Tâm Linh Vào Đời

 

 

Số 26  Ngày 21.07.2006

 

   Li Gii Thiu

 

Trước đây khi c̣n là hồng y, giáo chủ Bênêđictô cũng đă tin tưởng rằng nếu chúng ta không t́m lại cái căn tính Kitô giáo (Christian Identification) của ḿnh, chúng ta sẽ không đứng vững được trước những thử thách của thời đại. Ngài cũng nhấn mạnh rằng điều ta cần thực sự là các Kitô hữu "tỉnh thức trong đáy hồn sâu thẳm," sống với Kitô giáo như nguồn hạnh phúc và hy vọng, qua đó họ trở thành ngọn lửa của t́nh yêu và v́ thế ta gọi họ là thánh nhân thời đại.

Lẽ ra chúng tôi dùng từ căn tính, nhưng v́ nó nghe có vẻ b́nh thường. Tôi đă biết một vài cộng đ̣an công giáo đă từng nêu lên căn tính Kitô hữu, nhưng chẳng ai muốn đào sâu thành thử họ chỉ hiểu rất lơ mơ. Chính v́ thế chúng tôi cố t́nh dùng tư Thiên Tính để gây sự chú ư, theo dơi xem Thiên Tính – chính là căn tính – của người Kitô hữu chúng ta như thế nào…

Tamlinhvaodoi số 24, nhân cơ hội sự kiện Da Vinci, tác giả Khổng Nhuận đă để nêu ra vấn đê Thiên Tính của Đức Giêsu. Sau đó, trong Tamlinhvaodoi số 25, chúng ta lại được làm quen với “Thiên Tính của người Kitô Hữu” . Nhưng v́ cảm thấy cần phải làm sáng tỏ thêm, chúng tôi xin giới thiệu bài Giải mă Thiên Tính của Đức Giêsu

Muốn Thiên Tính lộ ra, chúng ta hăy  “Đánh Rơi Cái Tôi”. Đỗ Tân Hưng  chuyển ngữ theo tác giả Anthony De Mello.

Linh Kỳ cũng muốn góp ư về chủ đề hấp dẫn này qua bài “Thiên Tính của  người Công giáo – Tiềm năng bị lăng quên dưới lớp bụi thời gian”.

 Ban biên tập rất vui mừng, sung sướng và cảm động khi nhận được hai bài Phản hồi của linh mục Joseph Son T. Nguyen và linh mục Giuse Nguyễn Thế Quang. Chúng tôi xin chép lại cùng với một chút ư kiến của Ban biên tập được viết bằng những ḍng chữ đỏ.

Cuối cùng, Trần Mỹ Duyệt chuyển ngữ bài giảng của Đức Beneđictô XVI  “Cha mẹ được kêu gọi làm chứng cho Đức tin và hy vọng của họ” đă nhắc nhở về nguồn gốc nơi chúng ta xuất phát: Cha của  Đức Giêsu và cũng là Cha của  chúng ta.

Rất mong quư độc giả góp ư thêm bằng những bài ḥan chỉnh để chúng ta khích lệ nhau khám phá ra căn tính của  người Kitô hữu để cuộc đời sống đạo của  chúng ta ngày càng vui tươi,  nhẹ nhàng, dồi dào và hạnh phúc hơn.

 

 

 

Giải mă Thiên Tính

của Đức Giêsu

 

Khổng Nhuận

 

Chúa Cha – Thiên Tính cội nguồn

 

Lần trước chúng tôi đă khẳng định Thiên Tính của Đức Giêsu chính là Chúa Cha, nhưng chưa dẫn chứng cụ thể, nên có người cho rằng viết như thế  hơi có tính cách khiên cưỡng. Chính v́ thế trong bài này, chúng tôi xin dược chia sẻ rơ hơn về  Thiên Tính của Đức Giêsu.

 

Trong cuộc tranh luận về nguồn gốc của đấng Kitô, Gioan đă ghi như sau

  Bấy giờ có những người ở Giê-ru-sa-lem nói:

"Ông này không phải là người họ đang t́m giết đó sao? Ḱa, ông ta ăn nói công khai mà họ chẳng bảo ǵ cả. Phải chăng các nhà hữu trách đă thực sự nh́n nhận ông là Đấng Ki-tô?

 Ông ấy, chúng ta biết ông xuất thân từ đâu rồi;

 c̣n Đấng Ki-tô, khi Người đến th́ chẳng ai biết Người xuất thân từ đâu cả."

 Lúc giảng dạy trong Đền Thờ, Đức Giê-su nói lớn tiếng rằng: "Các ông biết tôi ư? Các ông biết tôi xuất thân từ đâu ư? Tôi đâu có tự ḿnh mà đến. Đấng đă sai tôi là Đấng chân thật. Các ông, các ông không biết Người.

 Phần tôi, tôi biết Người, bởi v́ tôi từ nơi Người mà đến, và chính Người đă sai tôi."(Ga 7:25-29)

Gioan đă phân biệt quan niệm của người Do- thái:

Về con người Đức Giêsu, họ biết một cách tường tận khi nói với nhau: Ông không phải là con bác thợ sao? Mẹ của ông không phải là bà Ma-ri-a; anh em của ông không phải là các ông Gia-cô-bê, Giô-xếp, Si-môn và Giu-đa sao?56 Và chị em của ông không phải đều là bà con lối xóm với chúng ta sao?

Nhưng về con người đích thực – con người nội tâm - của Đức Giêsu, th́ chẳng ai biết. c̣n bản thân Đức Giêsu, ngài biết rất rơ, khi tuyên bố:

Đức Giê-su bảo họ: "Giả như Thiên Chúa là Cha các ông, hẳn các ông phải yêu mến tôi, v́ tôi phát xuất từ Thiên Chúa và bởi Thiên Chúa mà đến. Thật thế, tôi không tự ḿnh mà đến, nhưng chính Người đă sai tôi. (Ga 8:42)

Một trong những sứ mệnh quan trọng của Đức Giêsu đó là nói rơ, không con úp mở qua các dụ ngôn. Ngài đă mặc khải cho chúng ta biết về Chúa Cha - nguồn gốc đích thực của ḿnh.

25 Thầy đă dùng dụ ngôn mà nói những điều ấy với anh em. Sẽ đến giờ Thầy không c̣n dùng dụ ngôn mà nói với anh em nữa, nhưng Thầy sẽ nói rơ cho anh em về Chúa Cha, không c̣n úp mở….

27 Thật vậy, chính Chúa Cha yêu mến anh em, v́ anh em đă yêu mến Thầy, và tin rằng Thầy từ Thiên Chúa mà đến.28 Thầy từ Chúa Cha mà đến và Thầy đă đến thế gian. Thầy lại bỏ thế gian mà về cùng Chúa Cha." (Ga 16:25-28)

Như thế chứng tỏ Chúa Cha là Thiên Tính cội nguồn của con người của Đức Giêsu.

 

Chúa Cha – Thiên Tính trong cuộc đời của Đức Giêsu

 

Chúa Cha hiện diện trong con người của Đức Giêsu âm thầm, lặng lẽ nhưng là một sự hiện diện sâu thẳm chỉ một ḿnh Đức Giêsu cảm nghiệm mà thôi. Chính Ngài đă chia sẻ cho các môn đệ. Nhờ đó, ngày nay chúng ta mới biết được Thiên Tính của Đức Giêsu chính là Chúa Cha.

Đức Giêsu đă cảm nghiệm rất rơ Chúa Cha – Thiên Tính  của ḿnh và ngài sống trong Thiên Tính đó một cách nhuần nhuyễn tới độ ngài cảm thấy ḿnh kết hiệp nên một với Cha các trọn vẹn khi tâm sự với các môn đệ

Này đến giờ -và giờ ấy đă đến rồi- anh em sẽ bị phân tán mỗi người mỗi ngả và để Thầy cô độc một ḿnh. Nhưng Thầy không cô độc đâu, v́ Chúa Cha ở với Thầy.(Ga 16:32)

Mạnh mẽ hơn nữa, khi Đức Giêsu tuyên bố con người đích thực của ḿnh với người Do Thái

Tôi và Chúa Cha là một." ((ga 10:30)

Và trước khi rời bỏ các môn đệ, Đức Giêsu đă khẳng định một điều như một di chúc đầy t́nh yêu thương:

“Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em, lên cùng Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của anh em” (Ga 20:17)

Sau thời gian kiếm t́m Thiên Chúa và sống trong Đức Kitô,  Phaolô đă khám phá ra con người đích thực của Đức Giêsu qua cảm nhận sau đây:

Người là phản ánh vẻ huy hoàng, là h́nh ảnh trung thực của Bản Thể Thiên Chúa. (Dt 1:3)

Thật vậy, nơi Người, tất cả sự viên măn của Thiên Tính hiện diện cách cụ thể, (Cl 2:9)

Thực vậy, Đức Giêsu là h́nh ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa – bản tính Thiên Chúa - và chính nơi Người tất cả sự viên măn của Thiên Tính hiện diện một cách cụ thể.

Hai lời Kinh Thánh này đă là một bằng chứng hiển nhiên chứng tỏ Chúa Cha đích thực là bản tính Thiên Chúa – Thiên Tính của Đức Giêsu.

 

Từ Thiên Tính của Đức Giêsu, chúng ta cũng nhận ra Thiên Tính của người Kitô hữu

 

Chúa Cha - Thiên Tính cội nguồn của  người Kitô hữu

 

Phaolô lúc đầu là tay bách hại các Kitô hữu, nhưng sau biến cố Damsa, Phaolô đă nghiên cứu và sống trong Đức Kitô một thời gian dài. Và Phaolô đă để lại cho chúng ta một khám phá tuyệt vời

Thật vậy, Đấng thánh hoá là Đức Giê-su, và những ai được thánh hoá đều do một nguồn gốc. V́ thế, Người đă không hổ thẹn gọi họ là anh em,12 khi nói: Con nguyện sẽ loan truyền danh Chúa cho anh em tất cả được hay, và trong đại hội Dân Ngài, con xin dâng tiến một bài tán dương…..Bởi thế, Người đă phải nên giống anh em ḿnh về mọi phương diện,  (Dt 2: 11, 17)       

Lời chia sẻ trên chứng tỏ mỗi người Kitô hữu chúng ta là đàn em đông đúc của  anh cả Giêsu và đều cùng phát xuất do một nguồn gốc là Chúa Cha. Chính v́ thế Thiên Tính của Đức Giêsu cũng là  của  người Kitô hữu.

Chúng ta có thể nhắc lại một lần nữa lời di chúc của  Đức Giêsu xác tín về Thiên Tính của  ḿnh một cách rơ nét hơn

“Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em, lên cùng Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của anh em” (Ga 20:17)

Hy vọng một chút chia sẻ trên sẽ giúp người Kitô hữu có dịp nh́n vào tâm hồn ḿnh để từ từ nhận ra Thiên Tính đích thực của ḿnh. chúng tôi nói từ từ v́ chắc chắn đây không phải là chuyện một sớm một chiều..mà có khi tới vài năm tới vài chục năm …tùy vào tâm t́nh khao khát và quyết tâm kiếm t́m của mỗi người.

Thiên Tính có thể ví như kho báu chôn trong thửa ruộng con người ḿnh. Muốn nhận ra, chúng ta phải kiếm t́m, đào bới bằng những suy tư, bằng những giờ phút thinh lặng bên Thánh Thể ..tháng này qua tháng khác…năm này qua năm khác… bỗng một hôm bỗng ngộ ra một điều mà ḿnh vốn đă sẵn có từ muôn thủa: Căn tính của ḿnh chính là Chúa Cha – Thiên Tính cội nguồn của  người Kitô hữu

Chân thành mến chúc độc giả nhận ra Thiên Tính  của ḿnh càng sớm càng tốt để từ đó chúng ta có thể sống một cuộc sống dồi dào, b́nh an và hạnh phúc một cách đích thực…

 

 Trở về Lời giới thiệu

 

HĂY ĐÁNH RƠI

 “CÁI TÔI”

Antony De Mello

Chuyển ngữ: Đỗ Tân Hưng

 

ĐÁNH RƠI “CÁI TÔI”

Đệ tử nói: "Con đến để phục dịch thầy."

Minh Sư trả lời: "Nếu con đánh rơi “cái tôi”, sự phục dịch đương nhiên xảy tới."

Bạn có thể trao tặng của cải của bạn để nuôi sống người nghèo và nộp thân xác của bạn để chịu thiêu chịu đốt nhưng không chút mảy may t́nh thương đi kèm.

Bạn hăy giữ lấy của cải của bạn và hăy đánh rơi "cái tôi". Đừng tự thiêu: hăy thiêu cái "phàm ngă". T́nh thương sẽ đương nhiên xảy tới.

 

HĂY ĐÁNH RƠI CÁI KHÔNG G̀ CẢ

Đệ tử nói: "Con đến với thầy mà không có ǵ trong tay hết."

Minh Sư trả lời: "Con hăy đánh rơi ngay lập tức!"

Đệ tử: "Nhưng làm sao con có thể đánh rơi được? Không có ǵ cả."

Minh Sư: "Vậy con hăy mang nó theo với con!"

”Cái không ǵ cả” của bạn có thể là vật sở hữu quí báu nhất của bạn.

 

KITÔ HỮU  VÀ THIỀN SƯ

Một Kitô hữu đến thăm một vị Thiền Sư và nói: "Xin thầy cho phép tôi đọc thầy nghe Bài Giảng Trên Núi."

 Thiền Sư đáp: "Tôi rất thích nghe.”

Người Kitô hữu đọc một câu rồi ngước mắt lên nh́n. Thiền Sư mỉm cười nói: "Đấng đă phán những lời đó chắc chắn phải là một vị Giác Ngộ."

Người Kitô hữu cảm thấy khoái trá. Ông tiếp tục đọc. Thiền Sư ngừng lại rồi nói: “Những lời nói đó phải phát xuất từ Đấng Cứu Thế của nhân loại."

Người Kitô hữu cảm thấy thích thú. Ông tiếp tục đọc cho đến hết. Lúc bấy giờ Thiền Sư tuyên bố: "Người đă rao giảng như thế phải là Thiên Chúa."

Nổi vui mầng của người Kitô hữu thật vô bờ bến. Ông ra về, cương quyết sẽ trở lại một ngày khác để thuyết phục Thiền Sư trở thành Kitô hữu.

Trên đường về nhà, ông gặp Chúa Giêsu đứng bên vệ đường. Ông đă thưa với Chúa một cách khoái trá:

"Lạy Chúa, con đă làm cho người đó xưng ra Chúa là Thiên Chúa!"

Chúa Giêsu mỉm cười và nói: "Con đă làm ǵ hay đâu, ngoại trừ việc con thổi phồng cái tôi Kitô hữu của con mà thôi?"

 

Trở về Lời giới thiệu

 

THIÊN TÍNH Của Người Công Giáo

Tiềm Năng Bị Lăng Quên Dưới Lớp Bụi Thời Gian

Linh Kỳ 

 

Thiên Tính của người Công Giáo là ǵ?

Đang bữa ăn trưa với một số đồng nghiệp, câu hỏi tôi đặt ra với một chị bạn, cũng là một giảng viên giáo lư Công Giáo khiến chị có vẻ sửng sốt.

Ø      Sao em lại nói vậy, chúng ta là tạo vật, là những vật hèn mọn trước mặt Thiên Chúa, sao lại có Thiên Tính ? Nói vậy tội chết.

Chị trả lời một cách vội vă và bật cười nho nhỏ với câu trả lời của chính ḿnh.  Trong khi đó, các đồng nghiệp lảng sang chuyện khác như để trốn tránh một đề tài DỄ GÂY NÊN CẢM GIÁC MẠNH.

 

Thiên Tính của người Công Giáo là ǵ?

 

Lần thứ hai, tôi hỏi một người bạn học đă quen biết gần 20 năm.  Anh ngẩng đầu nh́n tôi với cặp mắt soi mói đến quái lạ.  Cuối cùng, anh đưa ra hàng loạt câu hỏi thay v́ câu trả lời:

1.    Mày c̣n đi nhà thờ không?

2.    Mày có Xưng Tội và Rước Lễ thường xuyên không?

Và cuối cùng, anh giáng cho tôi một câu hỏi tối quan trọng:

 3.  Mày c̣n tin Giê Su là Con Thiên Chúa không? 

MỘT... HAI... BA... thế là hết!   Những lời chất vấn và khiển trách nối đuôi nhau khiến tôi như bị CHẬN ĐỨNG LẠI bởi một bức tường của thân t́nh thay v́ câu trả lời đứng đắn cần phải có.

Nhưng rồi, câu hỏi vẫn c̣n đó.

(i) Thiên Tính của người Công Giáo là ǵ?

Và tại sao người Công Giáo b́nh thường, những "phó thường dân nước trời" lại luôn cố lảng tránh sự t́m hiểu về Thiên Chúa?

 

I.  Thiên Tính Của Người Công Giáo là ǵ?

    Thay v́ phải lảng tránh, là giáo dân Công Giáo, chỉ cần mở Thánh Kinh hay nhớ lại truyền thống Công Giáo, ai trong chúng ta cũng trả lời được sau vài phút suy nghĩ qua tŕnh tự rất đơn giản:

    (i) Thiên Tính của Thiên Chúa là ǵ?

    (ii) Và chúng ta giống ngài ở những điểm nào?

Nói đến đây, trong chúng ta ai cũng có thể h́nh thành một câu trả lời rất đa dạng về Thiên Tính của người Công Giáo:

 

Thiên Chúa là T́nh Yêu (God is love ) [1].  Chúng ta, những tạo vật thừa hưởng tính Yêu Thương của ngài, chúng ta cũng biết yêu và cũng là t́nh yêu, cho dù t́nh yêu của chúng ta nhiều khi không trọn vẹn.  T́nh Cha cao như núi Thái Sơn.  T́nh mẹ bao la không thua biển Thái B́nh.  T́nh vợ chồng thắm thiết măi ngàn năm, vv.

Trong Tâm Linh Vào Đời 25, có nhiều tác giả cho rằng: khi Thiên Chúa ở lại trong tôi, tiềm tàng nội tại và nên một với tôi nên tôi có Thiên Tính .  V́ đó, v́ đó, tôi có hành động YÊU THƯƠNG bởi ngài. Tôi có hành động thánh thiện cũng bởi ngài. 

Nhưng ở một khía cạnh khác, lịch sử Ki Tô Giáo là chuỗi ngày t́m kiếm sự cân bằng giữa ÂN SỦNG và TỰ DO.  Hay nói một cách khác, ngoài những hành động yêu thương do Thiên Chúa tác động, hành động Yêu Thương nào thuộc về sự Tự Do Yêu Thương của nhân loại?

Theo thiển ư của người viết, trong mỗi sinh vật, mỗi người đều tiềm tàng tiềm năng MUỐN  YÊU và MUỐN ĐƯỢC YÊU.  Phải chăng bản năng đó không mang ư nghĩa ǵ với Thiên Chúa trong công cuộc tạo dựng?  Lại cũng theo thiển ư của người viết, phải chăng Tính Yêu Thương đó chính là một phần Thiên Tính chúng ta thừa hưởng từ Thiên Chúa.  Lẽ dĩ nhiên, chúng ta không nên phạm thượng đem so sánh T́nh Yêu Nhân Loại với t́nh yêu Thiên Chúa.  Nhưng chắc hẳn, t́nh yêu nhân loại, ước muốn đó là nền tảng Chúa muốn chúng ta ǵn giữ và phát triển.

Từ ngàn xưa, con người ngỡ ngàng với đất trời, với vạn vật, nên họ tin nhận Chúa là Cha.

Cũng từ ngàn xưa, Thiên Chúa nhiều lần đến và tỏ ḿnh với nhân loại qua h́nh ảnh sấm sét, bụi lửa, vv.  Nhưng lần gần đây nhất, ngài đến với thế gian như một người con trong một gia đ́nh nhỏ, một cậu bé Giê Su trong xóm nhỏ, một bạn hữu Giê Su, một vị thầy Giê Su, và một Giê Su chịu chết cho nhân loại. 

Lần ngài đến với chúng ta qua h́nh ảnh nhân loại đó, t́nh yêu nhân loại đó, dường như đă dạy cho chúng ta biết: Thiên Chúa là T́nh Yêu.  Có lẽ, sợ dây liên kết của con người với Thiên Chúa trở nên trọn vẹn khi chúng ta ĐƯỢC YÊU (ÂN SỦNG) và YÊU (t́nh yêu do sự tự do đem lại).  Việc chúng ta ĐƯỢC YÊU bởi Thiên Chúa và MUỐN YÊU bởi sự tự do h́nh thành mối liên kết loài người với Thiên Chúa, loài người với nhau và cho các sinh vật khác.

 

Thiên Chúa Là Siêu Việt (transcendent) [2].  Chúng ta, loài người, cũng thừa hưởng phần nào Sự Khôn Ngoan, Hiểu Biết, Thông Minh, Biết Lo Liệu từ Thiên Chúa.  Trên quả đất này, thế giới này, loài người đă tạo nên cho chính họ biết bao kỳ quan.  Loài người thông minh và khôn ngoan vượt trội bao loài khác.  Họ t́m hiểu về Thiên Chúa.  Họ khám phá ra biết bao qui luật tự nhiên.  Loài người biết lo liệu cho chính ḿnh, cho hiện tại và mai sau.

Vấn đề là ở chỗ đó, ngoài sự khôn ngoan thuộc về Thiên Chúa, c̣n có sự khôn ngoan thuộc về loài người, mọi sinh vật.  Ngoài những "SỰ THẬT SIÊU NHIÊN" con người không thể nghĩ và với đến, vẫn c̣n những "SỰ THẬT", những QUY LUẬT có thể khám phá, những kỳ công có thể xây dựng hoàn toàn do trí óc, bàn tay, và lao công con người và các sinh vật tạo nên.  Bởi v́ khôn ngoan nhân loại chỉ là phản ánh khôn ngoan Thiên Chúa. Một đằng phát xuất từ trí óc, một đằng phát xuất từ Thần Khí Thiên Chúa, kỳ công của con người khác với kỳ công của Thiên Chúa

Một khi chúng ta quá TÍN NGƯỠNG để cầu xin ân sủng, cầu xin sự khôn ngoan, hiểu biết, thông minh, chúng ta đă đánh mất tiềm năng nơi chính bản thân, trở nên ù lỳ và không c̣n BIẾT LO LIỆU.

Và là một giáo dân Công Giáo, chúng ta đều có cùng một quan niệm: trong mỗi một người, đă tiềm tàng sự sống vĩnh cửu - đó là linh hồn (linh hồn bất tử do chính Thiên Chúa tạo nên cho chúng ta - CCC 366). [3]

 

II.  Tiềm Năng Bị Lăng Quên Của Người Công Giáo Dưới Lớp Bụi Thời Gian

Từ ngàn xưa, các Giáo Phụ tiên khởi đă nhận ra rằng: t́m đến Thiên Chúa là t́m về nội tại [2].  

Thomas Aquinas gọi tiềm năng t́m đến Thiên Chúa đó là “Tiềm Năng Phục Tùng” (potentia obedientialis, obediential potency) [4]. 

Nhà thần học danh tiếng Karl Rahner gọi đó là “tồn tại siêu việt” (supernatural existential). 

Theo lời giải thích của linh mục Cao Phương Kỷ, một giáo sư thần học, tiềm năng đó chính là "sự biến đổi thường xuyên nơi đời sống  nghĩa là sự biến đổi thường xuyên nơi đời sống con người (existential) nơi thâm tâm con người, nhờ đó, con người được cải hóa từ nội tâm để qui hướng về Thiên Chúa (supernatural).

       Trải dài suốt ḍng lịch sử Thiên Chúa Giáo và Ki Tô Giáo chuỗi tháng ngày t́m hiểu và thực thi lời Chúa qua các biến cố do ngài mạc khải.  Khi Cựu Ước được xem là sự mở đầu biến cố mạc khải với những nhận thức về Thiên Chúa c̣n nhiều khiếm khuyết, th́ Tân Ước được xem là sự kết thúc trọn vẹn của mạc khải.  Cũng v́ lư do đó, đă hơn hai ngàn năm, không ai có thể thêm hay bớt Kinh Thánh.

      Ở đây, người viết bài này dựa trên những biến cố xảy ra trong ḍng lịch sử Thiên Chúa Giáo để dựng nên cốt chuyện "ĐẦY LƯ SỰ" để chúng ta cùng tham khảo.

(1) Từ việc Cựu Ước và Tân Ước được xem là nguồn suối phong phú và vô tận, hết thế hệ này đến thế hệ khác, những người TIN CHÚA luôn Quy Chiếu Nội Dung nguồn suối này để t́m hiểu và thực thi LỜI CHÚA.  Nhiều tập đoàn của những người Tin Chúa liên tiếp đề xướng và  ghi nhận các luồng tư tưởng khác biệt.  Họ ra công gắng sức để kiến tạo những khuôn khổ đạo đức và luân lư cho đời này và cho mai hậu bằng cách đặt ra các qui ước mà họ gọi là: LUẬT CHÚA.

* Lẽ dĩ nhiên, v́ có nhiều đoàn thể, nhiều giáo hội khác nhau  mà chúng ta cũng có những Bộ Luật Chúa khác biệt.

(2) Là những con người của Yếu Đuối và Tham Vọng, trong tôn giáo, chúng ta thấy việc xảy ra VA CHẠM là việc không thể tránh khỏi giữa các Giáo Hội, các tôn giáo lớn nhỏ:

(i)có nhiều khi, các Giáo Hội Lớn mặc sức thao túng, sử dụng mọi thủ đoạn;

(ii) có khi c̣n mượn cả vũ khí và gót giầy "ĐẾ QUỐC" hầu để chinh phục thế giới.

* Cái lợi ích do ḷng tham đem lại nhiều khi không nhỏ: TIỀN và QUYỀN LỰC.  Một thời, lợi ích đó bao gồm việc thu góp Đồng Đá đủ để xây RÔ MA VINH CƯỜNG: với đầy đủ sức mạnh Kinh Tế, Chính Trị và Quân Sự.

(iii) Lại cũng có khi, khi Nền Giáo Dục Suy Đồi và Có Giáo Hội Mất Uy Tín đến độ nhiều đoàn thể hay cá nhân muốn tách rời th́ "SỰ GIẬN DƯ" lẫn nhau, với đủ phương pháp HĂM DỌA và nhiều phương pháp thực thi bạo lực nhằm để vô hiệu hoá các đoàn thể hay cá nhân được thi hành.  Họ gọi đó là: "Diệt Cỏ Lùng", "Làm Sạch Đạo", "Diệt Lạc Giáo", "Diệt Ly Giáo", hay là "TOÀ ÁN DỊ GIÁO” mà ngày nay, khi nh́n lại, chúng ta chỉ có thể gọi là: KI TÔ HỮU TƯƠNG TÀN;

(4) Cứ mỗi lần uy tín của một bộ LUẬT CHÚA bị giảm sút, những lănh tụ được mời về KIỆN TOÀN LUẬT CHÚA thêm một lần nữa qua tên gọi: Công Đồng Canh Tân (Ecumenical Council).

Qua câu truyện trên, chúng ta có thể đúc kết vài đặc điểm:

- V́ tiếng Chúa vẫn không ngừng " TÂM SỰ" trong lương tâm và lư trí nhân loại, nên chúng ta không ngừng thấy những BỘ LUẬT CHÚA được canh tân và sửa đổi để tránh các SAI LẦM, các di hại về sau;

- V́ tiếng Chúa vẫn không ngừng "TÂM SỰ" với nhân loại, nên cứ một thời gian, chúng ta lại thấy: DƯỜNG NHƯ BỘ LUẬT NÀY KHÔNG C̉N HỢP THỜI NỮA.

V́ người ta cứ tưởng Chúa nói qua lương tâm. Không phải thế. Lương tâm chỉ nằm trong lănh vực lề luật tốt – xấu, Đúng-sai theo tiêu chẩn lề luật – chứ không theo tiêu chuẩn thần Khí – tiêu chuẩn Thiên Tính . V́ thế người ta phải củng cố lề luật bằng mọi cách để lương tâm được yên. Người ta tự xây một Ngục thất Lề luật giam hăm chính ḿnh và dùng Ngục thất Lề luật  ấy dọa nạt, kềm kẹp, loại trừ người khác

Những sai sót của các Bộ Luật Chúa được đề xướng luôn kèm theo những hậu quả đáng tiếc: nước mắt, lao công, vật chất, nhiều khi c̣n là xương máu của Ki Tô Hữu, của những người trong và ngoài Giáo Hội Công Giáo.

Ở một thái độ biện giáo, là những con người c̣n nhiều giới hạn về hiểu biết, trí tuệ và tài năng, ai trong chúng ta không từng có lỗi lầm và sai sót?

 

THẾ NHƯNG, ở một khía cạnh trọng thiết hơn, câu hỏi được nhiều người trong và ngoài Công Giáo đặt ra luôn là:

- Điều sai sót ǵ khiến uy tín của Giáo Hội Công Giáo bị giảm sút? 

- Điều sai sót ǵ khiến Giáo Hội đánh mất luôn sự tin tưởng và tôn trọng của Giáo Dân Công Giáo cho các bộ Luật Chúa do các lănh tụ Công Giáo đề xướng? 

(i) Phải chăng, Nền Giáo Dục Công Giáo, dựa trên nguyên lư "ĐIỀU KIỆN HOÁ ĐỨC TIN" - khuôn khổ và mực thước Đạo Đức Do Người Khác Đặt Ra và Bắt Buộc Phải Tin đă khiến nhiều giáo dân và nhiều người chán ngán? 

* Lấy nước Ư với 87% dân số là Công Giáo, điều ǵ đă khiến chưa đầy 20% giáo dân đi nhà thờ? [5]

(ii) phải chăng, nguyên lư làm LUẬT CHÚA của Giáo Hội Công Giáo, thường chỉ do các tông đồ kế vị (Giám Mục) thực hiện, KHÔNG GHI NHẬN ĐỦ TIẾNG CHÚA NÓI TRONG L̉NG MỌI GIÁO DÂN và nhân loại?

Là con người, chúng ta thường chọn giải pháp đặt ra những qui ước và Luật Lệ để có thể cùng chung sống mà không cần phải làm HẠI NHAU. Một BỘ LUẬT TỐT, có thể bảo đảm hạnh phúc cho đại đa số, cũng là những qui luật có được đại đa số tôn trọng, trong khi bộ luật đó vẫn c̣n nhiều thiếu sót.  Ở vấn đề này, Các Lănh Tụ Giáo Hội nói chung đă đánh mất sự tôn trọng cho Luật Chúa nói chung, và cho cá nhân họ nói riêng chỉ v́: HỌ ÍT LẮNG NGHE, TÔN TRỌNG TIẾNG CHÚA NÓI trong nhân loại, TIẾNG NÓI TỪ LƯƠNG TÂM (aboriginal vicar of Christ [6]) của giáo dân. 

(i) Giáo Hội Công Giáo trở thành “vật sở hữu” của các Lănh Tụ Giáo Hội.  Thân phận của Giáo Dân trong giáo hội là học hỏi và vâng phục,ĐỪNG BAO GIỜ LÊN TIẾNG v́ đó sẽ được gọi là: Chống Chúa và Chống Giáo Hội. 

* “Phúc Cho Ai Không Thấy Mà Tin”! Câu thánh kinh quen thuộc và tiềm năng vâng phục do thánh Thomas Aquinas đề xướng bị lạm dụng đến mức Dân đen, Con Mọn, Phó Thường Dân nước trời, chỉ c̣n cách VÂNG LỜI hoặc SẼ BỊ SỨC ÉP, các sản phẩm mẫu mực của ḷng tín ngưỡng vô bờ bến và sự "ĐIỀU KIỆN HOÁ ĐỨC TIN, đào thải ra bên lề hội đường, có khi là ngoài giáo hội.

** Theo thiển ư, Tiềm Năng Vâng Phục Thiên Chúa chính là sự t́m ṭi, thúc đẩy và đổi mới tư duy và hành động ở mọi nơi và mọi lúc, để chúng ta ngày càng đến gần con đường của Chúa, của Sự Thật, để xứng đáng làm con cái của Ngài hơn

Tiếc là, tiềm năng vâng phục đó thường đă bị sự ĐIỀU KIỆN HÓA ĐỨC TIN lạm dụng, biến giáo dân trở thành những kẻ LẶNG CÂM, những kẻ thực thi LỀ LUẬT, thực thi LỜI CHA DƯỚI DẤT hơn là tận dụng TIỀM NĂNG sẵn có nội tại: lư trư, con tim và kinh nghiệm của chính bản thân họ.

 

KẾT LUẬN

Ở thời đại sự hiểu biết và tâm linh của con người có nhiều tiến bộ vượt bậc:

- HƯỚNG DẪN ĐỨC TIN thực tế hơn là THỐNG TRỊ ĐỨC TIN;

hay nói một cách dí dỏm hơn:

- Khuyên Con Chọn Vợ thực tế hơn là Chọn Vợ Cho Con.

"Nền Giáo Dục Công Giáo" và "Phương Thức Làm Nên Luật Chúa" rất cần phải được TÁI SINH (AFRESH)

"Cơ Cấu Giáo Hội", "Lề Lối Làm Việc Của Giáo Hội" cũng cần phải được TÁI SINH (AFRESH) để có được sự hài hoà giữa trách nhiệm, bổn phận và sự đóng góp của đủ mọi thành phần trong Giáo Hội.

Khi tặng phẩm của Thiên Chúa cho mỗi con người là bộ óc và con tim.

Khi tác động của Chúa Thánh Thần trên mỗi Ki Tô Hữu là sự khôn ngoan, hiểu biết, thông minh, và biết lo liệu.

Có thể nói: KHÔNG GIÁO DÂN NÀO THẬT TÂM MUỐN ĐÁNH MẤT LINH HỒN M̀NH v́ chưng, ai mà chẳng biết TỰ LO khi đă trưởng thành?

(i) Có chăng, nền giáo dục Công Giáo, dựa trên nguyên lư Điều Kiện Hóa Đức Tin và Tu Đức Bề Ngoài đă để lại nhiều di hại chính nơi con cái Giáo Hội.  

* Biến cố Da Vinci Code và việc nhiều lănh tụ Công Giáo lo lắng cho di hại "RẤT CÓ THỂ LÀ TO LỚN" v́ sự xuyên tạc về cuộc đời của Chúa Giê Su và Giáo Hội trên giáo dân là một bằng chứng sống động.  Chúng ta có thể đặt ra hai câu hỏi:

- Các giáo dân, tu sĩ, CÓ ĐẠO BAO NĂM mà mơ hồ thế?

Hay là,

Nhiều người chẳng bao giờ nghe đến những sự việc này trong Nền Giáo Dục Công Giáo, nên khi Dan Brown viết chuyện "GIẢ TỐT NHƯ THẬT", miêu tả đến xuất thần: THẤY CÓ LƯ! phải không?

(ii) Lại cũng có chăng, việc các lănh tụ Công Giáo thiếu CAN TRƯỜNG trong sự ĐỀN BÙ và XOA DỊU triệt để những sai sót trong lănh vực Đạo Đức, Đạo Lư và Luân Lư đă đánh mất sự tin tưởng của nhiều giáo dân vào những Tông Đồ Kế Vị và người cầm trong tay ch́a khoá nước trời - Giáo Hoàng đương kim.

Nhà tôi có một cụ già 74 tuổi.  Ông có đạo từ thuở c̣n mồ ma, cái thuở vừa sinh ra ở một giải đất tại Ninh B́nh, Bắc Việt Nam.  Ông chẳng biết nhiều về Luật Chúa - v́ từ đó đến giờ, chẳng có ai màng nói cho ông biết bao nhiêu.  Ông chẳng biết nhiều về sự Sai Trái, Lỗi Lầm của con cái giáo hội, v́ Lịch Sử với ông là những hiện thực xa vời. Ông có một đức tin bất di bất dịch là: MỖI TUẦN, chúng bay phải đi nhà thờ, bằng không, chúng bay là quân "VÔ ĐẠO". “Không thể làm trái LUẬT CHÚA”, ông thường tâm sự với tôi như vậy. Luật Chúa theo ông là lời các cha giảng dạy trong nhà thờ, bổn phận ông là VÂNG PHỤC và THỰC HÀNH không ư kiến - có thế thôi.

Chúng ta nên buồn hay nên mừng vui khi thấy những Giáo Dân mẫu mực trong khuôn khổ thuần tuư, là sản phẩm của sự ĐIỀU KIỆN HOÁ ĐỨC TIN?

Không biết Thiên Chúa mai này sẽ XÉT ĐOÁN chúng ta ra sao?  Nhưng với tâm trạng, suy nghĩ và hiểu biết của một giáo dân Công Giáo, là thế hệ Công Giáo tiếp nối của cụ già 74 tuổi đó (cha tôi), với tôi mà nói, thế vẫn c̣n chưa đủ!

T́ềm năng phục tùng rất đúng khi hiểu theo tinh thần Lời Kinh Thánh:

Ngừơi phải lớn lên, tôi phải nhỏ đi (phục tùng Chúa trong ḿnh)

Tôi sống, nhưng không c̣n phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi (Gl 2:20) (Chúa làm chủ đời tôi)

Người ta chỉ cảm thấy dủ, thỏa măn, nghỉ ngơi yên hàn khi nhận ra Chúa - t́nh yêu Chúa - bản tính Thiên Chúa - Thiên Tính . Và điều quan trọng nhất trong cuộc đời của họ chính là sống trong

Lư do: họ không c̣n sống dưới LUẬT.. Đây là một điểm vô cùng tế nhị, Chỉ những người đạt được (tạm gọi là giác ngộ, đắc đạo) mới hiểu và chấp nhận, c̣n những kẻ sống dưới Luật sẽ lọai trừ tên tự do ra khỏi ṿng luật lệ của cộng đ̣an.

 

Tài Liệu Tham Khảo:

[1] DEUS CARITAS EST, Benedict XVI,

1. “God is love, and he who abides in love abides in God, and God abides in him” (1 Jn 4:16). These words from the First Letter of John express with remarkable clarity the heart of the Christian faith: the Christian image of God and the resulting image of mankind and its destiny. In the same verse, Saint John also offers a kind of summary of the Christian life: “We have come to know and to believe in the love God has for us”.

 

[2] Thiên Chúa Giáo và Tam Giáo, Lm. Cao Phương Kỷ,

Chương 7:  Niềm Tin

Vào Một Ngôi Vị Thiên Chúa, Thượng Đế, Ông Trời

Đoạn II.  Thiên Chúa Siêu Việt Và Nội Tại. A.  Thiên Chúa Siêu Việt (Transcendent). B.  Thiên Chúa Nội Tại (Immanent).

“THIÊN CHÚA SIÊU VIỆT VÀ NỘI TẠI

Như trên đă tŕnh bày về những hiểu lầm giữa Tam giáo và Thiên Chúa Giáo khi Đông phương và Tây phương gặp gỡ nhau. V́ thiếu nghiên cứu cẩn thận, thoạt tiên phía Tây phương đă vội phê phán Tam giáo là theo  “Nội-Tại đa thần” (pantheistic immanentism), nghĩa là thờ quá nhiều thần phát xuất từ thiên nhiên như cỏ cây, cầm thú và con người, v.v., thiếu ư thức về một Thực Tại Siêu Việt, thiếu niềm tin vào một Vị Chủ Tể càn khôn. Có khi c̣n b́nh phẩm là theo thuyết “bất khả tri” (agnosticism), nghĩa là không thể biết chắc được những ǵ là siêu nhiên, nhưng chỉ có thể biết thực sự những hiện tượng vật chất. Ngược lại, các đạo gia, khi mới tiếp xúc với Thiên Chúa giáo, phê b́nh Đấng Tạo Hóa trong Kinh Thánh thiếu tính cách siêu việt, v́ hành động, tâm t́nh như một con người biết giận hờn, thịnh nộ, ghen ghét, v.v., theo thuyết “thần-nhân-đồng-h́nh” (anthropomorphism). Cho đến ngày nay, một số các học giả vẫn “ngại” chấp nhận việc gán cho Thực-Tại Siêu-Việt bất cứ một danh xưng nào như Thượng Đế, Thiên Chúa, v.v., v́ sợ làm hạ giá "Nguyên Lư Tuyệt Đối" xuống hạng phàm tục.

Đó là những hiểu lầm của cả hai bên cần phải đánh tan. Kỳ thực, cả hai đều hướng thượng, đều cố gắng vươn lên cơi Siêu Việt, cùng nh́n nhận một Thực-Tại Tuyệt-Đối (Tran-scendent), đồng thời Nguyên-Lư Siêu-Việt đó cũng “ngự trị”, tồn hữu “Nội Tại” (Immanent) nơi vạn sự vạn vật. Sau đây ta sễ t́m hiểu quan niệm thần học của Thiên Chúa Giáo, đặc biệt theo Thánh Tôma, về “Thiên Chúa Siêu Việt” trên hết mọi loài, mọi vật, đồng thời Ngài cũng hiện hữu “Nội Tại” trong mọi vật mọi loài.”

THIÊN CHÚA NỘI TẠI (IMMANENT)

Thần học Công Giáo chủ trương Thiên Chúa vừa Siêu-Việt vừa Nội Tại, v́ Nội Tại của Chúa là hậu quả đi liền với Siêu-Việt của Chúa. Tại sao? Bởi v́, nếu Chúa không hiện diện nơi vạn sự vạn vật (Nội Tại), th́ sự Siêu-Việt của Chúa bị hạn chế và hậu quả là Chúa không c̣n là quyền năng Tuyệt-Đối nữa mà chỉ là tương đối. Chúa là Siêu-Việt, nên hậu quả là Chúa bất-khả-tri, và bất-khả-ngôn, nhưng đồng thời Chúa cũng hiện hữu thâm sâu “Nội Tại” trong mọi loài thụ tạo, đặc biệt trong các Linh-Hồn. Do đó, có thể gặp được Chúa trong nơi thâm cung của Linh Hồn.”

 

[3] CCC 366

366 The Church teaches that every spiritual soul is created immediately by God - it is not "produced" by the parents - and also that it is immortal: it does not perish when it separates from the body at death, and it will be reunited with the body at the final Resurrection.235

 

[4] Thiên Chúa Giáo và Tam Giáo, Lm. Cao Phương Kỷ,

Chương 7:  Niềm Tin

Vào Một Ngôi Vị Thiên Chúa, Thượng Đế, Ông Trời

"Ta nên chú ư đến quan niệm thần học của Thánh Tôma về sự Cứu Độ, đă ảnh hưởng đến các giáo thuyết hiện đại về “tự do tôn giáo và giá trị của các tôn giáo ngoài-Thiên Chúa Giáo. Đó là “Học Thuyết Thánh Tôma về Siêu Việt” (Transcendental Thomism). Theo học thuyết này, Chúa hành động trong vũ trụ này qua các “đệ nhị nguyên nhân” (secondary causes), tức là các loài thụ tạo. Chúa là Đệ Nhất Nguyên Nhân (First Cause, Prima Causa), là Đệ Nhất Tác Nhân (First Agent, Primum Agens), nhưng Chúa không trực tiếp”can thiệp” vào thế giới này, theo nghĩa Chúa làm ngưng trệ hay sửa đổi sự vận chuyển, vận hành b́nh thường của các biến cố trong vũ trụ. Là “Nguyên -Động-Lực, Chúa “can dự” vào loài thụ tạo, theo nghĩa Chúa “hiện diện” ngay từ lúc khởi thủy nơi vũ trụ, và vũ trụ luôn qui hướng về Chúa rồi. Do đó, mọi hành động của con người được hoàn toàn tự do, nhưng đồng thời tự căn bản chúng đă bắt nguồn nơi Ân Sủng, hay sự hiện diện của Chúa. Theo học thuyết này, trên b́nh diện tự nhiên, (không có Ân Sủng siêu nhiên mà Chúa tự ư ban), con người “đă có " khả năng để nhận biết và yêu mến Chúa rồi, v́ đấy là khuynh hướng tự nhiên,nơi bản tính con người. Thánh Tôma gọi khả năng đó là “Tiềm Năng Phục Tùng” (potentia obedientialis, obediential potency), nghĩa là từ trong căn bản, con người cởi mở, hướng về và có thể tiếp nhận Ân Sủng siêu nhiên. Tại sao gọi là “phục tùng” vâng lời ? V́ con người không có quyền khiếu nại, đ̣i buộc Chúa, nhưng phải tùng phục tùy Chúa ban th́ mới tiếp nhận được. Cái “tiềm năng căn bản” đó, nhà thần học nổi tiếng thế kỷ 20, Karl Rahner (1904-1984) đặt tên là”tồn tại siêu việt” (supernatural existential), nghĩa là sự biến đổi thường xuyên nơi đời sống con người (existential) nơi thâm tâm con người, nhờ đó, con người được cải hóa từ nội tâm để qui hướng về Thiên Chúa (supernatural). Đây không phải là chính Ân Sủng, nhưng mới chỉ là “lời mời”để cung cấp Ân Sủng mà thôi, v́ con người có thể tự do tiếp nhận hay từ chối Ân Sủng. Danh từ Ân Sủng (gratia, grace) các nhà thần học dùng để chỉ Thiên Chúa”Tự-Thông -Truyền chính Ḿnh” (Self-Communication), như một Ân Huệ để nhân loại được nên thánh thiện, công chính, và được hạnh phúc trường sinh bất diệt. Ân Sủng hay sự Tự-Thông-Truyền này là một hành vi tuyệt đối tự do của Chúa ban cho loài thụ tạo hữu hạn, v́ Chúa là T́nh Yêu Thương vô biên (1 Gioan 4:8) tràn ra. Tự “bản tính tự nhiên” (nature), con người không có quyền đ̣i hỏi Ân Sủng siêu nhiên đó"

 

[5] International Religious Freedom Report 2005

Released by the Bureau of Democracy, Human Rights, and Labor, http://www.state.gov/g/drl/rls/irf/2004/35462.htm

Italy

Section I. Religious Demography

The country has an area of 116,347 square miles, and its population is approximately 57.8 million. An estimated 87 percent of native-born citizens are nominally Roman Catholic, but only 20 percent regularly participate in worship services. According to numbers reported by the communities, members of Jehovah's Witnesses form the second largest Christian denomination among native-born citizens, numbering approximately 231,000 adherents, followed by members of the Assembly of God (78,000), Methodists and Waldesians (27,000), and Mormons (22,000).

 

[6] CCC 1778

1778 Conscience is a judgment of reason whereby the human person recognizes the moral quality of a concrete act that he is going to perform, is in the process of performing, or has already completed. In all he says and does, man is obliged to follow faithfully what he knows to be just and right. It is by the judgment of his conscience that man perceives and recognizes the prescriptions of the divine law:

Conscience is a law of the mind; yet [Christians] would not grant that it is nothing more; I mean that it was not a dictate, nor conveyed the notion of responsibility, of duty, of a threat and a promise. . . . [Conscience] is a messenger of him, who, both in nature and in grace, speaks to us behind a veil, and teaches and rules us by his representatives. Conscience is the aboriginal Vicar of Christ.

 

Trở về Lời giới thiệu

 

Ư kiến

Phản hồi

 

Kính thưa quư độc giả

Thiên Tính là một vấn đề tế nhị và hấp dẫn. Tâm linh vào Đời đă vui mừng nhận được một số phản hồi. Đây là một khích lệ và mang lại niềm vui cho tất cả chúng ta. Ban biên tập xin ghi lại và góp ư thêm bằng những ḍng chữ màu đỏ để vấn đề Thiên Tính có thể rơ hơn một chút.

Kính mong độc giả góp ư thêm bằng những bài hoàn chỉnh.

Xin chân thành cảm ơn.

Ban biên tập.

 

Ư kiến của Linh Mục Joseph Son T. Nguyen

Santa Ana, CA, USA

 

 

Kính thưa Tâm Linh Vào Đời,

Cảm nghĩ của tôi khi nghĩ về Thiên Tính th́ trước nhất là vui mừng, thứ hai là thận trọng, nhất là trong cách dùng những ngôn từ thần học. Với sự thận trọng này tôi xin góp ư dưới dạng vài câu hỏi cũng như vài nhận định.

 

1. Tùy đối tượng (subject) là người kitô hữu, những dẫn chứng của tác giả bài "giải mă..." h́nh như áp dụng cho cả nhân loại, ví dụ sách ST 1:27. Vậy vấn đề Thiên Tính chỉ có thể áp dụng cho những người Kitô Hữu mà thôi, hay cho toàn thể nhân loại?

2. Thiên Tính là ǵ? và có Thiên Tính là có cái ǵ?

Theo cảm nghiệm của chúng tôi: Thiên Tính chính là Chúa Cha. Có Thiên Tính chính là nhận ra Chúa Cha đang hiện diện và hành động trong ḿnh, với ḿnh…ngay trong cuộc sống thường ngày. ( xin xem bài Giải mă Thiên Tính của  Đức Giêsu ở trên)

3. Vài chỗ tác giả trích kinh thánh có 2 vấn đề:

-Những câu đó nói riêng về Đức Kitô hay nói chung về mọi người?

Dường như người ta thích phân biệt câu này chỉ dành cho Đức Giêsu, câu kia chỉ dành cho Phêrô, câu nọ chỉ dành cho Đức Maria…Theo cảm nghiệm của chúng tôi. Bất cứ câu nào cũng dành chung cho cả mọi người. Có như thế th́ Lời Chúa mới sinh hoa kết quả được. Nếu tôi quyết rằng câu này dành riêng cho Đức Giêsu thế th́ chuyện đồng h́nh đồng dạng với Con của Người (Rm 8:29) sẽ trở thành không tưởng. Hoặc câu nổi tiếng: Tôi và Cha tôi là một (Ga 10:30) Nếu chỉ dành riêng cho Đức Giêsu th́ chuyện tôi kết hiệp nên một với Chúa chỉ là chuyện ḥan ṭan lư thuyết, không trở thành hiện thực được.

Linh mục Khảm gọi việc đọc Kinh Thánh kiểu này là CÁ NHÂN HÓA.

-Từ ngữ "bản tính" Thiên Chúa mà tác giả dùng h́nh như không thấy được dịch ra các thứ tiếng phổ thông khác (như "nature/substance/esssence" trong Anh Ngữ) vậy dịch ra tiếng Việt như thế có chính xác không?

 Chủ trương của Tâm linh Vào đời chỉ quan tâm tới sống đạo đích thực với Chúa của ḷng ḿnh, chứ không dám đi sâu vào việc phân tích từ ngữ đúng sai, hoặc từ này bắt nguồn từ tiếng La tinh, Hy lạp, Aram là ǵ… Mong ngài thông cảm cho.

 

Vài nhận định sơ sài của tôi:

1-Tôi nghĩ khi nói đến bản tính th́ phải áp dụng cho tập thể chứ không áp dụng cho số ít. Vậy đầu đề không cần nói riêng về Kitô Hữu.

Theo lối nh́n Tâm linh: Bản tính này quả là áp dụng cho tập thể - ṭan thể nhân loại

Theo lối nh́n nhân lọai: Có một điều rất tế nhị. Nếu chúng ta nói áp dụng cho ṭan thể nhân loại th́ chắc chắn sẽ đụng chạm tới các tôn giáo khác và gây ra những cuộc bút chiến về từ ngữ vừa vô ích vừa mất thời gian và tốn công sức cho cả đôi bên.
Rất có thể anh em Phật giáo sẽ phản đối mạnh mẽ rằng Bản tính Thiên Chúa của đạo anh chứ có dính dáng ǵ với đạo của tôi. Chúng tôi chỉ biết Chân tánh hay Phật tánh mà thôi…Chính v́ thế tác giả không muốn dùng tựa đề “
Thiên Tính của con người”, mà chỉ dám giới hạn “Thiên Tính của người Kitô hữu” - những người tin theo, đón nhận và sống nên một với Đức Kitô.

2-Tuy không thể nói hết Thiên Tính là ǵ, ta có thể mường tượng rằng Thiên Chúa là toàn minh, toàn năng, toàn thiện, toàn mỹ, vô tận, alpha, omega, v.v..

Đa số người ta thường diễn tả Thiên Chúa với hàng chục Thuộc tính cao sang, tuyệt đối như: toàn minh, toàn năng, toàn thiện, toàn mỹ, vô tận, alpha, omega, v.v..

Theo ánh mắt tâm linh, người th́ cảm nhận bản tính Thiên Chúa là T́nh yêu, kẻ lại cảm nghiệm bản tính Thiên Chúa là  nguồn sống dồi dào.. người khác lại tâm đắc Thiên Chúa là Chân lư…Thiên Chúa rất gần gũi, gần tới độ họ có thể hít thở, làm việc với Ngài, trong Ngài. Thật vậy, chính ở nơi Người mà chúng ta sống, cử động, và hiện hữu, như một số thi sĩ của quư vị đă nói: "Chúng ta cũng thuộc ḍng giống của Người. (Cv 14:28)

3. Tất cả kinh thánh qui về Chúa Giêsu Kitô.

Vâng, rất đồng ư, nhưng không dừng lại ở Chúa Giêsu Kitô, mà phải vươn tới Chúa Cha: Ngôi Lời vẫn hướng về Chúa Cha (Ga 1;1). Chúa Cha vừa là Thiên Tính của Đức Giêsu vùa là Thiên Tính của người Kitô hữu.

4-Theo tôi nghĩ th́ khi dùng danh từ "Thiên Tính " th́ có thể lầm lẫn 2 ư nghĩa tổng quát. Một là "bản chất" toàn năng toàn thiện toàn mỹ hay là những sự xuất hiện như vậy của Thiên Chúa; hai là những "cá tính" phản ảnh sự hiểu biết, sự đẹp đẽ, sự tốt lành hay là những tiềm năng có sẵn trong nhân bản.

 

Theo nghĩa thứ nhất, "bản tính" chính là định nghĩa của một vật.

Khi đề cập đến "bản tính" th́ dùng chữ "là" chứ không dùng chữ "có" v́ bản tính hay bản chất chính là định nghĩa của hiện vật. Ví dụ người ta nói "tôi là loài người" chứ người ta không nói "tôi có loài người"; hay nói "Thiên Chúa là thượng trí" chứ không nói "Thiên Chúa có thượng trí". Tương tự như vậy, chỉ ḿnh Thiên Chúa mới có thể nói "ta là thiên chúa" chứ không thể nói "ta có Thiên Tính " theo nghĩa thứ nhất.

Theo nghĩa thứ hai, những "cá tính" giống thiên chúa không dùng để định nghĩa nhưng để tả một vật. Ví dụ, một người có thể nói "tôi có trí khôn" chứ người ta không nói "tôi là trí khôn"; hoặc nói "tôi có thể suy nghĩ" chứ không nói "tôi là suy nghĩ"

 

Nói cách khác, xin dùng những ví dụ sau:

1-thiên chúa là thượng trí

2-con người có trí khôn

1-thiên chúa là sự sống

2-con người có sự sống

1-thiên chúa là t́nh yêu

2-con người có t́nh yê

1-thiên chúa là toàn năng

2-con người có khả năng

 Vấn dề quan trọng vẫn là có nhận ra Thiên Tính và sống vói Thiên Tính của ḿnh hay là không.

V́ lối hành văn của tác giả và v́ chính tác giả nói rằng không muốn phạm thượng, tôi nghĩ tác giả đang muốn dùng từ ngữ "Thiên Tính " theo nghĩa thứ hai ở trên. Chính v́ sự dễ lầm lẫn, thiết nghĩ không nên dùng danh từ "Thiên Tính " hay "bản tính thiên chúa". Đó là những danh từ triết học không có trong kinh thánh mà cho đến bây giờ vẫn c̣n nhiều bàn căi sôi nổi và hiểu lầm. Ngại rằng độc giả rối trí nếu không có sự nhạy bén về triết học hay thần học. Nên kiếm từ ngữ khác.

Vấn đề sợ phạm thượng: không phải tác giả mà là những người bạn của tác giả. Bởi v́ điều quan tâm nhất của tác giả là sống hiệp nhất với Ngài trong yêu thương, chứ không phải sống kiếp nô lệ đối với một ông Chúa cao sang, quyền năng, ṭan thiện. V́ sống trong yêu thương nên không có vấn đề sợ phạm tội “khi quân”!!

Sở dĩ tác giả dùng từ Thiên Tính là v́ 2 lư do sau đây:

·        Nhân sự kiện Da Vinci code, một số tác giả đă dùng từ Thiên Tính của  Đức Giêsu

·        Lẽ ra chúng ta có thể dùng từ Căn Tính của  người Kitô hữu thay v́ Thiên Tính  của  người Kitô hữu, nhưng tác giả đă cố ư dùng từ Thiên Tính  để gây sự chú ư và thêm một chút suy tư nữa của  các độc giả th́ tốt biết bao.

 

Cuối cùng tôi xin khẳng định cùng với Giáo Hội một cách vắn tắt đơn giản: Con người là Con Người không phải là Thiên Chúa; Thiên Chúa là Thiên Chúa, không phải là Con Người. Duy nhất chỉ có Đức Giêsu Kitô vừa là Người hoàn toàn vừa là Thiên Chúa hoàn toàn.

Đựơc tạo dựng nên làm người  là quá đủ cho tôi vui mừng phấn khởi, v́ trong nhân bản của tôi chính là những tiềm năng mà toàn thể các tạo vật khác không có, để làm tôi trở nên "h́nh ảnh" của Thiên Chúa. Hơn nữa khi nhận thức về nhân bản cao quí đă được cứu rỗi tôi c̣n vui sướng biết bao. Nói cách khác, tôi đă được "thiên chúa hoá" (divinized) chứ tôi không là Thiên Tính mà cũng không có Thiên Tính .

Vâng, xin tôn trọng quan niệm của linh mục.

 

  

Ư kiến của Linh mục

Giuse Nguyễn Thế-Quang.

 

Kính thưa ban biên tập Tâm Linh Vào Đời


        Để đáp lại lời thỉnh nguyện của qúy vị về bài Giải mă Thiên Tính của Người Kytô hữu, tôi xin được nêu lên một vài điểm gọi là để quư độc giả am tường.Ư niệm về Thiên Tính trong con người đă được các Thánh phụ như Irenaeus, Athanasius đưa ra từ lâu.  Trong Giáo Lư Công Giáo cũng trưng dẫn lời của các Ngài: 'God became man so that man may become God', tạm dịch: Đấng Thánh trở nên phàm nhân để phàm nhân trở nên Thánh.  Đây không phải là một đề án triết lư mà là cách biểu lộ một ư niệm về lẽ huyền diệu.
 

Chúng tôi rất đồng ư với linh mục Giuse Nguyễn Thế-Quang khi trích dẫn lời tuyên bố của giáo phụ Irenaeus, Athanasius đưa ra từ lâu.  Trong Giáo Lư Công Giáo cũng trưng dẫn lời của các Ngài: 'God became man so that man may become God', - Chúa trở nên người để người trở nên Chúa. 

Tuy nhiên, hễ nói về mầu nhiệm th́ dù Đông hay Tây, tất cả đều phải nhường chỗ cho việc suy niệm của Tâm: V́ hễ nói ra th́ sẽ khiến cho người ta chấp vào mà lầm rằng: Thiên Chúa và Thiên Tính chẳng qua là do con người dùng sự khao khát ở cái tuyệt đối không có mà tạo thành.  Tuy tính b́nh đẳng tuyệt đối giữa chân lư và con người được nêu lên trong Phật giáo nhưng đó chỉ là để đả phá tinh thần nô lệ vào thần quyền của Đông phương. Khái niệm 'b́nh đẳng tuyệt đối' cũng bị Thiền Tông phủ bác v́ không muốn để lại một niệm nào để con người chấp vào.  Điểm này được bày tỏ trong cuộc đối thoại giữa hai sư đồ và được cha Anthony de Mello sưu tầm như sau:

Đệ tử:  Đệ tử có Phật tính không?
Sư phụ:  Không.
Đệ tử:  Sao tất cả đều có Phật tính mà đệ tử lại không?
Sư phụ:  V́ ngươi c̣n đặt vấn đề về Phật tính.  C̣n đặt vấn đề là c̣n tự tách ḿnh khỏi cái ḿnh đặt vấn đề.

Ngôn ngữ ḷai người quả là hạn hẹp nên ngay Đức Giêsu cũng phải xoay xở đủ mọi cách để nói ra dù biết rằng nó dễ gây hiểu lầm. Một loạt dụ ngôn về nước Chúa chứng tỏ rằng dù rất khó diễn tả, nhưng Đức Giêsu  vẫn cố gắng giải thích.

Thực vậy, nếu không nói bằng lời th́ làm sao người khác hiểu một phần nào điều ḿnh chia sẻ. bằng chứng là có khá nhiều độc giả khi gởi mail về Tâm linh vào đời đă phải thốt lên: Tôi giữ đạo năm, sáu bảy chục năm rồi mà chưa nghe ai nói về Thiên Tính của người Kitô hữu. Biết đâu nhân cơ hội này một số người sẽ khám phá ra Thiên Tính quư báu của ḿnh mà bấy lâu nay ḿnh không hề nghe nói tới ..

Chính v́ thế đối với người chưa nhận ra th́ người đă nhận ra phải dùng phương tiện để diễn tả một phần nào đó. V́ thế vẫn c̣n phải đặt vấn đề. Chính v́ thế mà Đức Giêsu đă rong ruổi khắp miền Thập tỉnh suốt ba năm rao truyền chân lư và đặt nhiều vấn đề cho các môn đệ của ḿnh như: Các con bảo Thày là ai? Đức Phật đă trải qua 49 năm để thuyết pháp. Và các vị tổ đă đặt cho các đệ tử của ḿnh những công án – một cách đặt vấn đề quyết liệt - để các đệ tử nhận ra chân tánh. Đó là những cách đặt vấn đề điền h́nh.

Một lư do khác mà Thiên Tính không được nhắc đến thường xuyên là v́ ngă chấp ở Tây phương khác Đông phương: bên Tây phương, người ta thường để cái Ngă tự tôn (self-asserted) c̣n Đông phương th́ để nó tự ti (do đó mà bị nô lệ thần quyền).

Thiên Tính quả có được đề cập đến bên Tây phương.  Tuy nhiên, v́ tính tự tôn của cái ngă mà 'tính b́nh đẳng tuyệt đối' do mầu nhiệm nhập thể không được phổ biến rộng răi.  Đúng như quư vị nhận xét, v́ khi con người tự tôn nên Thiên Chúa cần được đề cao.  Vậy nên, thánh Phaolô mới nói:

'Tôi sống nhưng không phải là tôi sống mà là đức Kytô sống trong tôi.'

C̣n như bên Đông phương th́ lại khác.  Bản ngă thường nép sau thần thánh, và dùng thần thánh để bảo vệ cho bản ngă.  Người ta tạo nên một cá tính riêng (personal identity) và quên mất là căn tính duy nhất trong họ là h́nh ảnh Thiên Chúa.  Vậy nên, trong Phật giáo mới đả phá tinh thần nô lệ thần quyền để cho Phật tánh trong con người tự sáng.  Trong bài Giải mă Thiên Tính quả có ích cho người Đông phương, nhưng cũng có đến mức độ nào thôi.  V́ tất cả đều là khái niệm, mà khái niệm th́ có cái giới hạn của nó.  Hơn nữa khái niệm về chân lư không phải là chân lư.  Những người đă từng quen thuộc với triết học Tây phương thường không quen với khái niệm 'b́nh đẳng giữa Thiên-tánh và Nhân-tánh'.  V́ nó dễ đưa đến kết luận là con người tạo nên Thiên Chúa như đă tŕnh bày trước đây.

Vâng, đúng vậy. Khái niệm về chân lư không phải là chân lư. V́ chân lư là cái để người ta sống và cảm nghiệm chứ không phải là điều để bàn luận suông. Tuy nhiên như đă đề cập ở trên. Hiện nay, chúng ta vẫn phải dùng ḷi nói, chữ viết như là một phương tiện để tŕnh bày một số khái niệm giúp cho người khác nương vào đó để khám phá ra chân lư – một Thiên Chúa nội tại sống động.

Chúng tôi xin được phép nhắc lại: Khám phá ra Thiên Chúa vốn sẵn trong ḿnh, chứ không phải tạo nên một Thiên Chúa theo tưởng tượng của ḿnh – đặc biệt là những thuộc tính phi thường mà loài người không thể có như: toàn minh, toàn năng, toàn thiện, toàn mỹ, vô tận, alpha, omega, v.v..

 

C̣n hỏi tại sao tôi có Thiên Tính mà tôi không <