Tâm Linh Vào Đời
Số 20 Ngày 10 . 06 . 2006
Tâm linh Vào đời xin tiếp tục giới thiệu
Đạo Thực dụng của Linh mục giáo sư Nguyễn Trọng Viễn
Nhận ra Thiên Chúa Ba Ngôi bằng cảm nhận t́nh yêu Ngài của Trần Mỹ Duyệt
Và một lời nguyện tha thiết với Chúa Thánh Thần
Lửa của Benedictus Đỗ Quang Vinh
Linh mục Giáo sư Nguyễn Trọng Viễn
Bệnh thực dụng không phải chỉ là căn bệnh của giới trẻ ngày nay, cũng không phải chỉ là thái độ của một số người trong cơn cám dỗ của nền kinh tế thị trường. Đây c̣n là căn bệnh có tầm mức nhân loại và chi phối sâu xa đời sống đức Tin Kitô giáo. Thực dụng là giản lược cái huyền nhiệm vào những thành quả tức thời; thực dụng là t́m những cách thức dễ dăi, cụ thể, rơ ràng để thực hiện vận mạng cuộc đời ḿnh; và sâu xa hơn, thực dụng là sử dụng phương pháp đối với sự vật để thay thế cho thái độ gặp gỡ chân chính giữa con người với nhau và giữa con người với Thiên Chúa.
Căn bệnh này có vẻ “nhẹ tội”, nhưng thật ra, nó là căn bệnh chính, là nguồn gốc của mọi căn bệnh khác; nó là một dự phóng căn bản bao hàm thái độ từ chối t́nh yêu thương.
Thách đố này đă được diễn tả trong thái độ của nguyên tổ con người : Adong và Eva. Nguyên tổ được sáng tạo nên giống h́nh ảnh Thiên Chúa :
“Và Thiên Chúa phán : Ta hăy làm ra người theo h́nh ảnh Ta, như họa ảnh của Ta”[1] [St 1,26; x. c. 27]
Khẳng định ấy không chỉ giới hạn trong một cơ năng riêng biệt nào đó của con người, như lư trí hay ḷng yêu thương, nhưng bao hàm ư nghĩa rằng vận mạng của con người chỉ được thành toàn trong cuộc sống thân t́nh với Thiên Chúa. Đó là một hồng ân lớn lao của phận người. Tuy nhiên, v́ mang thân xác bằng bụi đất [x. St 2,7], có trách nhiệm “canh tác và giữ vườn” [x. St 2,15; 1, 26b – 30], nên con người cần thực hiện vận mạng của ḿnh qua thời gian, bằng những công việc hằng ngày của cuộc sống. Đó là cách sống đúng theo “qui chế hiện hữu” của con người. Hơn nữa, con người lại được Thiên Chúa mời gọi sống liên đới với nhau, người với người t́m thấy nơi nhau một sự “trợ giúp đương đối” [St 2, 20b-25]. Như thế, vận mạng của con người chính là, qua từng ngày từng năm, sử dụng thân xác và vũ trụ để thiết lập t́nh thân giữa con người với nhau; đồng thời qua cách sống ấy mà đạt tới cuộc sống thân t́nh với chính Chúa. Con người được mời gọi để thể hiện “h́nh ảnh Thiên Chúa”, qua trung gian thân xác và vũ trụ, bằng chính cuộc sống thân ái người với người.
Đáng lẽ ra nguyên tổ cần thực hiện vận mạng cao cả ấy bằng thái độ tuân phục thánh ư Ngài, bằng sự trung tín hằng ngày và qua một quá tŕnh lịch sử lâu dài. Đáng lẽ ra con người được mời gọi thực hiện cuộc đời ḿnh bằng t́nh thương, bằng mối liên hệ của tự do, tự hiến và cùng sống với những ngôi vị khác[2] trong hành tŕnh lịch sử; th́ Adam và Evà lại muốn chiếm đoạt ngay tức khắc vận mạng của ḿnh bằng một phương thế thực dụng, mau chóng và không có tính nhân sinh : phương thức “ăn trái cấm”. Nỗi khát vọng Thiên Chúa được phú bẩm như một năng lực sống cho suốt hành tŕnh đời người lại bị hoán đổi thành ư muốn được bằng Thiên Chúa ngay tức khắc; vận mạng cao cả của nhân loại được sống trong t́nh yêu lại bị biến chất thành tham vọng khẳng định ḿnh bằng cách giành lấy quyền quyết định “biết lành biết dữ”, tự ḿnh quyết định điều thiện ác cho bản thân ḿnh; t́nh thân giữa con người với nhau đáng lẽ được trọn vẹn để thể hiện chính phẩm tính yêu thương của Thiên Chúa lại trở thành sự liên kết của mưu đồ ích lợi riêng. . .
Vấn đề chính trong tội nguyên tổ không phải là một hành vi xúc phạm đến uy danh Thiên Chúa, nhưng là hành vi phá hủy bản chất con người, con người từ chối nẻo đường sống t́nh yêu thương qua lịch sử từng ngày của phận người để đ̣i được mở mắt “nên như những Thiên Chúa” [xc. St 3,5]. Tội nguyên tổ không phải được suy diễn ra từ nguyên lư danh dự, nhưng nằm trong chính thực tại như một sự vong thân v́ đă đánh mất bản chất của ḿnh; tội ở đây phát xuất từ nguyên lư thực dụng mà nguyên tổ, hay chính mỗi con người, đă lựa chọn cho bản thân ḿnh.
Dấu ấn tội lỗi ấy đă trở nên một vết hằn sâu xa trên hành tŕnh làm người của nhân loại.
2.1 Từ chối gặp gỡ và đồng hành
Con người vẫn luôn đứng trước cám dỗ muốn “đi đường tắt”, muốn loại trừ tha nhân ra khỏi hành tŕnh cuộc đời, muốn “chiếm đoạt” và hoàn thành vận mạng của ḿnh bằng những ǵ hoàn toàn thuộc về ḿnh, hoàn toàn theo cách thế của ḿnh. Thay v́ an b́nh, tin tưởng đi vào lịch sử nghĩa t́nh, từng ngày sống thái độ tín trung, từng việc biết trao đổi, và nhất là biết nhận ra tính cách độc đáo riêng biệt của tha nhân để khẩn cầu, để tri ân t́nh thương của tha nhân, th́ con người lại thường muốn một ḿnh, dùng một phương thế có tính kỹ thuật, để thăng tiến bản thân và đạt tới mục đích đời ḿnh.
Gặp gỡ và đồng hành với tha nhân quả là một chuyện rắc rối. Cuộc sống với tha nhân làm cho ta phải bận tâm nhiều chuyện : giận hờn, ḥa giải, lo lắng, chiều ư, lễ nghĩa, liên đới, trách nhiệm … Đó là chưa kể những mối tương quan đấu tranh mà ta cần phải cảnh giác, khôn khéo, bản lănh, nắm đàng chuôi, . . . Triết gia J.P. Sartre không phải không có lư khi nói “Tha nhân là hỏa ngục”.
Trước bao nhiêu chuyện rắc rối như thế, người ta càng ngày càng có khuynh hướng muốn ổn định cuộc sống bằng hệ thống luật pháp chặt chẽ; càng ngày càng muốn thay thế những mối tương quan t́nh nghĩa bằng những dịch vụ tiện ích; càng ngày càng muốn tiêu chuẩn hóa tất cả mọi tương quan, thay vị tự thể hiện ḿnh trong tương quan người với người. Sống trong xă hội hiện đại ngày nay, người ta cần hiểu biết các phương thức và khôn ngoan lựa chọn giải pháp chứ không cần những thái độ “lăng mạn” của t́nh người. Cuộc sống trở thành một kỹ thuật mà người ta có thể huấn luyện trong những khóa học cấp tốc.
Có một thời người ta lư luận rằng gia đ́nh không c̣n giá trị cho cuộc sống con người hiện đại. Những người ấy cho rằng : xưa kia, người ta lập gia đ́nh là để nương tựa vào nhau và củng cố sức mạnh cho nhau về nhiều phương diện; đồng thời khi sinh sản con cái, nuôi dưỡng và dạy dỗ chúng, người ta có thể cậy nhờ lúc tuổi già. Thế nhưng cách thức ấy hiện nay không c̣n hiệu quả. Thay vào đó, người ta có thể thuê người nấu ăn, dọn dẹp nhà cửa; gửi tiền vào ngân hàng hoặc có những biện pháp ngăn ngừa trộm cắp khác; đóng tiền vào nhà dưỡng lăo để an ổn tuổi già. Nhu cầu t́nh dục th́ không khó giải quyết. Thế là người ta có thể vui sống với một con chó, hoặc con mèo thân thương của ḿnh.
Phản ứng lại những đấu đá trong xă hội, một số người khác lại muốn trốn tránh mọi rắc rối, t́m an thân bằng cuộc sống cô liêu, không đua tranh, chẳng lụy phiền, không lư tưởng cũng chẳng tâm huyết ǵ. Chúng ta cũng thấy thái độ tương tự trong những lập trường minh triết của một số triết gia, một số tư tưởng thoát tục Tây phương và Đông phương : t́m sự thanh thản[3].
Tuy vậy, từ thái độ sống “kỹ thuật” của con người thời đại cho đến thái độ siêu thoát cao quí của những hiền nhân, chúng ta đều thấy một tính chất thực dụng chung. “Thực dụng kỹ thuật” và “thực dụng hiền triết” đều là từ chối gặp gỡ và đồng hành, đều là thái độ tự t́m thực hiện vận mạng của ḿnh mà không cần đến tha nhân.
Con người chỉ có thể hoàn thành vận mạng của ḿnh qua sự gặp gỡ và đồng hành. Bởi v́ bản chất con người là yêu thương, nhưng không phải là t́nh yêu lăng mạn, bay bổng mà là một t́nh yêu thể hiện trong đời sống cụ thể hằng ngày. Chỉ khi thể hiện vận mạng của ḿnh theo như “qui chế hiện hữu” của con người, một hữu thể tại thế, một sinh vật sống trong thời gian và h́nh thành đời ḿnh qua một quá tŕnh lịch sử, th́ con người mới thực sự biết yêu thương chân chính là ǵ.
2.2 Chết dí trong sự vật
Được làm chủ thế giới, đó là h́nh ảnh hiên ngang cao cả của con người. Con người t́m thấy niềm vui khi lao động, chiếm hữu và sử dụng muôn vật. Niềm vui đó làm cho nhiều người tưởng rằng tất cả sứ mạng của ḿnh, tất cả ư nghĩa đời ḿnh hệ tại việc thống trị, khám phá, uốn nắn và sở hữu thế giới sự vật. Nhưng đó lại chính là một mục tiêu có tính thực dụng.
Thật ra nhiệm vụ “đặt tên cho muôn vật” không phải là nhiệm vụ chính yếu của con người, v́ chính khi Adong hoàn thành sứ mạng đặt tên cho muôn vật, ông không gặp được người đương đối tương xứng :
“Giavê Thiên Chúa đă phán : không tốt, nếu người chỉ có một ḿnh. Ta sẽ làm cho nó cái ǵ trợ giúp đương đối với nó . . . Và người đă đặt tên cho mọi thú vật và chim trời cùng mọi dă thú. Nhưng phần người, người vẫn không gặp được sự trợ giúp nào đương đối” [St 2, 18.20].
Như thế, con người cần một bước nhẩy để chuyển từ niềm vui chiếm hữu và thống trị sang niềm vui gặp gỡ và hiệp thông giữa người với người, một bước nhẩy từ thế giới sự vật sang thế giới nhân sinh. Con người cần phải đạt tới một cuộc bừng tỉnh trước vũ trụ để nhận ra tầm quan trọng của tương quan ngôi vị giữa con người với nhau. Từ cuộc bừng tỉnh ấy, con người mới biết sử dụng vũ trụ sự vật như phương tiện để gặp gỡ nhau, biến những thành quả trên vũ trụ sự vật thành những món quà dâng tặng cho nhau để thiết lập t́nh người.
Thực dụng chính là t́nh trạng, thái độ chết dí trong thế giới sự vật; t́nh trạng không c̣n muốn vươn lên đến thế giới nhân sinh và thế giới siêu nhiên. T́nh trạng ấy làm nghèo nàn phẩm chất người. Phẩm giá con người bị hạ thấp xuống hàng sinh vật.
Thái độ ấy càng biểu hiện mạnh mẽ hơn trong thời đại ngày nay, khi nhân loại muốn dùng kinh tế để thỏa măn mọi nhu cầu, chỉ muốn dùng tài năng để “lập thân”. Với thái độ này, tất cả bản chất cao quí của con người bị biến thành một sinh vật kinh tế. Người ta t́m mọi cách thỏa măn nhu cầu vật chất của ḿnh, đánh mất những giá trị tinh thần, đánh mất phẩm chất t́nh yêu. Bao nhiêu những cuộc tranh giành quyền lợi, từ cấp độ thế giới đến cấp độ cá nhân; bao nhiêu nỗ lực vươn lên bằng cách đạp lên người khác đă và vẫn c̣n đang biến con người thành những sinh vật vồ mồi, xé nát thế giới tươi đẹp.
Chỉ khi vượt lên trên cái nh́n "duy nhiên" thực dụng để sống chiều kích nhân văn hoặc siêu nhiên, con người mới t́m thấy “môi trường sống” đích thực của ḿnh; chỉ khi thoát khỏi thái độ thực dụng để sống thái độ trân trọng và chờ đợi, con người mới có thể sống với nhau trong t́nh nghĩa; chỉ khi nh́n thấy đàng sau sự vật bóng dáng những ngôi vị, con người mới có thể sử dụng sự vật như những người làm chủ; chỉ khi đặt sự vật trong mối tương quan ngôi vị, như là những chiếc cầu, như là những quà tặng, th́ sự vật mới góp phần làm phong phú phẩm chất làm người chân chính.
2.3 Đối xử với tha nhân như sự vật
Thế rồi, khi thái độ làm chủ và thống trị thế giới trở nên một “thói quen” của nhân loại, thói quen khiến người ta thích áp dụng dụng cụ để thống trị muôn vật vào những mối tương quan ngôi vị, tương quan giữa con người với nhau và tương quan với Thiên Chúa, th́ con người lại rơi vào một phương thức sống có tính thực dụng. Con người biến mối tương quan ngôi vị trở thành mối tương quan thống trị, chinh phục, quyền lực. Điều ấy đă được tuyên án sau khi nguyên tổ phạm tội :
“Với chồng ngươi, ngươi hăm hở đon đả. Nhưng nó, nó sẽ thống trị ngươi” [St 3,16].
Với phong cách này, con người trở nên kẻ thích đi “con đường một chiều”, nghĩa là t́m cách uốn nắn thế giới theo ư của ḿnh mà đánh mất đi một sự nhạy bén trong thái độ lắng nghe, đánh mất đi sự sẵn sàng để đón nhận tha nhân và chiều ư tha nhân, cần thiết và khẩn cầu tha nhân như điều không thể thiếu cho bản thân ḿnh. Chiều hướng phát huy động lực chỉ c̣n là từ phía chủ thể tới đối tượng, những phản hồi đều bị tắc nghẽn.
Biểu hiện rơ rệt nhất của t́nh trạng ấy là khát vọng quyền lực. Người ta luôn đ̣i hỏi sự thay đổi của người khác theo ư ḿnh mà không biết chờ đợi và trân trọng tha nhân như một chủ thể tự do và độc đáo; người ta muốn thấu hiểu trọn vẹn để làm chủ người khác chứ không biết chiêm ngắm và thán phục; người ta t́m đủ cách để uốn nắn, cắt tỉa, vặn vẹo tha nhân cho bằng được. Thế nhưng, thái độ độc tài ấy không bao giờ làm thỏa măn khát vọng gặp gỡ chân chính. Do đó, người đi vào nẻo đường ấy càng ngày lại càng muốn gia tăng sự thống trị, tăng cường thêm sự đàn áp để thực hiện cho được ư muốn cá nhân của ḿnh. Chính những nhà độc tài, muốn sử dụng người khác như dụng cụ, đă đi vào nẻo đường này để rồi càng ngày càng độc ác hơn. Đó là nẻo đường cụt, v́ tha nhân chẳng thể bao giờ luôn luôn thực hiện đúng ư ḿnh hoàn toàn cả.
Tất cả những thái độ thực dụng, mục tiêu thực dụng và phương cách thực dụng đều không bao giờ có thể đi đến gặp gỡ và hiệp thông để có thể cất tiếng reo vui :
“Và nó đă nói : Phen này, nàng là xương tự xương tôi, thịt tự thịt tôi. Nàng sẽ đội danh là “đàn bà” v́ đă được rút tự “đàn ông”. Bởi thế mà đàn ông sẽ bỏ cha mẹ và khắn khít với vợ ḿnh và chúng sẽ nên một thân xác” [St 2,23]
3. NhỮng cơn Cám dỖ đỐi vỚi đỨc Giêsu
3.1 Nẻo đường dễ dăi
Khi bắt đầu sứ vụ công khai, Chúa Giêsu đă trải qua một loạt các cám dỗ của Satan. Những cám dỗ này không phải chỉ là những cám dỗ lặt vặt liên quan đến của ăn cái mặc, một chút tự ái hoặc những đam mê xấu của đức Giêsu, nhưng chính là những cám dỗ tinh ranh của satan, cám dỗ về những cách thức thực hiện chương tŕnh cứu độ khác với chương tŕnh của Chúa Cha. Cám dỗ biến ḥn đá thành bánh, đó là cám dỗ dùng việc thỏa măn những nhu cầu vật chất để chinh phục con người; cám dỗ nhẩy từ thành thánh xuống, đó là cám dỗ về cách thức làm những điều bí nhiệm, những phép lạ tỏ tường để dẫn dụ ḷng tin của người tín hữu; và cám dỗ quyền lực, đó là cách thức dùng quyền bính để thiết lập Nước Trời, dùng một tổ chức cai trị, dùng những biện pháp bắt buộc. . . Những nẻo đường ấy thực sự là những nẻo đường dễ dàng rất nhiều cho sứ mệnh cứu độ Đức Giêsu, so với nẻo đường vâng ư Chúa Cha để chịu chết v́ yêu thương con người, v́ chúng không cần đến sự đáp trả tự do, thái độ tự nguyện, không cần đến ḷng tín trung của con người. Dostoievsky diễn tả thái độ thực dụng tầm thường ấy qua miệng viên Đại Pháp Quan Tôn Giáo nói với Chúa Giêsu như sau :
“Đáng lẽ chiếm lấy tự do của con người th́ Chúa lại cứ mở rộng tự do thêm măi ! Hay là Chúa quên rằng con người quư trọng sự yên ổn và thậm chí cả cái chết hơn là tự do lựa chọn trong sự nhận thức thiện ác ? Đối với con người không có ǵ hấp dẫn hơn tự do cho lương tâm, nhưng cũng không có ǵ khổ ải hơn. Thế mà thay cho những nguyên tắc nền tảng vững chắc để làm cho lương tâm con người măi măi yên ổn, Chúa lại chọn tất cả những ǵ là phi thường, bí ẩn và vu vơ, tất cả những cái không vừa sức con người, v́ vậy Chúa hành động như thể hoàn toàn không yêu họ, thế mà Chúa đă hiến cả sinh mạng của ḿnh cho họ đấy ! Đáng lẽ chiếm lấy tự do của con người, Chúa lại cứ tăng thêm măi lên và làm cho thế giới tinh thần của họ chồng chất thêm măi những dằn vặt v́ tự do. Chúa muốn con người yêu tự do, để họ tự do đi theo Chúa, bị lôi cuốn bởi sức hấp dẫn của Chúa. Thay cho luật pháp cứng rắn cổ thời, con người từ nay với trái tim tự do của ḿnh, phải tự quyết định cái ǵ là thiện, cái ǵ là ác, mà chỉ lấy h́nh ảnh của Chúa trước mắt để định hướng cho ḿnh. Nhưng chẳng lẽ Chúa không nghĩ rằng con người rút cuộc sẽ chối bỏ và thậm chí bài bác cả h́nh ảnh của Chúa và sự thật của Chúa, nếu như họ bị đè ép dưới một sức nặng khủng khiếp là sự tự do lựa chọn ? Cuối cùng họ sẽ la lên rằng sự thật không phải ở nơi Chúa, v́ không thể nào đặt họ vào t́nh cảnh bối rối và dằn vặt hơn là Chúa đă làm, Chúa đă để lại cho họ biết bao lo âu và những nhiệm vụ không thể giải quyết nổi. . .”[4].
3.2 Nẻo đường coi thường con người
Những cách thức dễ dăi của Satan, thực chất, là thái độ hạ giá phẩm chất làm người của người tín hữu. Theo cách thức của Satan, đương nhiên đức Giêsu chấp nhận coi con người chỉ là những kẻ hèn mạt, dễ bị các nhu cầu vật chất chi phối, dễ bị thu hút bởi những ǵ hào nhoáng bên ngoài, thích ăn sẵn một cách nô lệ. Cám dỗ của Satan không là ǵ khác hơn đề nghị những phương thức thực dụng, dễ dăi để không c̣n những rắc rối của cuộc phiêu lưu trong mối tương quan ngôi vị.
Quả thật, Satan đă hết sức tinh ranh trong những cám dỗ này. Chỉ cần loại trừ được sự tự do của con người trên hành tŕnh đức tin là có thể phá hủy được toàn bộ chương tŕnh cứu độ của Chúa Giêsu. Không có tự do, con người không có khả năng yêu thương, không c̣n có thể được mời gọi đi vào nẻo đường yêu thương, và không có cách nào truy nhận Thiên Chúa như là chính Ngài, một Thiên Chúa yêu thương.
Cám dỗ của Satan chẳng những phá hủy nhiệm cục cứu độ trong Đức Giêsu Kitô, nhưng c̣n “sửa lại” chính chương tŕnh sáng tạo của Thiên Chúa. Khi ấy, con người không thể hiện được h́nh ảnh Thiên Chúa đă được ghi khắc trong bản chất người, nhưng biến thành những sinh vật giữa muôn ngàn sinh vật khác.
Con người không chỉ “là người”, nhưng c̣n phải “làm người”. Từ yếu tính “là người” cho đến phẩm chất “làm người” là cả một hành tŕnh khó khăn, chênh vênh, nhưng cũng đẹp đẽ và hiên ngang biết bao. Hành tŕnh ấy không thể theo chiều hướng đi xuống cách dễ dăi để trở nên như các sinh vật khác; chẳng phải chỉ là một đường ngang bế tắc, bít bùng; nhưng phải là hành tŕnh siêu việt có khả năng vươn tới ngôi vị con người và tới một Thiên Chúa ngôi vị.
4. VẬn mẠng con ngưỞi là gẶp gƠ trong yêu thương
4.1 Vận mạng con người
Con người được sáng tạo theo h́nh ảnh Thiên Chúa, đó là con người được mời gọi thể hiện vận mạng của ḿnh trong sự gặp gỡ, yêu thương giữa con người với nhau và với chính Chúa. Công Đồng Vatican II đă khẳng định điều đó như sau :
“Vậy con người là ǵ ? Con người đă và c̣n đang đưa ra nhiều quan niệm về chính ḿnh, nhưng quan niệm khác nhau và đôi khi trái ngược nhau. Theo những quan niệm đó, thường con người tán dương ḿnh như một mẫu mực tuyệt đối hay lại chê bai đến độ tuyệt vọng, từ đó con người hoài nghi và lo lắng. Thông cảm sâu xa được những khó khăn này, Giáo hội, v́ được Thiên Chúa là Đấng mạc khải dạy dỗ, có thể đem lại câu giải đáp cho những khó khăn ấy, nhờ đó diễn tả được thân phận đích thực của con người, giải bày những yếu hèn, đồng thời có thể nh́n nhận xác đáng phẩm giá và thiên chức của con người.
Thực vậy, Thánh Kinh dạy rằng con người đă được tạo dựng ‘theo h́nh ảnh của Thiên Chúa’ có khả năng nhận biết và yêu mến Đấng Tạo Dựng ḿnh, được Ngài đặt làm chủ mọi tạo vật trên trái đất để cai trị và sử dụng chúng mà ngợi khen Thiên Chúa, v́ ‘thế nhân là chi để Ngài nhớ đến? Hay con người là ǵ để Ngài phải bận tâm ? So với thiên thần Ngài có để cho thua mấy tí. Vinh dự huy hoàng là triều thiên Ngài ban tặng. Ngài cho thống trị các kiệt tác tay Ngài làm, muôn sự Ngài đă đặt dưới chân’ [Tv 8,5-7].
Nhưng Thiên Chúa đă không dựng nên con người cô độc; bởi v́ từ khởi thủy ‘Ngài đă tạo dựng có nam và có nữ’ [Stk 1,2-7]. Sự liên kết giữa họ đă tạo nên một thứ cộng đoàn đầu tiên giữa người với người. Thực vậy, tự bản tính thâm sâu của ḿnh, con người là một hữu thể có xă hội tính và nếu không liên lạc với những người khác con người sẽ không thể sống và phát triển tài năng ḿnh” [MV 12,b,c].
Như thế, phẩm chất người, một cách chính yếu, không tùy thuộc vào khả năng của lư trí để thống trị muôn vật, nhưng nằm trong những thái độ của con người đối với Chúa và với nhau. Nói cách khác, “Thiên Chúa là t́nh yêu” [1 Ga 4,8b], nên con người được sáng tạo nên giống Chúa cũng không thể là ǵ khác hơn t́nh yêu. Do đó mà tất cả giới răn của Chúa cũng chỉ tóm lại trong giới răn “Mến Chúa yêu người“ [xc. Mt 22,34-40], và như thánh Phaolô nói “yêu thương th́ chu toàn Lề Luật vậy” [Rm 13,10b], Thánh Gioan nói “Ai yêu thương anh em ḿnh th́ ở lại trong ánh sáng” [1 Ga 2,10], và ngược lại “Ai không yêu thương th́ không biết Thiên Chúa” [1 Ga 4,8a].
Tất cả những điều đó cũng là lời khẳng định của Thánh Kinh về b́nh diện phẩm giá của con người, mà từ đó ta có thể xác định được khía cạnh tương quan ngôi vị như một nét căn bản.
4.2 Hành tŕnh gặp gỡ
Mối tương quan ngôi vị bao hàm ư nghĩa là : sống là sống như một chủ thể đối diện với một chủ thể khác; và khi con người thiết lập nên được mối tương quan chân chính với ngôi vị khác, mối tương quan yêu thương chân chính, nghĩa là, người này với người kia, phải biết khẩn cầu nhau như một chủ thể độc đáo không thể thay thế, th́ khi ấy, vận mang con người mới được hoàn thành. Triết gia Gabriel Marcel [1889-1973] cho ta một vài “tiêu chuẩn” như sau :
- Chỉ có sự gặp gỡ của hai chủ thể chứ không có sự gặp gỡ giữa chủ thể và đối tượng. Như thế ta chỉ đạt đến tha nhân nhờ sống với chứ không phải bằng tư tưởng hiểu biết. Sự gặp gỡ là chân thực khi ta coi tha nhân như một “anh/chị” [ngôi thứ hai] chứ không phải một “hắn” [ngôi thứ ba]. Hơn nữa, với một chủ thể ta phải biết chờ đợi và hy vọng chứ không phải thái độ xăm soi khám phá.
- Như thế, sự gặp gỡ chân chính bao giờ cũng phải là một sự dấn thân, tức là đưa chính bản thân ḿnh vào mối tương quan như một cuộc phiêu lưu. Một cuộc dấn thân như thế chỉ có thể là dấn thân cho tha nhân mà thôi, không bao giờ là sự dấn thân cho sự vật. Một sự dấn thân chỉ v́ lư tưởng của chính bản thân ḿnh mà thôi cũng vẫn không thể đạt đến sự gặp gỡ đích thực.
- Cuối cùng, thái độ dấn thân ấy đưa đến thái độ truy nhận tầm quan của tha nhân đối với bản thân ḿnh. Thái độ ấy bao hàm một sự khẩn cầu đối với tha nhân, và chỉ có thái độ khẩn cầu mới mở đường cho t́nh yêu đích thực; bởi v́ t́nh yêu bao giờ cũng là một sự bổ túc nhân vị cho nhau chứ không phải chiếm hữu, thống trị hay chỉ là một sự phát triển bản thân mà thôi. Khi đó, ta t́m thấy cái chúng ta như chân trời rộng mở cho hữu thể của ḿnh.
Không có cách nào khác, hành tŕnh của đời người phải là hành tŕnh dấn thân, nghĩa là đi vào cuộc phiêu lưu với những chủ thể khác. Chính trong hành tŕnh ấy, cùng với niềm trân trọng, với thái độ khẩn cầu tha nhân, con người t́m gặp được chính ḿnh.
5. NhỮng lỆch lẠc trong đỜi sỐng đỨc Tin Kitô giáo
Trong đời sống đức Tin hiện nay, chúng ta có thể thấy tinh thần so đo tính toán vụ lợi, thái độ nệ luật, lối sống vị luân lư… như là những biến hóa của thái độ thực dụng. Những lối sống này luôn là những cách thức con người t́m an toàn cho bản thân, biến sứ mệnh đời ḿnh thành một con đường dễ dăi, con đường quay về bản thân ḿnh chứ không phải con đường liên đới, hiệp thông và chiều ư nhau trong t́nh yêu thương chân chính. Chúng ta có thể thấy đường nét thực dụng ấy trong hầu hết những điểm trọng tâm của đời sống đức Tin Kitô giáo hiện nay :
- Người Kitô hữu chỉ coi thái độ của con người trước mạc khải chính Chúa như là sự chấp nhận những chân lư siêu vời, và cần phải nhắm mắt tin nhận để được lên thiên đàng;
- Người Kitô hữu chỉ đón nhận ân sủng như là những sự vật, nghĩa là những món quà từ Thiên Chúa mà không c̣n khả năng nhận ra “món quà” chính yếu là chính Đấng Ban ân sủng, t́m kiếm “ân sủng thụ tạo” mà quên mất “ân sủng bất thụ tạo”[5].
- Người Kitô hữu tham dự các bí tích như là đến với những “máy ban ơn phúc” chứ không phải sống lại giao ước ngôi vị giữa bản thân ḿnh và chính Chúa;
- Người Kitô hữu Công giáo đọc lời Chúa như là những bài học luân lư chứ không mấy khi nhận ra Lời Chúa là lời ngỏ với chính bản thân; và việc đáp lại lời ngỏ của Ngài làm nên một lịch sử nghĩa t́nh;
- Người Kitô hữu giữ đạo chỉ là giữ giới răn, và giữ giới răn như một sự chịu vậy, nghĩa là không sống được thái độ tự do của con cái Chúa, nhưng là tinh thần nô lệ.
- Người Kitô hữu mong lên trời để hưởng mọi sự vui sướng chứ không phải để được sống trong t́nh yêu Thiên Chúa.
- Người Kitô hữu cầu nguyện chỉ là xin ơn chứ không phải một sự trao đổi thân t́nh như hiến tặng cho Chúa chính tâm hồn của ḿnh.
Ngoài ra, chúng ta cũng có thể nói rằng, tất cả những căn bệnh trầm kha trong đời sống Giáo hội Công giáo Việt Nam, “đạo” sinh hoạt, “đạo” hiếu kính, “đạo” thiêng liêng, “đạo” luân lư đều là những biến thể của căn bệnh chính yếu, “đạo” thực dụng. V́ không gặp gỡ chính Chúa, người Kitô hữu dừng lại ở thế giới sự vật và loay hoay ở mức độ sinh hoạt, mức độ danh giá, mức độ thế giới “thiêng liêng” và mức độ hành vi luân lư.
Những thái độ ấy biến đời sống đức Tin trở thành những khuôn khổ cứng đọng mà người ta phải tuân giữ cách “nghiêm nghị”. V́ thế, người Kitô hữu sống đạo không t́m thấy hạnh phúc của t́nh yêu thương mà chỉ thấy gánh nặng và sợ hăi. Có quá nhiều cái “phải” trong đời sống Kitô giáo; thậm chí có sách nghi thức c̣n viết rằng : “Anh chị đă lănh nhận bí tích Rửa Tội, giờ đây, anh chị c̣n phải lănh nhận một bí tích khác nữa là bí tích Thêm Sức”. Đúng là các anh chị phải lănh nhận bí tích Thêm Sức th́ sau này mới có thể lănh bí tích Hôn Phối hay Truyền Chức; nhưng đó là quan điểm hoàn toàn vụ luật. Những thứ “phải” ấy phần lớn đều biểu lộ thái độ nô lệ cho sự vật, nô lệ nguyên tắc, nô lệ lề luật chứ không phải thái độ gặp gỡ chính Chúa và hiên ngang làm chủ mọi sự vật để dùng chúng làm phương tiện diễn tả t́nh nghĩa với Chúa. Nhiều vị hữu trách trong Giáo hội vẫn tŕnh bày đời sống đức Tin với đầy dẫy những nghĩa vụ, những cấm đoán. Đời sống của người tín hữu Việt Nam chỉ c̣n có “Mười Điều Răn” mà không có “Bẩy Ơn Thánh Thần”.
Chính những thái độ ấy phá hủy hạt nhân căn bản của Kitô giáo và tạo nên một sự khủng hoảng căn tính trong đời sống đức Tin. Bởi v́ người Kitô hữu đă không t́m thấy nét đẹp và niềm tự hào của con cái Chúa như ư nghĩa chân chính của niềm tin có khả năng nuôi dưỡng trọn vẹn đời sống.
Cha mẹ thương con cái và diễn tả t́nh thương ấy bằng cái bánh, món đồ chơi, chiếc áo mới . . . Đứa con nào chỉ thấy đồ chơi, chỉ thấy bánh kẹo, chỉ thấy áo quần và so đo tính toán trên những sự vật ấy, sẽ có nguy cơ trở thành đứa con hư. Ngược lại, đứa con nào cảm nhận được chính bản thân cha mẹ, chính t́nh thương cha mẹ qua những tặng vật ấy, th́ có nhiều cơ may nên người. Những đứa trẻ thực dụng sẽ dễ trở thành những kẻ suốt đời hưởng thụ và đ̣i hỏi. Những đứa trẻ sống t́nh người sẽ dễ dàng t́m thấy động lực và ư nghĩa cho hành tŕnh cuộc đời. Đời sống đức Tin Kitô giáo cũng không ra ngoài quy luật đó.
Hơn nữa, tất cả những điều tuyệt hảo nhất của Kitô giáo đều diễn ra ở tầm mức tương giao ngôi vị. Đánh mất tầm mức này cũng là đánh mất chính bản chất Kitô giáo. Những sai lệch trong hầu hết mọi nét chính yếu của đời sống đức Tin Kitô giáo[6] như thế có lẽ không phải là một chuyện t́nh cờ, mà chính là nguy cơ rơi vào cơn cám dỗ của Satan đối với Giáo hội của Chúa Kitô.
Dụ ngôn dành cho những nhà giáo dục tôn giáo
Một con cừu thấy một khe hở ở trong hàng rào nên đă lách ḿnh đi qua. Nó đă phiêu lưu khá xa và lạc mất đường về. Bấy giờ nó nhận thấy một con chó sói đang đuổi bắt. Nó cong lưng chạy nhưng con chó sói vẫn rượt theo cho tới khi người chăn cừu xuất hiện để cứu nó và âu yếm đem nó về chuồng.
Mặc dù nhiều người khuyên bảo, người chăn cừu vẫn không chịu đóng một miếng ván vào khe hở hàng rào.
Anthony de Mello, Như Tiếng Chim Hót,
- trang 150-151
Trần Mỹ Duyệt
Mỗi lần suy về Chúa Ba Ngôi, Kitô hữu chúng ta đều có cùng một cám dỗ là muốn hiểu và muốn biết Thiên Chúa như thế nào? Và tại sao một Thiên Chúa mà lại có ba ngôi.
Cơn cám dỗ trên không những đă trở thành một cám dỗ đầy thu hút, đầy ṭ ṃ đối với những trí khôn b́nh thường, nhưng nó đă trở thành một thách đố đối với những trí khôn thông minh và thánh đức như của Augustine chẳng hạn. Rất tiếc không ai trong nhân loại có thể dùng cái lỗ cáy trí tuệ của ḿnh để chứa đựng biển cả càn khôn của Thiên Chúa được.
Thật khó để trí khôn con người có thể tri thức được Thiên Chúa. Càng không thể được khi con người muốn mổ xẻ, phân tích Thiên Chúa Ba Ngôi trong bản thể và thiên tính của Ngài; trong đó với ba Ngôi Vị: Cha, Con và Thánh Thần. Ba Ngôi là một Thiên Chúa. Augustine đă sa vào cái chước cám dỗ này, và v́ thành tâm kiếm t́m chân lư, ông đă được tha thứ. Có lẽ rút được kinh nghiệm ấy, nên Tôma A’quinas đă tỏ ra dè dặt và khiêm tốn hơn khi viết về Thánh Thể: “Ta hăy lấy Đức Tin bù lại, nếu giác quan không cảm thấy ǵ”. V́ chỉ có Đức Tin mới làm cho chúng ta tin rằng tấm bánh đă được truyền phép kia là Thánh Thể Chúa Giêsu. Và cũng chỉ có Đức Tin mới làm cho chúng ta tránh khỏi những thắc mắc về Thiên Chúa Ba Ngôi là điều tự nhiên con người muốn biết, nhưng ngược lại, không thể nào biết được.
Trong cái nh́n tự nhiên, điều làm cho con người dễ bị cám dỗ để phân tích về Chúa Ba Ngôi là những h́nh ảnh mà ta thường thấy “vẽ” về Thiên Chúa. Những h́nh ảnh mà trong đó Chúa Cha được tŕnh bày bằng h́nh một ông già râu tóc bạc phơ. Chúa Con với h́nh ảnh một thanh niên, đẹp trai, có mái tóc ngang vai, và bộ râu đầy tính nam giới. Và Chúa Thánh Thần qua h́nh ảnh một con bồ câu trắng với những luồng sáng tỏa quanh.
Hơn nữa, những điều mà phần đông Kitô hữu đă học thuộc ḷng nhưng ít khi thấu triệt, đó là Chúa Cha “sinh ra” Chúa Con. Chúa Con “sai” Chúa Thánh Thần xuống nhân danh Ngài sau khi Ngài đă về trời. Giữa “cha” và “con”. Và Chúa Thánh Thần là “t́nh yêu” của Ba Ngôi Thiên Chúa.
Giữa kẻ “sai” và người “bị sai” đă tạo nên một h́nh ảnh hết sức mơ hồ, lẫn lộn và khó hiểu. H́nh ảnh ông già, chàng thanh niên, và chim bồ câu lại tạo nên một sự so sánh, mà tự nhiên khiến ta không dễ chấp nhận đó là Ba Ngôi Thiên Chúa: Cha, Con và Thánh Thần. Làm thế nào Chúa Cha lại “sinh ra” Chúa Con mà không có mẹ. Và làm thế nào Chúa Thánh Thần lại được coi là t́nh yêu của giữa Cha và Con. Làm sao Thánh Thần lại bị “sai” xuống với các Tông Đồ và các tín hữu do Chúa Con.
Chúa Cha có phải là ông bố, và Chúa Con có phải là anh con trai. Và Chúa Thánh Thần có phải là một gạc nối giữa hai bố con ấy không? Và đó có phải là h́nh ảnh thật của Thiên Chúa Ba Ngôi không? Chắc chắn Thiên Chúa Ba Ngôi không phải là thế, nhưng là sao th́ chúng ta cũng không thể biết được, và c̣n lại duy nhất đức tin và những cảm nhận bằng t́nh yêu được thể hiện mà con người có thể nhận ra được bằng tấm ḷng thành kính và khiêm tốn.
Thật vậy, điều Augustine không làm đưọc, và đầu óc ông không thấu triệt được, th́ Thánh sử Gioan đă hé mở khi viết: “Thiên Chúa là t́nh yêu” (1 Gioan 4:8). Qua định nghĩa này, con người có thể và có khả năng cảm nhận được sự hiện hữu cũng như hiểu được phần nào Thiên Chúa như thế nào. V́ có ai mà không yêu và muốn được yêu? T́nh yêu, do đó, được coi như một nhu cầu và bản năng cần thiết cho cuộc sống con người. Thiếu t́nh yêu con người sẽ trở thành khô cằn, thảm sầu, thất vọng, khốn khổ và sẽ chết. Chính v́ thế, Thiên Chúa đă thông ban và chia sẻ t́nh yêu của Ngài cho thụ tạo, đặc biệt là với con người.
Theo giáo lư, Ngôi Cha yêu Ngôi Con và t́nh yêu ấy chính là Ngôi Thánh Thần. Sự gắn bó giữa Cha, Con, và Thánh Thần làm nên một cộng đồng yêu thương giữa Ba Ngôi và trong Chúa Ba Ngôi. Chính ở t́nh yêu này Thiên Chúa trở thành hạnh phúc, sung măn, và qua hành động thông ban, chia sẻ hạnh phúc của Ngài cho nhân loại, Ngài đă trở nên tốt lành, đáng mến, và đáng tôn thờ.
Do t́nh yêu, Ba Ngôi Thiên Chúa hiệp nhất và quân hoà trong những khác biệt giữa ngôi vị, và công việc. Theo Thánh Kinh, Ngôi Cha được biết đến qua hành động tạo dựng. Ngôi Con được biết đến qua hành động cứu chuộc. Và Ngôi Thánh Thần được biết đến qua hành động thánh hóa. Và cả Ba Ngôi hợp lại trở nên một Thiên Chúa đầy t́nh yêu, tốt lành, đáng mến, hạnh phúc và quyền năng vô biên.
Tóm lại, cảm nhận t́nh yêu Thiên Chúa Ba Ngôi trong việc tạo dựng, cứu chuộc và thánh hóa là cách thức dễ dàng nhất và thực tế nhất mà con người có thể làm khi suy về Chúa Ba Ngôi. Đặc biệt khi suy về t́nh yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa trong chính sự yêu thương nội tại của Ngài, và trong việc Ngài chia sẻ t́nh yêu ấy với các loài thụ tạo, trong đó có con người. Chúng ta qua Đức Tin và Thánh Kinh cảm nhận được t́nh yêu tạo dựng, t́nh yêu cứu độ, và t́nh yêu thánh hóa. Do một nguồn mạch yêu thương duy nhất là Thiên Chúa, và do cùng một Đấng Tạo Hóa.
Không do t́nh yêu Thiên Chúa vũ trụ và mọi sinh vật hữu h́nh và vô h́nh đă không được tạo dựng nên. Không do t́nh yêu Thiên Chúa, nhân loại đă không được cứu độ, và Chúa Giêsu đă không đến với trần gian, đă không mặc khải cho nhân loại biết về Thiên Chúa. Và nếu không do t́nh yêu Thiên Chúa, nhân loại dù đă được cứu chuộc vẫn không về được vĩnh hằng v́ không được thánh hóa và giúp cho hiểu được và biết cách xử dụng ơn huệ ấy.
- Cảm nghiệm t́nh yêu, do đó, là một nhận thức rơ ràng về sự có mặt của Thiên Chúa, về cách thức Ngài hành xử và yêu thương con người, cũng như về đường lối Ngài cứu chuộc và thánh hóa con người. Nhưng rồi con người đối lại với t́nh yêu Thiên Chúa như thế nào? Và trong tương quan t́nh yêu ấy, con người đối xử với nhau như thế nào? Đó là những vấn nạn cần thiết để con người hiểu và yêu mến Thiên Chúa, hơn là dùng lư lẽ và trí khôn ḿnh phân tích hoặc mổ xẻ về Thiên Chúa là điều mà không những con người mà ngay cả thần thánh trên thiên đ́nh cũng không làm được. Bởi v́ Ngài là Thiên Chúa toàn năng, hằng hữu, vỹ đại, và uy quyền từ muôn thuở.
LỬA
Bênêđitô Đỗ Quang-Vinh
1
Không phải chỉ là một vùng mờ tối. Không phải như sương mù giăng trên khắp lối. Không phải như lúc trời choạng-vạng nhá-nhem. Cũng không phải rộng như một bức màn đêm. Nhưng tất cả là tối đen dầy đặc.
Đen như mực chảy. Đen như gỗ cháy. Đen mênh-mông trên không-trung. Đen tràn lan trên mặt đất. Đen chất-chồng lên cao ngất. Đen lênh-láng trên biển sông. Đen ùn-ùn như mây khói. Đen sừng-sững như non cao. Đen chặn bít lối ra vào. Đen đầy lấp cả trời đất. Đen không một kẽ hở. Đen cho t́nh người tan vỡ. Đen khiến nhân-luân sụp đổ. Đen đến ghê sợ. Đen rùng ḿnh sởn óc. Đen tanh mùi chết-chóc. Đen chụp kín lên hồn tôi. Thôi chết tôi rồi! Lạy Chúa tôi ơi, xin cứu lấy tôi! Con xin Ngài cho con đốm lừa, chân tay con sẽ chẳng c̣n co-quắp nữa như người lữ-hành chết cứng giữa rừng tạm-tối xa-xôi.
2
Không hạn hẹp nhỏ bé, nhưng dồi-dào quảng-đại như mạch nước múc măi không vơi. Lửa phân-phát chia sẻ. Lửa tiếp nối chuyền tay đi đến mọi nơi. Lửa triển-khai không giới-hạn. Lửa chạy dài đến vô-biên. Lửa cháy tiếp-liên. Lửa sáng triền-miên. Lửa chảy ra biển khơi. Lửa trèo lên đỉnh núi. Lửa múa trên ngọn cây. Lửa ngập cả đất trời. Lửa đẩy sập thành đêm. Lửa soi đường dẫn lối. Lửa sáng trưng khắp miền. Lửa rực cháy cung thiên.
Con xin Ngài cho con đốm lửa. Chúng con chẳng c̣n xa nhau nữa. Chúng con chia nhau Lừa sáng lung-linh, chan-chứa ân-t́nh, ngụt bốc thương yêu. Chúng con sẽ nh́n rơ mặt nhau trong cùng một bầy chiên tan ră, nay quây-quần dắt-d́u nhau trong biển Lửa siêu-nhiên, Lửa in rơ bóng Thiên-Chúa nhân-hiền.
3
Con trân-trọng lửa hồng. Con nâng-niu ánh sáng, dẫu chỉ là đốm sáng của ngọn đèn hiu-hắt, con vẫn ước mong. Có lửa hồng, con vững bước đi như có người dẫn dắt. Có lửa hồng, con được sưởi ấm như hết rồi giá rét của đêm đông.
Chúa ơi, giữ lửa cho con, xin đừng để tắt, kẻo tối-tăm hận-thù sẽ ào-ạt tràn tới tấn-công; kẻo bóng đêm gian dối sẽ ập vào chiếm cứ hồn con; kẻo bóng đêm tàn-nhẫn lạnh-lùng làm con rét run tê cóng; kẻo bóng đêm tai-ương thảm-hoạ khiến con sợ-hăi cô-đơn.
Chúa ơi, giữ lừa cho con, xin đừng để tắt. Lửa hắt bóng con in trên nền vách, con đối-diện hồn con và con gặp lại bản-thân; con thấy con là mọn hèn, là xấu-xa, là nhuốc-nha đáng trách. Tội-t́nh này xin Chúa xóa bỏ, con quyết ăn-năn. Tội-t́nh này sẽ huỷ-diệt trong lừa hồng nung-nấu. Con sẽ không c̣n là thanh sắt lăn-lóc rỉ han. Con sẽ được thanh-tẩy làm nên kho-tàng chất-chứa t́nh Cha yêu-dấu. Con sẽ được tôi-luyện uốn nắn cho Ngài dùng làm khí-cụ b́nh-an. Con sẽ nóng đỏ mềm-mại như chính lừa hồng thiêu-đốt kết con nên một chẳng thể phân ly. Con sẽ được đóng ấn như thành Xô-Đô-Ma năm xưa ghi dấu thiên-uy.
4
Ôi! Lửa đẹp nhiệm-mầu muôn vẻ.
Lửa đẹp thanh-khiết tinh-tuyền.
Lửa cháy thơm lễ-vật hiến-tế.
Lửa hân-hoan lời kể-lể hàn-huyên.
Lửa toả khói vương trên mái thôn im vắng:
Lửa là tin mừng của tồn-tại sự sống.
Lửa nuôi niềm hy-vọng
cho người lạc bước cô-đơn.
Lửa lung-linh vàng óng.
Lửa hừng-hực cháy sáng.
Lửa giơ tay vươn.
Lửa múa chập-chờn.
Lửa vẫy gọi nài van.
Lửa nhảy mừng chiến-thắng.
Lửa vỗ tay reo khúc khải-hoàn.
Lửa chẳng thể cân đong.
Lửa đơn-giản khôn lường.
Lừa là sức mạnh vô song.
Lửa phong-phú phi-thường.
Lừa cho hết tùy khả-năng tiếp đón.
Con ước chi tim con thật rộng lớn.
Tim con sẽ thành ḷ lửa ngùn-ngụt cháy
măi yêu thương.
5
Lạy Chúa yêu thương!
Chúa là t́nh yêu, Chúa là lửa hồng rực sáng. Xin Chúa thổi hơi, để cơn băo lửa cuồn-cuộn đốt cháy tim con, cho t́nh hiệp-thông luôn-luôn bền vững, cho t́nh hiệp-thông măi-măi sắt son, cho t́nh hiệp-thông hùng-hồn minh-chứng: là con-cái của T́nh Yêu, Sự Sáng, con hằng mang trọn h́nh-ảnh của Thiên-Chúa từ-nhân.
Chúa ơi, giữ lửa cho con, xin đừng để tắt! Để con suốt đời phản-ánh trung-thành t́nh Cha chất ngất. T́nh Cha không đổi-chác. T́nh Cha rẵt chân-thật. T́nh Cha rất mênh-mông. Để con thấy rằng, dẫu có tận-hiến yêu Cha, t́nh con cũng không thể nào cân-xứng, con chỉ là người "tôi-tớ vô-dụng chậng đáng lấy côngỂ.
Chúa ơi! Hăy nổi cơn dông, để Lừa Trời cuốn con lên với Chúa! Chân tay con sẽ chẳng c̣n co-quắp nữa, như người lữ-hành chết cóng giữa miền băng tuyết lạnh giá đêm đông.
[1] Những trích dẫn sách Sáng Thế trong bài này lấy từ bản dịch của linh mục Nguyễn Thế Thuấn, Ḍng Chúa Cứu Thế.
[2] Theo định nghĩa của Boèce [480-525], được triết học Kinh viện sử dụng, ngôi vị là : bản thể cá thể thuộc bản tính có lư trí. Nói cách đơn giản, con chó, con mèo… chỉ là những cá thể; nhưng con người, thiên thần, Thiên Chúa [Thiên Chúa của Thánh Kinh] là những ngôi vị. Ngôi vị có lư trí suy tư [nhất là suy tư giá trị], có ư muốn và có tự do quyết định. Trong bài này dùng nhiều từ “tương quan ngôi vị”, được hiểu là mối tương quan giữa các ngôi vị, thuộc b́nh diện ngôi vị, có tự do, suy tư, ư muốn…
[3] Chẳng hạn những học thuyết triết học Hy Lạp sau thời kỳ của Aristote đều nhằm t́m cái ataraxia, sự thanh thản; nhờ thái độ tự chủ [phái Khắc Kỷ] và hồn nhiên [Épicure], không vướng bận, không lo sợ, không đ̣i hỏi điều ǵ quá sức ḿnh…
[4] Fiôdor Dôxtôepxki, Anh Em Nhà Karamazôp, Chương V, Viên Đại Pháp Quan Tôn Giáo, bản dịch của Phạm Mạnh Hùng, Nxb. Văn Học, Hà Nội 1989, trang 78-80.
[5] Xc. Nguyễn Trọng Viễn, Gặp Gỡ Chính Chúa, Chân lư 2003, trang 181-186.
[6] Xc. Nguyễn Trọng Viễn O.P. “Gặp Gỡ Chính Chúa” hay “Hành Tŕnh từ Thái độ Thực dụng đến sự Tự do của con cái Chúa”, Chân lư 2003. Những suy niệm trong tập sách này là một cố gắng giải gỡ tinh thần thực dụng trong những điểm trọng yếu của đứcTin Kitô giáo.