùm, bà quản chỉ quan tâm đến quản trị, th́ những người có hoàn cảnh riêng, tâm sự riêng, trở thành những kẻ phá đám. Điều ấy làm cho ta liên tưởng đến “lời dễ ghét” của những người theo Chúa Giêsu đi lên Giêrusalem quát mắng anh mù đă làm ồn ào, mất trật tự : “Những người đi đầu quát nạt, bảo anh ta im đi” [Lc 18,39]. Trong tổ chức sinh hoạt, những con chiên “không ngoan” chẳng t́m đâu được những “lời dễ thương” : “Cứ yên tâm, đứng dậy, Người gọi anh đấy !” [Mc 10,49]. Với cung cách quản trị như thế, người giáo dân ít được tôn trọng và cảm thông trong hoàn cảnh và tâm tư riêng. Bước nhà nhà thờ, người ta trở thành những con người hoàn toàn của tập thể và phải sống theo qui luật sinh hoạt của tập thể. Trong tổ chức Giáo hội, người giáo dân không được mời gọi để sống đức Tin trưởng thành, có những lựa chọn và thể hiện tấm ḷng với Chúa, nhưng phải theo những chỉ dẫn chi li của hàng giáo phẩm và giáo sĩ. Đó là cung cách đoàn lũ !

Cũng thế, nhiều nhà Ḍng tập trung nỗ lực vào đời sống kỷ luật hơn là đào tạo sự trưởng thành. Bước vào tu, người thỉnh sinh được “trao” một thời khóa biểu những sinh hoạt. Trách nhiệm chính của người tu sĩ là bảo đảm đầy đủ các sinh hoạt và chu toàn đúng đắn các công tác được trao trong sinh hoạt chung của cộng đoàn. Mỗi lần hội họp cộng đoàn, người ta nêu lên những sai phạm kỷ luật nhiều hơn là nhắc nhở nét tích cực của tinh thần tu tŕ. Nói chung, những người lănh trách nhiệm cộng đoàn thường mong muốn nề nếp cộng đoàn của ḿnh ổn định, không có ǵ nổi cộm, không có ǵ trục trặc. Thay v́ sự đồng hành, hướng dẫn từng cá nhân, người có trách nhiệm lại thường đánh giá một tu sĩ dựa theo việc chu toàn các “giờ sinh hoạt” … Những điều này lại cũng góp phần tạo nên một cung cách đoàn lũ trong giới tu sĩ.

 

3. Nh́n lại một chút về sứ mệnh của Giáo hội

Có thể nói hầu hết mọi người thời Chúa Giêsu, từ những người Do Thái, những người nghèo được Chúa cứu chữa và cho ăn bánh cho đến các môn đệ của Chúa Giêsu đều tưởng rằng Đấng Mê-si-a sẽ thiết lập Nước Trời bằng cách tổ chức một triều đ́nh, với các chức tước và đạo quân hùng mạnh để chinh phục và thống trị muôn dân.

Thế nhưng Đức Giêsu lại đă đi con đường cứu độ theo Thánh ư Chúa Cha. Đó là con đường rao giảng Nước Trời với những giá trị mới, những giá trị có khả năng đón nhận mọi người, nhất là những người bé mọn và bị loại trừ: khó nghèo, hiền lành, thương xót, tha thứ, tôn trọng những người bé mọn, tin tưởng và gắn bó với Chúa trong niềm Tin [xc. Mt 5-7 và //] . . . Rồi Ngài đă hy sinh mạng sống của ḿnh để làm bảo chứng cho những hạt men, hạt mầm Nước Trời ấy [xc. Lc 13, 18-21] được chiến thắng.

Giáo hội được triệu tập, có Chúa Giêsu Phục Sinh luôn ở cùng [xc. Mt 28,20] và nhờ quyền năng Thánh Thần của Ngài [xc. Lc 24, 49] để đảm nhận trách nhiệm gieo văi men Tin Mừng khắp thế gian.

Do đó, biến cố Đấng Mê-si-a đến được kéo dài thành quăng thời gian giữa hai lần Chúa đến, đó là thời gian Cánh chung và là thời gian của Giáo hội. Tất cả ư nghĩa, tất cả lư do hiện hữu của Giáo hội là, sống giữa hai lần Chúa đến, nỗ lực loan báo Tin Mừng, làm cho Nước Trời được rộng mở và thấm nhập vào trần gian. Giáo hội được triệu tập và tổ chức hữu h́nh không phải là để tự củng cố và trở nên hùng mạnh, nhưng là để trở nên “Bí tích Nước Trời” ở trần gian [xc. GH 1], để gieo văi hạt giống Tin Mừng và làm cho chính trần gian này trời thành Nước Trời ngay trong hiện tại.

“Tất cả chúng ta được mời gọi gia nhập Giáo hội trong Chúa Kitô, và nhờ ân sủng Thiên Chúa, chúng ta nên thánh trong Giáo hội. Và Giáo hội chỉ kết thúc trong vinh quang trên trời, khi thời cải tạo mọi sự đến [xc. Cv 3,21] và khi toàn thể vũ trụ cùng với loài người được thiết lập toàn vẹn trong Chúa Kitô, v́ vũ trụ liên kết mật thiết với con người và nhờ con người đạt được cùng đích của ḿnh [xc. Ep 1,10; Cl 1,20; 2Pr 3,10-13]”. [GH 48 a]

 

Kết

Liệu Giáo hội Công giáo Việt Nam có nguy cơ không c̣n là một cộng đoàn những người tin, nhưng biến thành một tổ chức ?

Dĩ nhiên, cần phải nhắc lại một lần nữa, không ai chủ trương một Giáo hội không có tổ chức hay sinh hoạt; và cũng không ai dám phủ nhận giá trị của những tổ chức và sinh hoạt ấy trong Giáo hội. Kitô giáo hoàn toàn không phải là một thứ đạo tại tâm, nhưng là một sự liên kết, hiệp thông, gắn bó cụ thể với Đức Giêsu qua anh chị em của ḿnh và qua Giáo hội hữu h́nh. Qua những tổ chức và sinh hoạt trong Giáo hội, người Kitô sống mối hiệp thông với Đức Giêsu; đồng thời, qua những tổ chức và sinh hoạt của ḿnh, Giáo hội có thể t́m thấy một phương cách tốt để giáo dục đức Tin cho người Kitô hữu.

Tuy nhiên, có lẽ chính qui luật quản trị đă ảnh hưởng trên Giáo hội quá nhiều. Một cách nào đó, có lẽ Giáo hội, đặc biệt Giáo hội Việt Nam, đă đi vào vết xe của những người Do Thái thời Chúa Giêsu, và cũng là ảo tưởng của các tông đồ khi theo Chúa Giêsu với năo trạng nhân loại : ảo tưởng một Nước Thiên Chúa hiển hiện và thống trị trong thế giới trần gian này.

Nước Chúa trong giai đoạn hiện nay lại chính là hạt cải cần phải được vun trồng, là nắm men cần thời gian để dậy men cho cả thúng bột… Giáo hội trở nên như muối, như ánh sáng, trước tiên, không phải do những tổ chức và sinh hoạt sầm uất, nhưng như những thực tại của Nước Chúa, những giá trị của Tin Mừng, đang gieo niềm hy vọng về một thế giới đại đồng, thế giới yêu thương, thế giới hạnh phúc trọn vẹn.

***

Giấc mơ về ngôi nhà thờ làng tôi :

Ngôi nhà thờ làng tôi có một pḥng dành riêng để cất giữ Ḿnh Thánh Chúa; căn pḥng nhỏ bên cạnh gian chính của nhà thờ, căn pḥng kín đáo, ấm cúng và gần gũi để người tín hữu có thể cầu nguyện với Chúa Giêsu Thánh Thể một cách thân t́nh. Ḷng nhà thờ được thiết kế như một sự qui tụ, bàn thờ ở trung tâm, mọi người ngồi ṿng tṛn xung quanh bàn thờ.

 Trước giờ thánh lễ, vị linh mục mặc áo lễ ngồi sẵn nơi ghế chủ tọa cộng đoàn. Tín hữu vào nhà thờ, chào linh mục và chào hỏi nhau. Linh mục có thể giới thiệu một ai đó với cộng đoàn; ông trùm phân chia công tác trong thánh lễ; vị ca trưởng tập hát một chút cho cộng đoàn. . . Tất cả diễn ra trong bầu không khí thân ái, vui tươi, nhẹ nhàng, không cần phải trang nghiêm và nghi thức; các tín hữu có thể gặp gỡ, biết nhau và hiệp thông với nhau nhiều hơn qua vài câu chào hỏi.

Trước giờ lễ, mỗi người có thể tự nhiên nói lên ư nguyện của ḿnh, hoặc viết ư nguyện vào một mảnh giấy nhỏ, đặt trên bàn thờ để linh mục đọc cho mọi người cùng hiệp thông. Sau bài giảng của linh mục cũng như sau khi rước lễ, cộng đoàn dành một vài phút thinh lặng, như hướng dẫn của Qui chế Thánh Lễ, để mỗi người có thể nghe Lời Chúa và đón nhận Chúa Giêsu Thánh Thể “đến” với hoàn cảnh thật của cộng đoàn, đến với từng cá nhân cũng như từng hoàn cảnh riêng của mỗi người tín hữu. Khi chúc b́nh an, mọi người có thể di chuyển, gặp gỡ, nói lời chúc tốt đẹp của ḿnh với người bên cạnh, nhất là với những người đă tỏ bày cùng cộng đoàn vấn đề của ḿnh trong ư nguyện của Thánh lễ. Khi rước lễ, mọi người “tự do” xúm xít quanh bàn thờ như bàn tiệc của cộng đoàn, lănh nhận Ḿnh Thánh Chúa từ tay linh mục; không cần xếp hàng, mà cũng chẳng phải được “phát chẩn”.

Đó là giấc mơ về ngôi nhà thờ và sinh hoạt phượng tự ở làng tôi; ngôi nhà thờ và sinh hoạt phượng tự vượt qua tính nghi thức cứng đọng vốn khó đụng chạm được đến cuộc sống thật; vượt qua tinh thần quản trị đoàn lũ vốn không để cho cá nhân sống thanh thản bộc lộ bản thân của ḿnh; vượt qua thái độ khúm núm và sợ sệt trước mặt Chúa như một ông vua uy nghi.

 

Họ bảo người phụ nữ : “Không c̣n phải v́ lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả thật, chính chúng tôi đă nghe và biết rằng Người thật là Đấng cứu độ trần gian” [Ga 4,42].

 

Kitô hữu : “Con từng sung sướng được biết Chúa qua một trung gian : qua Thánh Kinh và các thánh; qua các đức giáo hoàng và các vị truyền giảng. Ước ǵ con có thể nói với tất cả họ : ‘Tôi tin không phải v́ những ǵ quí vị đă nói : chính đích thân tôi đây đă nghe được tiếng Ngài”

Anthony de Mello, Như Tiếng Chim Hót, trang 163.

Trở về Mục Lục

 

 

Giáo ḥang Biển Đức XVI

BẢO THỦ HAY CẤP TIẾN?

 

Linh Giao

 

 

Mấy ngày hôm nay trên nhiều mạng lưới, điện báo và báo chí, đặc biệt tờ báo chui tại Việt Nam: Tự Do Ngôn Luận và nguyệt san Diễn Đàn Giáo Dân tại Hải ngoại làm nổ tung câu nói bất hủ của Hồng y Ratzinger và hiện nay là Giáo chủ Biển Đức XVI: "Lời Chúa trong Kinh-thánh và những lời của các giáo-phụ như vang lên trong đầu tôi, kết án nặng-nề những mục-tử nào làm chó câm để tránh bị phiền-toái và v́ thế để cho nọc độc lan-tràn. Im-lặng không phải là bổn-phận hàng đầu của người công-dân và riêng tôi, tôi kinh-sợ cảnh một giám-mục chỉ biết an-phận, chỉ lo làm sao để tránh phiền-phức và lấp-liếm xung-đột."

 

Từ trước tới nay, đa số mọi người vẫn nh́n Hồng y Ratzinger và bây giờ là đương kim Giáo chủ Biển Đức là một con người bảo thủ "hạng nặng," nào ngờ bây giờ khi cuốn sách dịch Muối Cho Đời của Hồng Y Ratzinger ra mắt độc giả, nhiều người mới bật ngửa không ngờ Giáo chủ Biển Đức lại cũng là một con người cấp tiến "không vừa" khi dám nh́n thẳng vào thực trạng đau buồn của Giáo hội, với không một dấu diếm, che đậy, để cảnh tỉnh Giáo hội sám hối và trung thanh bước đi theo con đường của Chúa Kitô trong Tin Mừng. Chúng ta có thể nghĩ rằng chính Hồng y Ratzinger, được coi như "bộ óc đứng đang sau hậu trường" của Cố Giáo chủ Gioan Phaolô II đă góp ư với ngài thay mặt Giáo hội Công giáo đứng ra nhận lỗi của Giáo hội 94 lần với các tôn giáo bạn và với thế giới và đă được nhà báo Ư viết lại trong cuốn When the Pope asks for Forgiveness?

 

Cuốn Muối Cho Đời, nguyên tác là Salz der Erde được xuất bản năm 1996 tại Đức đă được anh Phạm Hồng Lam và Tiến Sĩ Trần Hoành dịch ra Việt ngữ và mới phát hành vào tháng 4 năm nay 2006. Tôi đă mua đọc cuốn sách này để muốn hiểu biết thêm về vị Giáo hoàng nổi tiếng tài đức này. Và thể theo lời đề nghị, anh Phạm Hồng Lam đă chuyển cho tôi nguyên văn bản dịch trên mạng lưới để tôi sử dụng. Trong cuốn sách này, tôi đọc được đoạn trao đổi lư thú dưới đây giữa nhà báo Seewald và Hồng y Ratzinger: Hồng y Ratzinger là một nhân vật cấp tiến hay bảo thủ:

 

Người ta cho rằng có hai Ratzinger: một người trước khi tới Rôma, cấp-tiến, và một ông canh-chừng đạo bảo-thủ và nghiêm-nhặt ở Rôma. Người ta nói chàng thiếu-niên thần-học với miệng-lưỡi cấp-tiến đă trở thành ông già bảo-thủ bất đắc-ư với những cái nh́n đôi khi tuyệt-vọng. Chính ngài có lần nói: Joseph Ratzinger này vẫn luôn trung-thành với nó, chỉ những kẻ khác đă thay-đổi mà thôi.

 

Tôi tin tôi đă nói điều rất cơ-bản, là tôi vẫn giữ nguyên quyết-định nền-tảng của cuộc đời tôi, là tôi tin Chúa trong đức Kitô qua Giáo-hội và cố-gắng sống cho niềm tin đó. Quyết-định đó đă triển-nở qua các giai-đoạn cuộc đời, và tôi mừng là nó đă không bị đông lạnh ở một điểm nào. Tuổi-tác làm thay-đổi con người, ông già 70 không nên ra sức để trở lại tuổi 17 và ngược lại. Tôi muốn trung-thành với cái biết nền-tảng của tôi, đồng thời cũng luôn rộng mở cho những thay-đổi cần-thiết. Và hoàn-cảnh chung-quanh cũng làm thay-đổi vị-thế con người, nó bỗng-chốc đứng trong một màng lưới với những trục-độ khác. Các vấn-đề của Giáo-hội ngày nay khác với những chuyện cách đây 30 năm. Hoàn-cảnh v́ thế đă đem lại một giá-trị khác cho những ǵ con người nói và làm. Tôi không chối-căi đời ḿnh có những phát-triển và đổi-thay, nhưng tôi luôn giữ cho những phát-triển và đổi-thay đó diễn-biến trên một bản-sắc nền-tảng và chính khi thay-đổi, tôi luôn cố-gắng trung-thành với cái bản-sắc đó. Ở đây tôi đồng-ư với hồng-y Newman khi ngài nói, sống là biến-đổi và ai đă sống nhiều người đó cũng có khả-năng biến-đổi.

 (Muối cho đời, tr. 118).

 

Dựa theo cuốn sách phong phú này, chúng tôi sẽ tiếp tục giới thiệu với quư độc giả những nhận định của chính Hồng y Ratzinger hay Giáo chủ Biển Đức là nhân vật cấp tiến và bảo thủ ở những góc cạnh nào, chứ không thể đơn thuần như trước đây gán ghép cho Ngài là bảo thủ.

 

Cứ để mặc họ...

 

Hiệp thông với Giáo hội trong thánh lễ ngày Thứ Sáu Tuần II Phục Sinh, bài đọc I, sách Công Vụ đoạn 5 thuật lại câu chuyện nhà biệt phái Gamaliel, cũng là một luật sĩ và là nhân vật có thế giá trong dân, đề nghị với công hội muốn triệt hạ các tông đồ vẫn ngoan cố rao giảng Tin Mừng rằng: "Xin chư vị đừng can dự đến những người này, cứ để mặc họ: v́ nếu một mưu toan hay việc này do loài người, th́ sẽ tự tan ră, nhược bằng bởi Thiên Chúa, th́ chư vị không thể phá tan được, kẻo lỡ ra mang tội chống đối Thiên Chúa." Họ đồng ư, rồi cho đánh đ̣n và thả các ngài ra về. Và sách Công Vụ tường thuật thêm: "Các Tông Đồ ra khỏi Thượng Hội Đồng, ḷng hân hoan bởi được coi là xứng đáng chịu khổ nhục v́ danh Đức Giê-su. Mỗi ngày, trong Đền Thờ và tại tư gia, các ông không ngừng giảng dạy và loan báo Tin Mừng về Đức Ki-tô Giê-su."

 

Ở vào thời đại trước Công đồng Vaticanô II, hầu như ít thấy một giáo dân nào loan báo hoặc chia sẻ Tin Mừng giữa nơi công chúng. Rao giảng Tin Mừng, loan báo Tin Mừng là việc độc quyền của hàng giáo phẩm và tầng lớp giáo dân chỉ có việc lắng nghe, lănh nhận được bao nhiêu hay bấy nhiêu. Năo trạng này vẫn c̣n tiếp diễn sau Công Đồng và ngày nay nhiều người cũng c̣n sống với chủ trương này, dầu cho Công đồng đă công bố trong Sắc lệnh về Tông đồ giáo dân: "Người giáo dân có rất nhiều cơ hội làm việc tông đồ: rao giảng Phúc Âm và thánh hóa" (số 6). Dĩ nhiên ở đây không có nghĩa người giáo dân rao giảng Tin Mừng thay các linh mục trong Thánh lễ hay ngang hàng với hàng giáo sĩ trong nhiệm vụ này, tuy nhiên tầng lớp giáo dân cần được các giáo sĩ đào tạo, hướng dẫn, khuyến khích họ đọc Kinh Thánh, suy niệm, học hỏi, trao đổi, chia sẻ, để Lời Chúa trở thành ánh sáng, sức sống cho đời họ và họ trở nên nhiệt t́nh cộng tác với hàng giáo sĩ loan báo và làm chứng nhân cho Tin Mừng giữa mọi người.  

 

Đáp lại lời mời gọi của Công đồng, có một số giáo dân, một số đoàn thể, một số phong trào đă mạnh dạn áp dụng một số phương pháp học hỏi và chia sẻ Lời Chúa trong nhóm, trong gia đ́nh, trong các buổi họp hoặc trên sách vở báo chí hoặc trên phát thanh. Thật là một thành quả tốt đẹp. Tuy nhiên, với đại đa số tín hữu, người ta vẫn trao phó công tác loan báo Tin Mừng cho hàng giáo sĩ và giáo dân chỉ thụ động ngồi nghe. Tệ hại hơn, nhiều người vẫn c̣n duy tŕ năo trạng cổ lỗ, kỳ thị khi gán ghép cho những ai mạnh dạn loan báo Tin Mừng thuộc loại 'Thệ Phản - Tin Lành - lạc đạo.'

 

Giữa thời đại truyền thông đại chúng bùng nổ với các phương tiện như truyền thanh, báo chí và nhất là mạng lưới toàn cầu, nhiều giáo dân đă vươn ḿnh ra khỏi hàng rào cản trở của giáo đường, của cộng đoàn, của Giáo hội cơ chế để thiết lập các chương tŕnh phát thanh, các nguyệt san, các trang nhà cũng như các tờ điện báo để loan báo Tin Mừng theo Đại Lệnh truyền của Chúa Giêsu: "Anh em hăy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo" (Mc 16:15). Nhiều người ngạc nhiên khi thấy không ít giáo dân có những bài chia sẻ Tin Mừng, những bài suy niệm Kinh Thánh khá phong phú, sâu sắc và rung động. Một số giáo dân c̣n thể hiện được khả năng suy tư, lư luận về thần học, về tu đức khá vững chắc và thâm sâu. Bên cạnh đó, nhiều giáo dân trăn trở về một số tệ nạn, một số gương mù, một số sai lầm cứ ngang nhiên gậm nhấm Thân Thể của Chúa Kitô là Giáo hội của Ngài, do đó, họ đă mạnh dạn lên tiếng đ̣i sửa chữa, đ̣i thanh tẩy, đ̣i canh tân theo tinh thần Công đồng cũng như theo những biến chuyển của thời đại. Họ đ̣i hỏi sự có mặt tích cực của họ như một chi thể sống động của Giáo hội Nhiệm Thể, chứ không chỉ thụ động, buông xuôi, nhắm mắt trong Giáo hội Cơ chế. Chúa Giêsu đem đến cho họ quyền làm người, quyền làm chủ, quyền chủ động trong các suy tư và hành động của ḿnh trong Giáo hội cũng như giữa trần thế, chứ không phải quyền cúi mặt làm ngơ như nhiều loài thụ tạo khác. Công cuộc sáng tạo của Thiên Chúa vẫn tiếp diễn trong họ, trong Giáo hội và trong thế giới hôm nay. Đi ngược lại thế, phải chăng là chống lại công việc sáng tạo và cứu độ của Thiên Chúa sao?

 

Mới cách đây mấy ngày, linh mục Chân Tín cùng với một số linh mục và một số anh em giáo dân đă phát hành lần đầu tiên tại Việt Nam tờ báo in: Tự Do Ngôn Luận, sau hơn năm năm bị ḱm hăm dưới chế độ Cộng sản. Trong số báo thứ 2, nhà văn Trần Phong Vũ đă trích đăng lại câu nói để đời của Hồng Y Ratzinger gọi các giám mục không thi hành nhiệm vụ ngôn sứ của ḿnh giữa thời đại sẽ thuộc loại "chó câm." Đồng thời những lời trích dẫn này được đăng trên nhiều tờ báo như nguyệt san Diễn Đàn Giáo Dân, trang nhà như Tiengnoigiaodan.net, điện báo như Sứ Mệnh Giáo Dân và nhiều cơ sở truyền thông 'ngoài đời' khác... Trong bầu không khí đấu tranh cho dân chủ tại Việt Nam hiện nay, và qua những lời cảnh báo của Giáo chủ Biển Đức, nhiều người đang 'đụng chạm' đến các giới chức lănh đạo trong Hội Đồng Giám Mục VN.

 

Hàng giáo phẩm VN h́nh như không c̣n kiểm soát và ḱm hăm được tầng lớp giáo dân, (out of control), như trước đây được nữa, nhất là giới trí thức. Càng ngày tầng lớp đại đa số giáo dân càng khôn lớn, trưởng thành, tài giỏi, và phát huy được tinh thần dân chủ, việc lănh đạo trong Giáo hội cũng cần phải được cải tiến. Điển h́nh trong số báo Diễn Đàn Giáo Dân số 54, tháng 5-2000, cây bút Lê Thiên trong bài 'Tấm ḷng mục tử' nhắc lại bản tin của tờ Kinh tế Nông thôn số 48 (28-10-05) loan tin Giám mục Nguyễn Chu Trinh của giáo phận Xuân Lộc đă biếu nhà nước CSVN 60 tỉ đồng để làm công tác bác ái xă hội... (trong lúc) Các nữ tu một ḍng nọ có mở ngôi nhà nhân ái ở Long Khánh giúp khoảng 20 người già bệnh tật mà không được vị giám mục và nhà nước giúp ǵ. Nữ tu phụ trách xin Giám mục 4 xe lăn cho 4 người khuyết tật 6 tháng này vẫn chưa có" và đưa ra vấn đề GM Nguyễn Chu Trinh có bàn hỏi và đi tới quyết định này cùng với Hội đồng Mục vụ và Hội đồng Kinh tế cấp giáo phận không? Sau đó tác giả Lê Thiên c̣n trích đăng một số điều khoản Giáo luật mới khuyến cáo việc phải thành lập Hội Đồng Kinh Tế cấp giáo xứ cũng như giáo phận và buộc phải có "ít nhất ba tín hữu thành viên... " (tr. 30-31).

 

Phải chăng những thành phần giáo dân đầy trăn trở và bức xúc muốn làm trong sạch và đ̣i hỏi cải tiến Giáo hội theo Tin Mừng và tinh thần canh tân của Công đồng Vaticanô như vừa rồi lại là những thành phần "chống Chúa chống Giáo hội?" Nhiều thành phần giáo dân ngày nay dám can đảm đứng lên đi theo con đường Tin Mừng của Chúa Giêsu và các tông đồ, họ không c̣n sợ bị "chụp mũ" nữa, dù có bị một số cơ quan truyền thông như VietCatholic, đài Veritas và một số giới chức "đánh đ̣n" họ. Và quả thực lời khuyên của ông Gamaliel có lư: "Cứ để mặc họ..." Nếu tầng lớp giáo dân này đi theo đúng con đường Tin Mừng của Chúa Giêsu, họ sẽ cùng tồn tại với Ngài, nếu họ đi trật con đường của Ngài, ngày tàn lụi của họ đang tiến tới!

 

Khinh miệt các bà góa

 

Bài đọc I ngày Thứ Bảy Tuần II Phục Sinh, trích sách Công vụ 6:1-7, "Thời đó, khi số môn đệ thêm đông, th́ các tín hữu Do-thái theo văn hoá Hy-lạp kêu trách những tín hữu Do-thái bản xứ, v́ trong việc phân phát lương thực hằng ngày, người ta khinh miệt các bà goá trong nhóm họ. Bởi thế, Nhóm Mười Hai triệu tập toàn thể các môn đệ và nói: 'Chúng tôi mà bỏ việc rao giảng Lời Thiên Chúa để lo việc ăn uống, là điều không phải. Vậy, thưa anh em, anh em hăy t́m trong cộng đoàn bảy người được tiếng tốt, đầy Thần Khí và khôn ngoan, rồi chúng tôi sẽ cắt đặt họ làm công việc đó. C̣n chúng tôi, chúng tôi sẽ chuyên lo cầu nguyện và phục vụ Lời Thiên Chúa.' Đề nghị trên được mọi người tán thành."

 

Đứng trước nhiều suy sụp trong Giáo hội hiện nay, Giáo chủ Biển Đức XVI mời gọi mọi người trở về học hỏi và sống nếp sống của các tín hữu thời tiên khởi. Từ các tông đồ cho tới các tín hữu, mọi người đều sống đơn sơ, ḥa đồng, đùm bọc, yêu thương, san sẻ cả tinh thần lẫn vật chất cho nhau, chuyên cầu cầu nguyện và hăng say truyền giáo. Mọi người coi nhẹ của cải, vật chất, địa vị và nhiệt thành sống theo sự thôi thúc của Thánh Thần. Giáo hội tiên khởi thời các tông đồ chính là Giáo hội thể hiện rơ rệt nhất sự hiện diện và tác động mạnh mẽ và và thâm sâu của Chúa Thánh Linh. Giáo hội lúc đó thực sự là Giáo hội của Nhiệm Thể Chúa Giêsu. Dần dần vào các kỷ nguyên sau này, Giáo hội Nhiệm Thể tan loăng vào Giáo hội cơ chế khi hàng giáo sĩ mỗi ngày mỗi đông đảo và chạy theo khuynh hướng điều động Giáo hội theo kiểu thế tục. Và như vậy, h́nh như hai Giáo hội Cơ chế và Giáo hội Nhiệm Thể đi ngược chiều nhau!

 

Trở lại với Giáo hội thời Công vụ, các tông đồ ư thức rơ rệt được vai tṛ và trách vụ của ḿnh là chuyên lo cầu nguyện và phục vụ Lời Chúa, c̣n việc điều hành bên ngoài dành cho các tín hữu được tiếng tốt, đầy Thần Khí và khôn ngoan. khi Giáo hội cơ cấu mỗi ngày thịnh đạt, hàng giáo sĩ trở thành độc tôn, chuyên quyền và nắm hết mọi quyền hành trong Giáo hội. Nhiều chức sắc trong Giáo hội, thay v́ chuyên lo cầu nguyện và phục vụ Lời Thiên Chúa, lại lại lơ là với những trách vụ chính yếu đó và say mê chạy theo công việc điều hành bên ngoài, kể cả vấn đề độc tôn, độc tài sử dụng tài chánh trong cơ chế Giáo hội. Điển h́nh như việc một số giáo sĩ sử lư tiền bạc quyên góp của giáo dân VN khắp Hoa Kỳ một cách kỳ cục trong việc xây dựng Đền Đức Mẹ La Vang tại Washington, cũng như tại một số Trung tâm Công giáo hay Thánh đường Công giáo hải ngoại. Sau khi huy động tầng lớp giáo dân đóng góp rộng răi và xây dựng xong cơ sở, một số vị lănh đạo tinh thần gạt phăng ban Tài chánh và tự ḿnh ung dung sử dụng mọi ngân khoản, trong lúc hầu như không kiến tạo được những hoạt động đáng kể nào thăng tiến giáo dân cả về công việc điều hành lẫn tu đức.

 

Giáo hội cơ chế càng ngày càng đi xa dần đường lối mục vụ của Chúa Giêsu và các tông đồ. H́nh như hàng giáo sĩ chủ trương bảo vệ Giáo hội Cơ chế, trong lúc Giáo chủ Biển Đức (chúng tôi sẽ trưng dẫn trong bài sau), nhiều nhà thần học hiện đại và đa số tầng lớp giáo dân lại cổ vơ cho Giáo hội Nhiệm Thể. Đây là con đường khó tương dung và bắt buộc phải t́m con đường tương dung giữa hai Giáo hội nghịch chiều này, giữa tầng lớp giáo sĩ và giáo dân. Giáo hội không c̣n trở lại con đường ṃn cũ được nữa! Hàng giáo sĩ sẽ noi gương các tông đồ chuyên lo cầu nguyện và phục vụ Lời Chúa, trong khi cần đào tạo thêm nhiều người giáo dân đạo hạnh và khôn ngoan để họ kiêm nhiệm những công việc điều hành về hành chánh, tài chánh, và cả về mục vụ nữa bên cạnh hăng giáo phẩm. Giáo hội cơ chế cần nh́n nhận và quy phục sự hiện diện và tác động của Chúa Thánh Thần như trong Giáo hội tiên khởi, Giáo hội mới t́m thấy hứng khởi và triển vọng cho tương lai của Giáo hội và thế giới.

 

Nh́n một cách thấu đáo vào Tin Mừng, phải chăng chúng ta không nhận ra Chúa Giêsu đă thể hiện mô h́nh này? Ngài chuyên tâm lo cầu nguyện, rao giảng Tin Mừng, thi hành mục vụ cứu thế, trong lúc Ngài giao công việc hành chánh và tiền bạc cho các môn đệ. Điển h́nh trong phép lạ hoá bánh cho hơn năm ngàn người ăn, Ngài trao công việc điều động dân chúng và phân phát đồ ăn cho các môn đệ, c̣n chính Ngài, Ngài cầu nguyện và giảng dậy cho dân chúng. Ngài thể hiện hai phương pháp song hành, một mặt rao giảng Tin Mừng và thi hành công việc cứu nhân độ thế cho đại chúng, trong lúc Ngài lại thật gắn bó với công việc đào tạo cán bộ là mười hai môn đệ. Phải chăng các giáo sĩ của chúng ta trong Giáo hội cơ chế hiện nay thực hiện được hai đường lối cũng như hai phương pháp làm việc như vừa rồi của Chúa Giêsu và các tông đồ? Và như vậy, phải chăng ngày nay hàng giáo sĩ vẫn khinh miệt tầng lớp giáo dân như các bà góa?

 

Đứng trước thực trạng hàng giáo sĩ coi tầng lớp giáo dân như loại các bà goá, tầng lớp giáo dân trưởng thành của thế kỷ 21 ngày nay phải đứng lên đ̣i hỏi các nhà lănh đạo trong Giáo hội t́m kiếm, nâng đỡ, đào tạo các giáo dân đạo hạnh, khôn ngoan, đầy Thánh Thần và quả cảm để họ cộng tác vào việc điều hành Giáo hội. Nếu các nhà lănh đạo của chúng ta vẫn 'bế quan tỏa cảng,' vẫn làm ngơ trước các nhu cầu cấp bách này của Giáo hội, tầng lớp giáo dân có nhiệm vụ phải đứng lên tự đoàn ngũ hóa, tự thăng tiến cho ḿnh trong Giáo hội cũng như giữa trần thế, chứ không thể măi măi sống thụ động, bất lực và yếu kém như hiện nay. Mẹ Têrêsa để lại cho chúng ta một bức gương sáng chói khi Mẹ chấp nhận dời bỏ bốn bức tường tu viện kiên cố, cởi bỏ áo ḍng để lăn lội vào đời, sống trung thực theo gương Chúa Giêsu khi nhập thế. Trong lúc lăn xả vào công việc phục vụ bác ái trước những con người khốn khổ nhất trần gian, Mẹ vẫn luôn luôn quan tâm đến công việc đào tạo các nữ tu và các cộng sự viên trên khắp thế giới. Và quả thực Mẹ và ḍng tu của Mẹ đă gạt hái được những thành quả rạng rỡ nhất cho Chúa Kitô, cho Giáo hội và cho thế giới.

 

Phải chăng Giáo hội Việt Nam đang cần đến nhiều tín hữu giáo dân noi theo tấm gương sáng chói của Mẹ Têrêsa, một nhà cách mạng kỳ tài trong Giáo hội và giữa thế giới hôm nay? Và sống theo gương Mẹ như thế, chúng ta là những người cấp tiến hay bảo thủ theo quan điểm của Giáo chủ Biển Đức XVI?

 

Trở về Mục Lục

 

 

 Phục sinh

hay Tái sinh?

 

Lung Linh

 

Trong Hiến chế Tín lư Lumen Gentium, chương IV, đoạn 38 đă khẳng định:

Trước mặt nhân loại, mỗi giáo dân phải là chứng nhân của sự phục sinh và sự sống của Chúa Giêsu, đồng thời là dấu hiệu của thiên Chúa hằng sống. Mỗi người phải góp phần nuôi dưỡng thế giới bằng những hoa trái thiêng liêng (Gl 5:12) và truyền bá cho thế gian tinh thần Phúc âm của Chúa.

Tóm lại, “mỗi người Kitô hữu hăy làm cho thế giới sống như linh hồn làm cho thân xác sống”

 

Phục Sinh

 

Theo nghĩa đen, Phục sinh chính là cuộc sống lại sau khi trải qua cái chết thân xác. Phục sinh của Đức Giêsu là một minh chứng hùng hồn về biến cố Phục sinh này. Việc Đức Giêsu hiện ra sau khi chết đi - sống lại.

Không như một bóng ma, mà như một người bằng xương bằng thịt hẳn hoi.

Nh́n chân tay Thầy coi, chính Thầy đây mà! Cứ rờ xem, ma đâu có xương có thịt như anh em thấy Thầy có đây? (Lc 24:39)

Đặc biệt là không c̣n bị lệ thuộc không gian, Đức Giêsu đă đi xuyên qua tường.Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, v́ các ông sợ người Do-thái. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói: "B́nh an cho anh em! " (Ga 20:19)

Cuối cùng, không c̣n phải chết nữa.

Nói xong, Người được cất lên ngay trước mắt các ông, và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không c̣n thấy Người nữa.(Cv 1:9)

Tóm lại, điều kiện để phục sinh viên măn là phải đi ngang qua ngưỡng cửa cái chết thân xác.

Theo ánh mắt tâm linh,  Phục sinh chính là giây phút - trong tích tắc - ta bỗng nhận ra bản tánh đích thực của Thiên Chúa , bản tánh đích thực của ta. Ta có thể nhận diện một cách rơ ràng và chính xác con người mới, con người cũ của ḿnh. Từ đó cái nh́n của ta bỗng thay đổi ḥan ṭan, không c̣n như trước kia nữa. Giây phút bùng nổ này không phải bỗng dưng tự nhiên xảy ra, mà đó là kết quả tất nhiên của một cuộc kiếm t́m, suy tư nhiều năm tháng.

Biến cố Phục sinh này c̣n được gọi là tái sinh - sinh lại - theo tuyên bố của Đức Giêsu: "Thật, tôi bảo thật ông: không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thần Khí.6 Cái bởi xác thịt sinh ra là xác thịt; cái bởi Thần Khí sinh ra là thần khí. (Ga 3:5)

 

Tái Sinh

C̣n gọi là Thức tỉnh sau cơn mê dài hay Trỗi dậy từ cơi chết. Đổi mới bằng cách Cởi bỏ con người cũ, mặc lấy con người mới.

Có nhiều cách hiểu về Tái sinh.

Anh em Phật giáo b́nh dân thường hiểu tái sinh là đầu thai một kiếp mới .

Nhưng Kitô giáo hiểu tái sinh như một cuộc Thức tỉnh sau cơn mê dài, Trỗi dậy từ cơi chết hay là Đổi mới bằng cách Cởi bỏ con người cũ, mặc lấy con người mới. Và cuộc đổi mới không chỉ xảy ra một lần mà c̣n đổi mới suốt cuộc đời như lời tâm t́nh của Phaolô:

Anh em đă mặc lấy c