Tâm Linh Vào Đời

Số 30  Ngày 17.09.2006

 

Li Gii Thiu

 

Mời quư vị thưởng thức cuộc Tranh luận về Viễn ảnh hay Hiện thực

đầy sấm sét nhưng cũng đầy thân t́nh của Tâm Linh Vào Đời.

Trong đó, vấn nạn Thiên Tính và cứu độ đă trở thành hiện thực.

Từ đó, Trần Mỹ Duyệt đă tái xác tín như thánh Phêrô: Thày là Đức Kitô.

Với gương mặt Đức Giêsu Kitô – Đấng cứu độ phổ quát. Tác giả Nguyễn thái Hợp.

Riêng Linh kỳ, đă chia sẻ trong nỗi khắc khoải gần như hoang mang… khi suy tư về

Chúa Đức Giêsu đă cứu độ chúng ta bằng cách nào? - Phần 2

Cuối cùng, cứu độ được thi vị hóa với bài

Yêu thương Cứu độ - mộ thơ văn của Dă Sơn Minh Cát - Mai Tá diễn dịch

 

 

Tranh luận về

Viễn ảnh hay Hiện thực

 

 

Tâm Linh Vào Đời

 

Nơi một quán nhỏ thơ mộng tại thành phố sương mù, hai người bạn chí thân tranh luận về  Thiên Tính bên ly café Trung Nguyên “khơi nguồn sáng tạo”, lâng lâng theo tiếng vi vu từ những cánh đồi thông bạt ngàn vọng về trong lúc màn đêm đang dần dần buông lơi…

 

Trước hết, tớ cực lực phản đối về từ ngữ Giải mă Thiên Tính này v́ nó gợi lại việc làm tồi bại của Dan Brown khi anh này cố ư “giải mă”(decode) bức hoạ Bữa Tiệc Ly của DaVinci với chủ tâm lăng mạ Kitô giáo nói chung và niềm tin của người Công Giáo nói riêng về Chúa Giêsu Kitô và công nghiệp cứu chuộc của Người.

 

Hi! Hi! Thế là bạn vô t́nh rơi vào bẫy của tớ rồi. Này nhé, tớ đă viết cả trăm bài liên quan xa gần tới căn tính người Kitô hữu, thế mà bạn có thèm đọc đâu. Mới đây, tớ vừa tung ra trái bom Thiên Tính th́ bạn đă lôi cổ tớ ra đây để nói cho ra ngô ra khoai!

Dan Brown cũng phịa ra chuyện giải mă để hốt bạc chứ có lăng mạ Kitô giáo đâu!! Tớ đă viết bài Dan Brown đă  đánh một cú như trời giáng vào …không khí!! Trong  Tâm LinhVào Đời số 23.

C̣n tớ cũng cố ư dùng từ Giải mă để gây ṭ ṃ biết đâu nhờ đó dộc giả có thể khám phá ra điều ǵ thú vị về căn tính của ḿnh, từ tất cả nhưng bài viết của các tác giả khác nhau kể cả các bài tranh luận thú vị vui vui xuất hiện trong Tâm linh Vào đời 

Nhân tiện đây xin hỏi bạn: chúng ta làm cách nào để có Thiên Tính?

 

Cậu đi lễ hàng ngày mà không biết sao?

Trong Lễ Qui Rôma, khi nhỏ giọt nước vào chén rượu nho trước khi truyền phép Thánh Thể, Giáo Hội đọc lời nguyện sau đây qua miệng  Chủ tế hay Phó tế:

  “Nhờ mầu nhiệm nước hoà rượu này, xin cho chúng con được tham dự vào thiên tính

   của Đấng đă đoái thương thông phần nhân tính của chúng con.”

   (Per huius  aqu„ et vini mystérium, eius efficiamur divinitatis consortes,

   qui humanitatis nostr„ fieri dignatus  est  particeps)

Như thế, qua lời cầu nguyện trên đây, chúng ta thấy rơ Giáo Hội cầu xin cho con người được “thông phần thiên tính” với Thiên Chúa nhờ Chúa Giêsu đă mặc lấy nhân tính khi làm Con Người.

 

Giáo hội c̣n dạy rằng: Nhờ công nghiệp của Chúa  Kitô và trong viễn ảnh được ơn cứu chuộc để được chung hưởng hạnh phúc với Thiên Chúa trên thiên đàng.

Tất cả viễn ảnh được kết hợp với  Thiên Chúa trong sự  sống, sự trọn hảo và hạnh phúc của Người  chính là được “thông phần thiên tính”

– hay nói khác đi  - được chia sẻ chính đời  sống và sự cực tốt cực lành  của Thiên Chúa, Cha chúng ta ở trên trời nhờ Chúa Kitô và trong Chúa Thánh Thần.

 

Qua câu trả lời của bạn, tớ phát hiện ra 3 vấn đề thú vị:

Nước ḥa tan trong rượu,

Viễn ảnh

Cầu xin

 

Vấn đề thứ nhất: Nước ḥa tan trong rượu

 

Bạn đúng là linh mục của Giáo hội theo lễ quy Roma, nên đă hiểu và giải thích theo những ǵ Giáo hội truyền dạy.

C̣n tớ, tớ lại khám phá ra một đ́ều tuyệt vời qua h́nh ảnh nước ḥa tan trong rượu. Này nhé, nước tượng trưng cho cả nhân loại, rượu tượng trưng cho Chúa. Khi nước tan trong rượu rồi, bạn có thể nào phân biệt được giọt nào là giọt rượu , giọt nào là giọt nước không ?? Chắc chắc là không thể!! v́ lúc đó tất cả đều là giọt rượu. Ứng nhiệm lời Kinh Thánh:

Như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta.

Con ở trong họ và Cha ở trong con, để họ được hoàn toàn nên một ;

…. nên một như chúng ta là một (Ga 17:21-23)

Đă nên một trong Chúa rồi, th́ không thể nào phân biệt cha-con; Chúa-tôi;  Do-thái hay Hy-lạp, nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà.. (Gl 3:28).

Nói cách khác tất cả chúng ta đều ḥa tan trong Chúa – trong t́nh yêu của Ngài – trong sự sống thần linh của Ngài – trong sức mạnh Thần Khí của Ngài -  trong ly rượu Thiên Tính của Ngài.

 

 

Vấn đề thứ hai:  Viễn ảnh và Hiện tại

 

Ôi viễn ảnh và viễn ảnh!!!

Viễn ảnh được ơn cứu chuộc – Cứu chuộc phải chờ tới đời sau ư!!

Viễn ảnh được kết hợp với  Thiên Chúa – Kết hợp với Chúa mà phải chờ tới đời sau sao!!

Viễn ảnh được được “thông phần thiên tính” - “thông phần thiên tính” cũng phải chờ đời sau!!!

Viễn ảnh được chia sẻ chính đời  sống và sự cực tốt cực lành  của Thiên Chúa – lại cũng đời sau!!!

Tóm lại, tất cả những viễn ảnh này đều HY VỌNG xảy ra ở đời sau trên Thiên đàng!!!

 

Nhưng, theo lư luận nước ḥa tan trong ly rượu, tất cả những việc trên phải trở thành hiện thực ngay trên đời này th́ mới tuyệt với chứ nhỉ!!

Nếu nói rằng kết hợp với Chúa đời sau th́ chuyện “mặc lấy Chúa Kitô” ngay từ  bây giờ  - Tôi sống, nhưng không c̣n phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi. (Gl 2:20) sẽ trở thành không tưởng. Việc  Đức Ki-tô sống trong tôi sẽ biến thành ảo – không phải là hiện thực!!

Như thế, tất cả những lời giáo hội dạy sẽ có thể nguy cơ trở thành lời dạy ảo v́ không trở thành hiện thực ngay tại trần gian này!! Bạn có bao giờ nghĩ tới chuyện kinh khủng này chưa??

 

Này, đừng có nó bừa, tớ nói là nói theo điều Giáo hội dạy chứ không phải tự ḿnh mà nói đâu!

 

Bạn lại định mang Giáo hội ra hù ma tớ đấy phải không??

Không ăn thua!! v́ tớ có rất nhiều bằng chứng hùng hồn trong Kinh Thánh, và tớ cũng nói theo điều Đức Giêsu dạy, - mà đ́ều Đức Giêsu dạy lại cũng chính là điều Chúa Cha dạy Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự ḿnh nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của ḿnh (Ga 14:10)

Vậy là hóa ra tớ nói theo điều Đức Chúa Cha dạy chứ không phải tự ḿnh mà nói đâu nhé.

Tớ chỉ dẫn chứng một số câu trong cả hàng chục câu khác mà thôi:

 

  1. Bằng chứng một:  Đức Giêsu đă phấn khởi tuyên bố:

Thời kỳ đă măn, và Triều Đại Thiên Chúa đă đến gần. This is the time of fulfillment. The kingdom of God is at hand. (Lc 1:14)

Xin bạn nhớ cho nước trời - at hand – có thể nắm trong ḷng bàn tay – ngay trong tâm ḿnh chứ không xa xôi diệu vợi - ở trên trời mai sau:   không phải  đợi mai sau đâu nhé!

 

  1. Bằng chứng hai:  Đức Giêsu đă khai mạc nước trời ở trần gian rồi đấy bạn ạ:

Người Pha-ri-sêu hỏi Đức Giê-su bao giờ Triều Đại Thiên Chúa đến. Người trả lời : “Triều Đại Thiên Chúa không đến như một điều có thể quan sát được.
21 Và người ta sẽ không nói : ‘Ở đây này !’ hay ‘Ở kia ḱa !’, v́ này
Triều Đại Thiên Chúa đang ở giữa các ông.” (Lc 17:20-21)

Đức Giêsu đă biến trần gian này thành nước trời rồi..Triều Đại Thiên Chúa đang ở giữa các ông. Thế tại sao bạn đẩy nước trời không những vừa lên cao chót vót, không ai với tới được – mà c̣n nhốt nó vào tận đời sau xa xôi mịt mù  với ṭan là những kiểu diễn tả viễn ảnhViễn ảnh nơi Thiên Đàng mai sau.

Sau khi đẩy lên cao, và nhốt Nước Trời vào đời sau.. bạn quay ra bảo thiên hạ: hăy hy vọng. hy vọng và hy vọng…tất cả chỉ c̣n chờ đợi vào ḷng thương xót của Chúa!!! Lúc đó ta mới biết ḿnh được cứu độ hay không!!! Sao lại phải khổ sở chờ đợi mai sau, trong khi Chúa muốn chúng ta hưởng hạnh phúc với Ngài ngay ở đời này??!!

 

  1. Bằng chứng ba: 

Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn măi. Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, v́ thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. C̣n anh em biết Người, v́ Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em.  (Ga 14:16-17)

Thần Khí Thiên Chúa luôn trong chúng ta: chứ không đợi mai sau đâu nhé!

 

4.      Bằng chứng bốn: không những Thần Khí Thiên Chúa ở trong ta mà cả Chúa Cha Đức Kitô cũng ở trong ta nữa đấy. đâu cần ǵ phải đợi mai sau đâu nhé!

“Ai yêu mến Thầy, th́ sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy” (Ga 14:23)

Bạn thấy đấy:

Thần Khí sự thật luôn ở giữa anh em và ở trong anh em;

Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy.

Như vậy chứng tỏ ngay tại đây, lúc này – Hic et Nunc - chúng ta đang sống kết hợp với Chúa chứ đâu cần phải đợi măi đời sau diệu vợi… với Viễn ảnh được kết hợp với  Thiên Chúa trên Thiên đàng mai sau !!!

 

  1. Bằng chứng năm
    Thật, tôi bảo thật các ông: giờ đă đến - và chính là lúc này đây –

giờ các kẻ chết nghe tiếng Con Thiên Chúa;

ai nghe th́ sẽ được sống.

Thật, tôi bảo thật các ông: ai nghe lời tôi và tin vào Đấng đă sai tôi,                                                                        th́ có sự sống đời đời và khỏi bị xét xử,                                                    

nhưng đă từ cơi chết bước vào cơi sống.

- (but has passed from death to life) - (Ga 5:24-25)

Đức Giêsu đă nhấn mạnh giờ đă đến - và chính là lúc này đây – chứ không phải đợi mai sau. Trong bản văn tiếng Việt chúng ta có cảm tưởng sự kiện từ cơi chết bước vào cơi sống xảy ra trong chớp mắt và dứt khóat, nhưng trong New American Bible diễn tả có phần chính xác hơn. Họ dùng th́ Present Perfect diễn tả một hành động đă xảy ra trong quá khứ và c̣n kéo dài tới hiện tại và tiếp tục tới tương lai. V́ thực tế, theo kinh nghiệm của nhiều Kitô hữu, sự kiện từ cơi chết bước vào cơi sống xảy ra một cách từ từ trong thời gian khao khát kiếm t́m với những khám phá và cảm nghiệm dần dần cho tới một lúc nào đó thật bất ngờ, họ “ngộ” được – họ nhận ra Chúa hiện diện sống động trong ḿnh – đó cũng chính là lúc Chúa tỏ hiện -  cũng từ đó, họ bắt đầu bước vào cơi sống. Và càng ngày niềm xác tín này càng được củng cố hơn…

 

  1. Bằng chứng sáu

Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy.

Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đă thấy Người." (Ga 14:7)

Đây là một khám phá thú vị. Thường thường, chúng ta cứ tưởng như ông Philiphê. Chúng ta muốn thấy Chúa phải hiện ra sáng láng uy nghi với sấm chớp đùng đùng, cùng với mười hai cơ binh thiên thần oai hùng gấp ngàn lần vị vua trần gian. Có lẽ chúng ta cũng thưa: "Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con măn nguyện."

Chắn chắn Đức Giê-su sẽ trả lời: "Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Phi-líp-phê, anh chưa biết Thầy ư? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói: "Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha"?

Như vậy, việc chúng ta cứ tưởng Viễn ảnh được chia sẻ chính đời  sống và sự cực tốt cực lành  của Thiên Chúa trên Thiên Đàng chẳng đúng ư Chúa tí nào cả!! Phải không bạn?? Đức Giêsu muốn chúng ta thấy Chúa ngay từ bây giờ cơ mà…Thấy qua bí tích Thánh Thể, qua tha nhân – là đền thờ Thánh Thần – bằng ánh mắt tâm linh, chứ không thể bằng con mắt xác thịt được đâu đấy.

 

  1. Bằng chứng bảy

Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.(Mt 28:20)

Tới đây, có lẽ bạn đă thấy quá rơ rối chứ: Ở cùng anh em mọi ngày - ngay tại trần gian tràn ngập gian nan và khốn khó này..

Ngài nhất định không bao giờ nói: Thày sẽ ở cùng anh em mai sau trên thiên đàng đời đời chẳng cùng, Amen!!

 

Vấn đề thứ ba: Cầu xin

 

Nói tới cầu xin, tớ thấy xuất hiện ba lối nh́n thú vị sau đây

 

1.      Linh mục – đại ân nhân của nhân loại.

Trước hết, tớ c̣n nhớ ngày xưa các cha giáo Chủng viện dạy rằng. Hàng giây, hàng phút đều có linh mục giang tay trên bàn thờ dâng lễ để ngăn cơn thịnh nộ của Thiên Chúa Cha. Tớ cũng thấy ḿnh hănh diện lắm…và nghĩ thầm cả thế giới phải biết ơn linh mục. Nếu không nhờ các linh mục, thế giới đă ra tro bụi trong nháy mắt v́ loài người hàng giây, hàng phút, xúc phạm tới Chúa quá sức lẽ ḿnh, không sao kể xiết được.

 

Đúng rồi, linh mục quả là ân nhân của nhân loại. Ngoài ra, linh mục c̣n cao trọng nhờ mang trong ḿnh chức thánh nữa đấy!! một phẩm tước c̣n vinh dự và cao cả hơn các thiên thần!!!

 

2.      Thiên Chúa - một người cha nặng tai, với con tim băng giá vô cảm.

Nhưng…Nhưng….

Ngược với lối nh́n tự hào ở trên, Thiên Chúa trở thành một người cha quái dị!!

Bạn thấy đấy, Giáo Hội đă cầu nguyện suốt gần hai ngàn năm nay rồi, tính từ thánh lễ đầu tiên …thế mà ông Chúa có chịu lắng tai nghe đâu!!! Dường như Ngài hơi nặng tai, nên chẳng nghe tiếng  Giáo hội năn nỉ ỉ ôi biết gần hai mươi thế kỷ…

Hoặc là Ngài nghe thấy, nhưng lại có trái tim băng giá nên chẳng thèm cho tham dự vào thiên tính … dường như Ngài c̣n xử tệ hại hơn cả vị quan ṭa trong Phúc Âm khi ông ta nhủ thầm:  Mụ goá này quấy rầy măi, th́ ta xét xử cho rồi, kẻo mụ ấy cứ đến hoài, làm ta nhức đầu nhức óc. (Lc 18:5)  Trong khi ông Chúa của chúng ta không biết nhức đầu, nhức óc là ǵ.. nên cứ tỉnh bơ, mặc cho các linh mục quấy rầy gần hai ngàn năm rồi!!! 

       Gương mắt Chúa bị méo mó dị dạng khủng khiếp!!

Tớ không thể nào có thể h́nh dung một vị Thiên Chúa nhân lành nhất thế giới mà lại chơi khăm Giáo hội như vậy.. nhưng theo lư luận của  bạn, th́ rơ ràng Thiên Chúa đang giả điếc làm ngơ!!!…

 

Này, sao cậu dám phạm thượng quá quắt như thế, sao dám bảo Chúa điếc, sao dám bảo Chúa chơi khăm. Cậu mà sống thời trung cổ, tớ sẽ đẩy cậu lên giàn hỏa … thành bó đuốc sống!!

Vậy cậu ư nói Giáo Hội đang làm tṛ hề hay sao???

 

3.      Thiên Chúa yêu thương vô biên

Lại chơi tṛ dồn tớ vào chân tường đấy hả???

Tớ nói cho bạn biết, theo Ánh mắt Tâm linh, khi tới phần nhỏ giọt nước vào chén rượu nho, thay v́ năn nỉ van nài Chúa đoái thương cho chúng con được tham dự vào Thiên Tính … tớ rất vui v́ lại thêm một lần xác tín ḿnh đang thực sự ḥa tan trong Ngài…và mỗi lần một xác tín hơn …đến nỗi hiện nay tớ và Chúa không phải bên nhau hay gần nhau mà là trong nhau, nên một với nhau… thế mới sướng rên mé đ́u hiu chứ!!

Đơn giản chỉ v́ tớ nhận ra ḿnh đă được thông phần Thiên Tính từ khuya rồi..từ ngay khi c̣n trong ḷng mẹ cơ đấy!! Lúc mà Chúa đă thánh hiến tớ bằng Thánh Thần của Ngài.

Trong lúc tớ chịu Phép Rửa, Chúa Cha đă nghiêng xuống trên tớ vào mỉm cười: Này con, con yêu dấu của Ta.

Khi rước Chúa – chứ không phải rước lễ, tớ nhận ra rằng: Tớ ăn thịt và uống máu Chúa, th́ ở lại trong Chúa, và Chúa ở lại trong tớ.. rơ ràng ứng nghiệm lời Kinh Thánh ngay tại đây, chứ đâu phải đợi măi đời sau..tớ mới được gặp Chúa và ở lại trong Ngài!!

Rồi khi chịu phép thêm sức, Ngài chẳng nhũng ban bảy ơn Thánh Thần mà con ban cả chính Thánh Thần của Ngài nữa mới quả là tuyệt vời..

Có như vậy, Thiên Chúa mới đích thực là Thiên Chúa t́nh yêu chứ..

Theo lư luận của bạn, gương mặt Thiên Chúa bỗng biến thành dị dạng, méo mó với những h́nh ảnh điếc lác, nhẫn tâm, vô cảm… người ngoài Công Giáo sẽ bị dị ứng kinh khủng lắm đấy bạn ạ…

 

Tóm lại, qua cuộc tranh luận nảy lửa nhưng đầy t́nh thân này, Tâm Linh Vào Đời ân cần gởi tới quư độc giả một vài suy tư nho nhỏ. Biết đâu quư vị lại khám phá ra những điều c̣n thú vị hơn…

Xin vui ḷng gởi những khám phá mói về địa chỉ: tamlinhvaodoi@gmail.com

Ban biên tập xin chân thành cảm ơn trước.

 

 

Lời Giới Thiệu

 

THẦY LÀ ĐỨC KITÔ

 

Trần Mỹ Duyệt

 

 

Ông Phêrô đă trả lời đúng câu hỏi của Chúa Giêsu: “C̣n anh em, anh em bảo thầy là ai?” (Mc 8:29). Trong câu hỏi này, chỉ có ḿnh Phêrô đă có câu trả lời đúng: “Thầy là Đức Kitô” (Mc 8:29).  

 

Cùng một Chúa Nhật 24 thường niên, nhưng bài trích Tin Mừng của Mátthêu ở chu kỳ phụng vụ năm A, Chúa Giêsu được mô tả như một Thiên Chúa đầy t́nh thương tha thứ, qua câu trả lời mà Phêrô đă hỏi ngài. Ông muốn xác định bao nhiêu lần cần phải tha thứ cho những người đă xúc phạm đến ông, và ngài đă nói: “Thầy không bảo anh phải tha đến bẩy lần, nhưng bẩy mười lần bẩy” (Mt 18:24). Rồi trong trích đoạn Tin Mừng của Luca ở chu kỳ năm C, Chúa Giêsu lại nói với mọi người về ḷng thương tha thứ của Thiên Chúa qua h́nh ảnh người con hoang đàng: “Trên trời sẽ vui mừng v́ một người tội lỗi hối cải hơn chín mươi chín người công chính không cần hối cải” (Lc 15: 7).

 

Nếu đem nối kết hai tư tưởng của Thánh Mátthêu và Thánh Luca, chúng ta sẽ t́m thấy được h́nh ảnh rơ nét của một Thiên Chúa nhân từ, yêu thương và tha thứ. Điều này đă cho biết tại sao câu trả lời của Thánh Phêrô trong Tin Mừng Marcô hôm nay làm vui ḷng Chúa: “Thầy là Đức Kitô”.

 

Đức Kitô là Thiên Chúa. Mà Thiên Chúa luôn luôn yêu thươngchan chứa t́nh thương đối với con người, dù khi con người chối bỏ ngài, xúc phạm đến ngài. Nhưng nếu Chúa không phiền trách con người về những lỗi lầm của nó, th́ việc con người phủ nhận t́nh thương của ngài lại là một lỗi lầm mà ngài không thể chấp nhận được. Ngài đă phản ảnh điều này khi Phêrô can ngăn ư định của ngài muốn minh chứng t́nh yêu đối với con người. Và việc làm của Phêrô đối với  ngài là một sai lầm lớn. Chính v́ thế, ngài đă nói với ông như nói với Satan: “Satan, hăy lui đi, v́ ngươi không biết việc Thiên Chúa, mà chỉ biết việc loài người” (Mc 8:33).

 

Việc con người, ngay cả khi được soi dọi từ trời cao mà nhận ra ngài là “Đức Kitô” vẫn khác với việc của Thiên Chúa. Đó là việc con được soi dọi để nhận ra Thiên Chúa, nhưng lại không hiểu nổi và chấp nhận được tại sao Thiên Chúa lại yêu ḿnh, yêu đến độ hy sinh thí mạng sống ḿnh v́ con người. Những điều này như đă được tường thuật của Máttthêu và Luca nói đến.

 

Cũng chính v́ vậy, mà khi con người xúc phạm đến tha nhân, xúc phạm đến anh chị em ḿnh, là con người đă làm một điều tội lỗi hết sức lớn lao. Sự xúc phạm này, Thiên Chúa con như xúc phạm đến chính ngài. Và cũng ở đây, ư nghĩa của đức bác ái trọn hảo, ư nghĩa của t́nh yêu thương tha thứ mới được rơ nét. Đạo Chúa, do đó, được gọi là đạo của t́nh thương. Và mến Chúa hay yêu tha nhân cũng là một.

 

Phêrô tưởng như đă biết rơ về Chúa Giêsu khi ông trả lời câu hỏi mà Chúa muốn hỏi riêng nhóm của ông - những người được ưu tuyển - Một câu trả lời khiến ngài phải ngỡ ngàng, một câu trả lời do Cha trên trời mạc khải cho: “Thầy là Đức Kitô”. Một câu trả lời không giống bất cứ câu trả lời nào của quần chúng, của “người ta” bảo Chúa là ai? Đối với những người khác, Chúa Giêsu chỉ là một triên tri cỡ lớn như Êlia, như Gioan Tẩy Giả. Nhưng chỉ có những người như Phêrô mới nh́n ra ngài là Đức Kitô. Mới biết được ngài là Con Thiên Chúa, là Đấng Cứu Thế.

 

Nhưng biết và sống lại khác nhau. Và đây là thân phận của con người. Biết thầy là Đức Kitô nhưng không chấp nhận thầy phải hy sinh và chịu chết. V́ nếu thầy chết th́ hào quang vinh hiển của Đức Kitô coi như tiêu tan. Và nếu thế th́ việc theo ngài, làm tông đồ, làm môn đệ ngài cũng uổng công. Không những uổng công mà c̣n mang họa vào thân, phải chịu nhiều điều đau thương, thử thách. Do đó, cần phải can ngăn Chúa, để nếu ngài ra khỏi sự hy sinh, thử thách ấy, họa chăng ḿnh sẽ dễ dàng, sẽ có lợi hơn.

 

Áp dụng vào đời sống thực hành và qua việc sống đời bác ái đối với tha nhân, nhiều khi Kitô hữu chúng ta cũng ứng xử và hành động như Phêrô. Có nghĩa là lúc sốt sắng, lúc được an ủi, được mọi điều may lành, chúng ta không khó ḷng để nh́n ra Chúa nơi mọi biến cố cuộc sống, và qua anh chị em ḿnh. Nhưng khi đức ái bị thử thách, đó là, khi phải chịu thiệt tḥi, phải tha thứ, phải bỏ qua những lỗi lầm của anh chị em, phải cố mà nh́n ra Chúa Giêsu trong khuôn mặt của người thù ghét ḿnh, của người làm cho ḿnh phải khổ, lúc đó, chúng ta cũng muốn bỏ cuộc, và tháo lui.

 

Nhưng v́ thầy là Đức Kitô th́ không thể không chấp nhận bị ghét bỏ, bị hành h́nh, và bị tử h́nh thập giá. V́ chỉ có thế thầy mới thật sự là Đức Kitô, và h́nh ảnh của một Thiên Chúa nhân lành, yêu thương, và tha thứ mới được thể hiện nơi thầy. Phêrô mới nh́n thấy hào quang của thầy, nhưng chưa nh́n thầy bằng cái nh́n “cứu thế” thực sự.

 

Đời sống Kitô hữu cũng sẽ mất đi ư nghĩa. Việc chúng ta theo Chúa sẽ không đi đến cùng đích. Và một vài hành động đạo đức nhất thời không nói lên được rằng chúng ta thật sự biết Chúa, biết ngài là ai, nếu như chúng ta không đi vào thực hành ư nghĩa Kitô hữu, một căn tính chuyên biệt và duy nhất của mỗi người chúng ta khi đón nhận phép rửa tội, khi gia nhập Giáo Hội Công Giáo, và khi bước đi theo ngài trong ơn gọi Kitô hữu của ḿnh. Tất cả đều được gói gọn trong đức bác ái. Trong những thực hành cụ thể hằng ngày như cho người đói ăn, người khát uống, rách rưới áo quần để mặc, thăm viếng, an ủi kẻ tù tội, bệnh tật... Nhưng nhất là phải tiếp tục hành động như thế mặc dù đôi lúc cảm thấy khó chịu, thiệt tḥi, và không lợi lộc ǵ.

 

“Thầy là Đức Kitô”. Nhưng là một Đức Kitô tha thứ, yêu thương, và yêu thương cho đến chết. Khi nh́n ra được điều này, và nói được câu nói này như Phêrô, nhưng về phương diện thực hành th́ sao?! Liệu chúng ta có bị Chúa phiền trách như đă phiền trách Phêrô không? Và điều mà ngài có thể phiền trách chúng ta nhất, đó là đă không khám phá và sống đúng với ơn gọi Kitô hữu của ḿnh. Một ơn gọi được củng cố và xây dựng hoàn toàn trên đức bác ái. Một đức ái bền bỉ, đi vào thực tế, và quên ḿnh.

 

Lời Giới Thiệu

 

Đức Giêsu Kitô,

Đấng cứu độ phổ quát

 

Chương 5

Nguyễn Thái Hợp, o.p.

 

Qua những tŕnh bày sơ lược ở trên chúng ta đă mơ hồ nhận ra điểm gai góc nhất của vấn đề đối thoại liên tôn nằm ở việc giải thích vai tṛ cứu độ của Đức Kitô, Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và nhân loại. Ngài là con đường cứu độ phổ quát và duy nhất cho nhân loại? Ngoài Ngài ra, có c̣n con đường cứu độ nào nữa không? Nếu có, phải hiểu và giải thích như thế nào tương quan giữa Đức Kitô với các con đương cứu độ khác? Trong bối cảnh đa phức tôn giáo hôm nay, c̣n chăng xác quyết cổ điển: “Đức Giêsu – Kitô, Đấng cứu độ phổ quát”?

Tông thư “Ngàn năm thứ ba đang tới” cũng công nhận việc bảo vệ vai tṛ trung gian cứu độ của Đức Kitô là một trong những vấn đề thần học sôi bỏng nhất cho Giáo hội tại Á châu, “bởi v́ cơ cấu các tôn giáo lớn như Phật giáo và Ấn giáo cũng được tŕnh bày như bao hàm rơ rệt tính cứu độ. Do đó, nhu cầu cấp bách của tân Phúc-âm-hóa ở Á châu là “làm sáng tỏ và đào sâu đạo lư về Đức Kitô, Đấng Trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người, bằng cách phân biệt Ngài với các vị sáng lập các tôn giáo lớn khác, mặc dù ta gặp thấy nơi các tôn giáo này những yếu tố chân lư mà Giáo hội phải tôn trọng”[1].

 

1- Các mô h́nh thần học về con đường cứu độ

 

Trong mấy thập niên gần đây, các tác giả đă đưa ra nhiều lối giải thích về vai tṛ cứu độ của Đức Kitô. Tùy theo vị thế mà người ta dành cho Đức Kitô trong chương tŕnh cứu độ phổ quát của Thiên Chúa, chúng ta có thể phân loại lập trường và quan điểm của các tác giả này, đi từ một “thượng Kitô học”, giải thích theo chiều hướng khép kín và loại trừ châm ngôn cổ điển “Extra ecclesia nulla salus”, cho đến một “hạ Kitô học” trong đó tất cả đặc tính và sứ vụ cứu độ của Đức Kitô bị đặt thành vấn đề, nếu không muốn nói là bị phủ nhận.

Mặc dù các tác giả chưa đi đến một đồng thuận nào về việc xếp loại các mô h́nh thần học, để dễ dàng trong việc phân tích, xin tạm chia thành ba mô h́nh chính: Dĩ Giáo hội vi trung, dĩ Đức Kitô vi trung và dĩ Thiên Chúa vi trung [2].

 

a)- Mô h́nh “dĩ Giáo hội vi trung”, (lấy Giáo hội làm trung tâm điểm)

Là một mô h́nh thần học có tính khép kín và loại trừ về nhiệm cục cứu độ. Mô h́nh này xác quyết Đức Kitô là Đấng trung gian độc nhất giữa Thiên Chúa và nhân loại. Ngoài Ngài ra, không c̣n con đường hay trung gian cứu độ nào khác. Ơn cứu độ chỉ đạt tới do niềm tin nơi Ngài và ngang qua Giáo hội do Ngài thiết lập.

Như chúng tôi đă tŕnh bày ở trên, mô h́nh thần học này hiểu và giải thích công thức “Ngoài Giáo hội không có cứu độ” theo nghĩa đen, khép kín và tuyệt đối. Hậu quả tất nhiên của nó là loại trừ tất cả những con đường cứu độ khác. Trong quá khứ Giáo hội Công giáo chấp nhận quan điểm thần học này như là một quan điểm truyền thống.

 

Về phía Giáo hội Tin lành

Đây cũng là một trong những luận điểm căn bản của Giáo hội Tin lành, với công thức cổ điển “chỉ duy ḷng tin” và “chỉ nhờ một ḿnh Đức Kitô”[3]. Chủ trương “Tôn giáo là vô tín” của Karl Barth, chẳng hạn, đă được một số người giải thích và sử dụng làm cơ sở lư luận cho “mô h́nh thần học khai trừ”. Theo thần học gia tên tuổi này tôn giáo, tất cả mọi tôn giáo, nói cho cùng chỉ là tham vọng của con người muốn chiếm đoạt Mạc khải và ơn Cứu độ của Thiên Chúa. Tuy nhiên, tự sức ḿnh con người không thể đạt tới đích điểm cứu độ và cũng chẳng tôn giáo nào có khả năng cứu độ. Do đó, tất cả mọi tôn giáo, kể cả Kitô giáo, đều không có khả năng cứu độ tự tại, nếu như đă không được Đức Kitô mạc khải[4].

Vào giai đoạn cuối đời Karl Barth có cái nh́n cởi mở hơn. Ông công nhận sự hiện hữu của “những ánh sáng” ở bên ngoài chân trời Kitô giáo. Tuy nhiên, nếu “những ánh sáng” này có thể đóng góp ǵ cho công tŕnh cứu độ th́ cũng chỉ trong và nhờ ánh sáng của Đức Kitô mà thôi. Karl Barth đă thích thú nghiên cứu chủ trương “giải thoát chỉ nhờ ḷng tin” của phái Tịnh độ tông, nhưng liền sau đó ông đă loại trừ giá trị cứu độ nơi tông phái Phật giáo này, với lư do giản dị là Kinh Thánh đă xác quyết ơn cứu độ chỉ do ḷng tin nơi Đức Kitô Giêsu mà thôi.

 

Tiếp nối tư tưởng của Karl Barth và đồng thời để trả lời cho những thách đố do hiện tượng đa phức tôn giáo đặt ra, nhiều thần học gia Tin lành hiện đại chủ trương mô h́nh “khai trừ nới rộng”. Họ công nhận một vài giá trị mạc khải nơi các tôn giáo khác, bởi v́ một vài bản văn Kinh Thánh cũng nói đến mạc khải phổ quát hay mạc khải nguyên thủy hàm chứa trong công cuộc tạo dựng. Nhưng nếu phân tích đến kỳ cùng lư, các mạc khải nói trên chẳng bao giờ có thể dẫn đưa con người đến nguồn ơn cứu độ. Hơn nữa, trong tất cả các tôn giáo luôn hiện diện quá nhiều điểm hàm hồ và dị nghĩa. Chúng có nguy cơ tự khép kín, nhất là có tham vọng kéo gh́, chi phối và dụng cụ hóa Thiên Chúa, khi đề cao giá trị “việc lành” hay khả năng của con người mà coi nhẹ “ơn huệ nhưng không” của Thiên Chúa trong tiến tŕnh cứu độ.

Dưới ảnh hưởng của K. Barth, “Tuyên ngôn thần học tại Barmen” (1934) của Giáo hội Tin Lành chính thức công nhận quan điểm “thần học khai trừ” này. Kể từ Hội nghị của Tổng Hội Tin lành thế giới tại Tân Đê-li (1961) và Uppsala(1968), các hệ phái Tin lành cổ điển tương đối có cái nh́n cởi mở hơn về giá trị của các tôn giáo ngoài Kitô giáo trong chương tŕnh cứu độ phổ quát.

Tuy nhiên các hệ phái Tin lành Toàn thống (Fundamentalists and Evangelicals) vẫn tiếp tục bảo vệ chủ trương khai trừ. Họ cho rằng tín thư Kitô giáo đă chứa đựng trọn vẹn trong Kinh Thánh và họ triệt để giải thích theo nghĩa đen những đoạn văn Kinh Thánh liên quan đến vấn đề cứu độ. Nếu được phép giản lược, chúng ta có thể tóm tắt luận điểm căn bản của họ vào mấy điểm sau đây: chỉ có một tôn giáo đích thực, một Đấng trung gian duy nhấtmột con đường cứu độ. Loài người đă phạm tội, nên xa ĺa Thiên Chúa và bị luận phạt, nhờ Đức Kitô tội lỗi được đền bù. Do đó, để được cứu độ con người phải tin theo Đức Kitô, v́ Ngài là Đấng Trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và nhân loại. Các tôn giáo khác, dù tốt lành và gương mẫu đến đâu đi chăng nữa, cũng chẳng mang một giá trị cứu độ nào cả.

Luận điểm này được long trọng công bố trong “Bản Tuyên ngôn Frankfurt” nhân dịp Hội nghị thần học của Tin lành Toàn thống (Evangelicals) ngày 4 tháng 3 năm 1970 tại Frankfurt. Thỏa ước tại Lausanne được Hội nghị quốc tế Tin Lành chấp nhận vào năm 1974 và Tuyên ngôn Manila vào năm 1989 của cùng một tổ chức đă khẳng định: “chẳng điều ǵ cho phép nói rằng có thể đạt được sự cứu độ ngoài Đức Kitô hay ngoài việc chấp nhận hiển nhiên công phúc của Ngài do ḷng tin”.

Một số nhóm quá khích của các hệ phái Tin Lành này c̣n đi đến chủ trương “độc quyền cứu độ”: không những họ loại trừ khỏi con đường cứu độ tất cả các tín đồ ngoài Kitô giáo, mà hơn nữa c̣n xác quyết rằng tất cả những ai không thuộc phe nhóm của họ, kể cả các Kitô hữu thuộc các Giáo hội khác, cũng chẳng được cứu độ. Nói một cách giản dị, không những họ triệt để bảo vệ luận điểm “ngoài Giáo hội không có ơn cứu độ”, mà hơn nữa đă tự đồng hóa “Giáo hội của Đức Kitô” với hệ phái của họ.

 

Về phía Giáo hội Công giáo

Như chúng tôi đă tŕnh bày ở trên, ngay từ cuối thập niên 40 đă chính thức từ bỏ mô h́nh thần học khai trừ này. Sang thập niên 60, Công đồng Vatican 2 đưa ra một thay đổi quan trọng về lối nh́n và cách đánh giá vị thế của các tôn giáo ngoài Kitô giáo trong chương tŕnh cứu độ. Trước hết, Công đồng đă trả lại ư nghĩa nguyên thủy của câu nói “ngoài Giáo hội không có ơn cứu độ": câu châm ngôn này được thánh Cyprianô đưa ra để đối phó với hoàn cảnh đặc biệt của Giáo hội Carthage vào cuối thế kỷ thứ 3, một Giáo hội đang bị chia rẽ và có nhiều người ly khai. Như vậy nó áp dụng trực tiếp cho những ai đă là thành phần của Giáo hội Công giáo và đă ư thức rơ rệt vai tṛ cần thiết của Giáo hội trong công cuộc cứu độ, thế mà lại nhất quyết từ bỏ Giáo hội[5].

Công đồng đặc biệt đặt nổi ư định cứu độ phổ quát của Thiên Chúa và vai tṛ tích cực của các tôn giáo ngoài Kitô giáo. Ở đây cần h́nh dung Giáo hội như là Thân thể của Đức Kitô, nghĩa là bao gồm tất cả những ai được kết nạp vào mầu nhiệm Vượt qua của Đức Kitô, theo kiểu nói của Hiến chế Vui mừng và Hy vọng số 22. Giáo hội và Đức Kitô gắn liền với nhau. Giáo hội là một thực thể mầu nhiệm, một sự thông hiệp thiêng liêng bao gồm hết mọi người công chính kể từ ông Abel cho đến ngày thế mạt.

 

b)- Mô h́nh “dĩ Đức Kitô vi trung” (lấy Đức Kitô làm trung tâm)

Là kết quả của tiến tŕnh thần học đi từ mô h́nh khai trừ sang mô h́nh bao hàm. Các tác giả theo mô h́nh này không chấp nhận chủ trương cho rằng ơn cứu độ do niềm tin nơi Đức Kitô chỉ đạt tới ngang qua Giáo hội mà thôi. Đức Kitô vẫn luôn luôn là Đấng Cứu độ định chế, nhưng ơn cứu độ của Ngài vượt khỏi giới hạn chật hẹp của Kitô giáo. Nói cách khác, Đức Kitô luôn luôn là Đấng trung gian cứu độ phổ quát, tuy nhiên không nhất thiết bó buộc phải thuộc về Giáo hội để được cứu độ. Một Thiên Chúa, một Đức Kitô ... nhưng nhiều cách thế cứu độ khác nhau.

 Giáo hội của Đức Kitô là “bí tích cứu độ” cho tất cả các dân tộc. Tất cả các thành viên khác của Kitô giáo như Chính thống giáo, Anh giáo và Tin lành cũng tham dự vào Giáo hội đích thực của Đức Kitô. Nói rơ hơn, Giáo hội như thân thể huyền nhiệm của Đức Kitô không những chỉ hiện diện trong Giáo hội Công giáo, mà trong một mức độ nào đó, cũng hiện diện trong các Giáo hội Kitô giáo khác. Chính v́ vậy không thể hiểu câu châm ngôn của thánh Cyprianô “Ngoài Giáo hội không có ơn cứu độ” theo nghĩa đen, như thể là ngoài Giáo hội Công giáo Roma hữu h́nh và lịch sử không có ơn cứu độ.

Giáo hội đồng thời cũng là bí tích hợp nhất của gia đ́nh nhân loại. Theo kiểu nói của thần học gia Yves Congar, đây là một hiệp thông trong đó sự hợp nhất chung kết sẽ là thành quả của một phức biệt được giao hoà (diversité réconciliée). Những phần chân lư và nét đặc thù của mỗi Giáo hội sẽ được tôn trọng và vận dụng tối đa, ngơ hầu t́nh trạng hợp nhất chung kết sẽ phong phú và đa diện hơn điểm khởi hành.

Hiểu như thế, Giáo hội do Đức Kitô thiết lập là một Giáo hội duy nhất, nhưng bao gồm vừa yếu tố nhân loại vừa yếu tố thần linh, vừa cơ cấu hữu h́nh vừa mầu nhiệm cứu độ. Nh́n trong toàn thể, Giáo hội của Đức Kitô vừa đă hiện diện như một thực tại lịch sử, vừa chưa hoàn thành như một thực tại cánh chung, bởi v́ Giáo hội chưa phải Nước Thiên Chúa đă hoàn thành, mà chỉ là “mầm và khởi đầu của Nước ấy trên trần gian”[6].

Cũng chính trong viễn tượng đó mà một số thần học gia đề nghị nên hiểu tính duy nhất và phổ quát của Giáo hội trong tiến tŕnh cứu độ. Sự hiệp nhất trong đa dạng và sự hiệp thông trong mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi được quan niệm như một biểu lộ vẻ phong phú và tính phổ quát của Giáo hội. Trái lại nếu chủ trương một thứ hợp nhất theo kiểu “đơn điệu và đồng loạt” trong đó các Giáo hội khác hoàn toàn tan biến trong Giáo hội Công giáo Roma, chẳng hạn, chắc chắn không giải quyết nổi t́nh trạng chia rẽ và phân hóa hiện nay. Ngoài ra, c̣n tạo nên một số mâu thuẫn và khó khăn về mặt thần học rất khó giải quyết[7].

Chúng ta gặp thấy nơi đây một biến đổi quan trọng không những đối với thần học về tôn giáo, mà c̣n đối với thần học nói chung. Bất chấp vai tṛ và vị thế mà trong quá khứ người ta đă gán cho Giáo hội, không bao giờ có thể đặt Giáo hội ngang hàng với Đức Kitô trong trật tự cứu độ, cũng chẳng có thể đồng hóa bất cứ Giáo hội hữu h́nh và lịch sử nào với “Giáo hội, Nhiệm thể của Đức Kitô”. Ơn cứu độ chỉ lệ thuộc vào niềm tin nơi Đức Kitô, Đấng trung gian duy nhất (xc. 1 Tm 2,5; Dt 8,6; 9,15; 12,24). Chính Ngài là trung tâm điểm của Kitô giáo chứ không phải Giáo hội. Cũng chỉ duy Ngài là trung gian giữa Thiên Chúa với nhân loại, c̣n Giáo hội chỉ đóng vai tṛ dụng cụ, chứng tá và bí tích, trong tương quan với mầu nhiệm cứu độ của Đức Kitô.

Xét như “bí tích cứu độ”, Giáo hội giới thiệu những phương tiện cứu độ ở mức độ viên măn, nhưng Thiên Chúa không bao giờ bị giam hăm trong đó: Ngài có thể cứu độ những người ở bên ngoài biên cương của Giáo hội và ở bên ngoài cái mà người ta thường gọi là “phương tiện cứu độ b́nh thường”, nghĩa là các bí tích. Nói cách khác, Giáo hội sẽ trở thành biểu hiệu hữu h́nh của “bí tích cứu độ thường xuyên” của thực tại cứu độ bao la được thực hiện một cách nhiệm mầu, ở bên trong cũng như bên ngoài biên giới của chính Giáo hội[8].

Một số thần học gia coi đây là sự hiện diện của Nước Trời trong các tâm hồn và giữa ḷng lịch sử nhân loại hay, theo kiều nói của linh mục D. Chenu, “việc nhập thể của Tin Mừng trong thời gian”. Tuyên ngôn “Thời Đại chúng ta” cũng nh́n nhận sự hiện diện của “tia sáng chân lư chiếu soi mọi người” nơi các tôn giáo khác. Tuyên ngôn coi đây là những “giá trị” và một thứ “con đường” mà Kitô giáo có thể nh́n nhận[9]. Sắc lệnh về truyền giáo nhắc lại quan điểm cổ truyền về sự hiện hữu của “hạt giống Ngôi Lời” và “những kho tàng phong phú mà Thiên Chúa đă ban cho các dân tộc do ḷng độ lượng của Ngài”(AG.11). Cuối cùng Hiến chế “Ánh sáng muôn dân” ghi nhận những ân sủng không những Thiên Chúa đă gieo vào “trong tâm trí con người” mà c̣n “nơi các lễ nghi và tập tục của các dân tộc” (LG.17).

 

c)- Mô h́nh dĩ Thiên Chúa vi trung (lấy Thiên Chúa làm trung tâm).

Trong mấy thập niên gần đây, một số tác giả c̣n đi xa hơn: bước từ quan điểm lấy Đức Kitô làm trung tâm để tiến tới chủ trương lấy Thiên Chúa làm trung tâm[10]. Quan điểm này cũng thường được gọi là đa nguyên tôn giáo, theo đó chỉ duy Thiên Chúa mới là “trung tâm điểm” của một tiến tŕnh cứu độ nhiêu khê và phức tạp, khởi đi từ công cuộc sáng tạo, ngang qua mầu nhiệm Nhập thể và vẫn tiếp diễn cho đến tận cùng lịch sử. Qua những ngă đường dị biệt, ngoằn nghèo, chồng chéo lên nhau và nhiều khi c̣n tương phản nhau nữa, nhân loại đang lần ṃ tiến về cùng một cứu cánh duy nhất[11].

 Các tác giả theo khuynh hướng này cho rằng tín điều Kitô học cổ điển lệ thuộc quá nhiều vào quan điểm triết lư Hy lạp. Dĩ nhiên lối diễn tả đó cần được cập nhật v́ đă bị thời gian vượt qua và v́ cản trở công cuộc đối thoại liên tôn. Tri thức luận của E. Kant được chọn làm nền tảng triết học cho chủ trương đa nguyên tôn giáo này. Theo triết gia E. Kant, chúng ta chỉ có thể nhận thức “phainomenon” (hiện tượng, cái biểu lộ bên ngoài) của sự vật, chứ không nắm bắt được “nooumenon” (bản thể, cái nội tại) của nó. Điều đó có nghĩa là chúng ta chỉ nhận thức được điều mà sự vật xuất hiện và được tŕnh bày cho chúng ta, chứ không phải là nội dung đích thực của nó. Một cách sâu xa hơn, đối với tri thức về Thiên Chúa, chúng ta chỉ có thể nhận thức được những ǵ Ngài mạc khải cho ta trong một giai đoạn lịch sử nhất định nào đó, chứ không bao giờ có thể hiểu thấu bản thể tự tại của Ngài. Do đó không thể phân tích các h́nh ảnh và phẩm tính khác nhau của Thiên Chúa để đạt tới chân lư khách quan về Ngài.

 Nếu chỉ c̣n những ư tưởng, quan niệm, h́nh ảnh và lư tưởng tương đối về thực tại thần linh có khả năng dẫn đưa chúng ta tới chân lư siêu việt, như vậy rơ rệt là Kitô giáo rất khó biện minh cho vị thế độc đáo và tuyệt đối của ḿnh trong lịch sử cứu độ. Và nếu lấy “Thiên Chúa làm trung tâm điểm cứu độ” th́ Đức Kitô không c̣n giá trị qui phạm và cũng chẳng c̣n tính cứu độ phổ quát. Hệ luận tất nhiên là phải chấp nhận đa dạng về con đường cứu độ và cần xác định lại vai tṛ trung gian cứu độ duy nhất của Đức Kitô.

Trên thực tế, các tác giả theo chủ trương đa nguyên giải thích vai tṛ cứu độ của Đức Kitô theo nhiều dạng thức và chiều hướng khác nhau. Có người cho rằng quan niệm lấy Đức Kitô làm trung tâm cứu độ đang bị vượt qua: vai tṛ của Đức Giêsu-Kitô bị tương đối hoá, Ngài chỉ c̣n là một vị Giáo tổ đặc biệt và đă tích cực giúp nhân loại ư thức rơ rệt tư cách làm con Thiên Chúa của ḿnh. Trong khi đó một số khác lại coi đây như một giả thiết để nghiên cứu, nghĩa là “tạm thời đặt trong ngoặc kép vai tṛ trung gian cứu độ của Đức Kitô” ngơ hầu có thể thực hiện một cuộc đối thoại b́nh đẳng với các tôn giáo khác. Có người lạc quan nghĩ rằng kết quả của cuộc đối thoại sẽ chứng tỏ giá trị đích thực của xác tín Kitô giáo về mầu nhiệm cứu độ của Đức Kitô.

Câu hỏi căn bản vẫn luôn luôn được đặt ra: Đức Kitô có c̣n giữ vai tṛ trung gian cố hữu nữa không trong viễn tượng một thần học lấy Thiên Chúa làm trung tâm? Có thể chấp nhận chủ trương theo đó, suốt dọc lịch sử, Thiên Chúa đă tự mạc khải cho nhân loại dưới nhiều dạng thức khác nhau qua kinh nghiệm của các tôn giáo và như thế chỉ dành cho Đức Kitô một vai tṛ qui phạm nào đó thôi? Nếu được phép giản lược, chúng ta có thể chia mô h́nh thần học lấy Thiên Chúa làm trung tâm thành hai quan điểm chính, dựa trên vai tṛ mà người ta dành cho Đức Kitô trong chương tŕnh cứu độ.

* Nhóm thứ nhất mặc dù chủ trương lấy “Thiên Chúa làm trung tâm cứu độ”, vẫn dành cho Đức Kitô một vị thế đặc biệt trong chương tŕnh cứu độ phổ quát này. Ngài là biểu tượng hoàn thiện nhất hoặc mô h́nh lư tưởng nhất của chương tŕnh cứu độ. Nói cách khác, Đức Kitô vẫn đóng một vai tṛ qui phạm nào đó trong tương quan cứu độ giữa Thiên Chúa với con người.

* Nhóm thứ hai phủ nhận mọi vai tṛ qui phạm của Đức Kitô. Theo họ, chương tŕnh cứu độ phổ quát của Thiên Chúa được thể hiện dưới nhiều dạng thức và ngang qua nhiều truyền thống tôn giáo khác biệt. Tất cả mọi tôn giáo, trong vẻ cá biệt, đa phức và đa diện sâu xa, đều có giá trị như nhau. Không một truyền thống nào, kể cả Kitô giáo, tiên thiên đóng “vai tṛ qui phạm”. Từ đó, dĩ nhiên Đức Kitô không c̣n là Đấng trung gian cứu độ duy nhất và phổ quát giữa Thiên Chúa với nhân loại.

Nhiều tác giả theo khuynh hướng này không muốn tiên thiên phá đổ niềm tin Kitô giáo hay chối bỏ những đ̣i hỏi chính yếu của niềm tin tôn giáo. Tuy nhiên theo họ, tin vào Đức Kitô có nghĩa là tin rằng ḿnh sẽ được cứu độ qua trung gian của Ngài, nhưng không luôn luôn có nghĩa Ngài phải là đấng cứu độ trần gian theo nghĩa cổ điển. Thiên Chúa và Nước Trời là cứu cánh tối hậu mà tất cả các tôn giáo, kể cả Kitô giáo, phải hướng tới, như vận mệnh chung. Hiển nhiên, Đức Kitô vẫn luôn là con đường duy nhất cho các Kitô hữu, nhưng không nhất thiết phải là con đường duy nhất và độc nhất cho mọi người, ở mọi thời và mọi nơi. Bên cạnh con đường cứu độ đặc biệt và độc sáng của Đức Kitô, c̣n nhiều con đường cứu độ khác.

Hệ luận tất nhiên của quan điểm này là Đức Giêsu Kitô không c̣n được xem là vị trung gian cứu độ duy nhất và tuyệt đối.

Uỷ ban Thần học quốc tế đă cô đọng luận điểm này như sau:

“Chỉ riêng đối với Kitô hữu, Ngài là h́nh thái con người của Thiên Chúa, tạo cơ hội thuận lợi cho cuộc gặp gỡ giữa con người với Thiên Chúa, mặc dù không có tính cách loại trừ. Ngài là “Thiên Chúa hoàn toàn” (totus Deus), v́ Ngài là t́nh yêu tích cực của Thiên Chúa trên cơi trần hoàn này, nhưng không phải là “tất cả của Thiên Chúa” (totum Dei), v́ Ngài không tát cạn tất cả t́nh yêu Thiên Chúa. Chúng ta có thể nói rằng Ngài hoàn toàn là Lời Thiên Chúa, nhưng không phải tất cả của Ngôi Lời (totum Verbum, sed non tutum Verbi). Bởi v́ Lời Thiên Chúa (Logos) rộng lớn hơn Đức Giêsu, nên Lời này cũng có thể nhập thể trong các vị sáng lập các tôn giáo khác”[12].

 

2. Vượt trên năo trạng Tây phương

 

 Nhiều cuộc tranh luận thần học về các tôn giáo đang xoay quanh ba mô h́nh thần học nói trên. Phải chăng đây cũng là một mô h́nh thần học loại trừ, nghĩa bất khả tương dung, phải dứt khoát chọn một bỏ một? Tính triệt để, bất tương dung và loại trừ của các mô h́nh thần học này mang nặng năo trạng Tây phương, nên không thể đáp ứng yêu cầu sâu thẳm của một thần học về tôn giáo. Thật vậy, một thần học về đa phức tôn giáo không thể xây dựng trên những mâu thuẫn và loại trừ lẫn nhau, mà trên sự kết hợp hài ḥa, bổ túc, hỗ trợ và giao thoa giữa các yếu tố khác biệt.

Với mô h́nh thần học này rất khó có thể đặt nổi tính cá biệt, độc đáo và phong phú của mỗi truyền thống tôn giáo. Hơn nữa, với chủ trương loại trừ, bó buộc phải chọn một bỏ một nói trên, làm sao c̣n có thể nói đến việc chấp nhận và tôn trọng đa phức tôn giáo? Phải chăng khi đề cao đa phức tôn giáo, mô h́nh thần học “dĩ Thiên Chúa vi trung” lại rơi vào một chủ trương loại trừ triệt để nhất? Phải chăng đa phức tôn giáo không bắt nguồn từ mầu nhiệm thần linh sâu thẳm mà các văn hóa và các tôn giáo chỉ là những biểu hiện mờ nhạt về Thực tại Vô biên? Vô h́nh trung một chủ trương đề cao và nhân danh đa phức tôn giáo, cuối cùng lại bóp chết mọi dị biệt để áp đặt một mô h́nh và lối giải quyết độc nhất !

Ngoài ra lối song quan luận hoặc trắng hoặc đen này cũng không thể áp dụng cho Kinh thánh. Xác quyết của Tân ước về duy nhất tính của Đức Giêsu–Kitô, chẳng hạn, không loại sự hiện hữu của Ngôi Lời trước cũng như sau biến cố nhập thể. Tự ngôn của Tin mừng theo thánh Gioan, chẳng hạn, đă khẳng định sự hiện hữu này. Chính nhờ Ngôi Lời tất cả mọi hữu thể được cứu độ và tất cả mọi con đường cứu độ đồng qui. “Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến trần gian và chiếu soi mọi người. Ngài ở giữa trần gian và trần gian đă nhờ Ngài mà có” (Ga 1,9). Và khi thời gian viên măn, chính Ngài “đă mặc lấy xác thịt” (Ga 1,14) nơi Đức Giêsu-Kitô.

Đứng trên quan điểm thần học, có thể nối kết chủ trương vai tṛ cứu độ duy nhất của Đức Kitô với việc nh́n nhận giá trị cứu độ của các tôn giáo khác. Thay v́ thái độ cực đoan, loại trừ và độc tôn, niềm tin đích thực nơi Đức Kitô mời gọi dấn thân rao giảng Tin Mừng, đồng thời chấp nhận giá trị tích cực của các tôn giáo khác. Do đó, người ta không hiểu tại sao để bảo vệ “đa phức tôn giáo” lại phải phủ nhận vai tṛ qui phạm của Đức Kitô? Đă hẳn, như công đồng Vatican II đă xác quyết, “không bao giờ có thể đặt một tạo vật ngang hàng với Ngôi Lời nhập thể và cứu chuộc”. Tuy nhiên, “sự trung gian duy nhất của Đấng Cứu Thế không những không loại bỏ mà c̣n khuyến khích các thụ tạo cộng tác, với sự tùy thuộc vào suối nguồn duy nhất”[13].

Trên thực tế, quan điểm “dĩ Thiên Chúa vi trung” đă không có khả năng xây dựng một căn bản thần học vững chắc và thoả đáng để làm mẫu số chung cho cuộc đối thoại giữa các tôn giáo hiện nay. Thật vậy, các tôn giáo theo khuynh hướng đa thần, phiếm thần hoặc “vô thần” đương nhiên không chấp nhận luận đề “dĩ Thiên Chúa vi trung” nói trên. C̣n các tôn giáo độc thần như Do Thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo, chẳng bao giờ chịu từ bỏ con đường độc sáng của họ trên hành tŕnh tiến về Thiên Chúa, v́ chính luật Maisen, Đức Kitô và kinh Coran đă tạo nên căn tính của các tôn giáo này.

Sự chân thành trong đối thoại liên tôn cũng không bao giờ cho phép người tín đồ chân chính bỏ đức tin “trong ngoặc kép”, dù chỉ tạm thời. Tính triệt để và toàn vẹn của đức tin không cho phép thoả hiệp hay đánh lận con đen như vậy. Đối thoại liên tôn đích thực đ̣i hỏi mỗi bên phải nói thật và biểu lộ căn tính của ḿnh. Đây là một hành tŕnh kiếm t́m sự thật cứu độ, chứ không phải những mẫu số chung giả tạo.

 

Mô h́nh mới: Dĩ cứu độ vi trung ( Lấy Cứu độ làm trung tâm)

Chính v́ vậy, nhiều tác giả đă từ bỏ mô h́nh “dĩ Thiên Chúa vi trung” để đưa ra một mô h́nh mới: Dĩ cứu độ vi trung[14]. Họ chủ trương rằng tất cả các tôn giáo đều hội tụ ở điểm căn bản theo đó bản chất của mọi tôn giáo và của mỗi một tôn giáo là cứu độ hoặc giải thoát. Nh́n từ điểm cương yếu này th́ tất cả các tôn giáo đều có những đóng góp tích cực như nhau. Sự khác biệt giữa các con đường cứu độ thực ra chỉ là ngoại tại và phần nhiều lệ thuộc vào yếu tố văn hoá mà thôi.

Nói cho cùng, những cuộc tranh luận gay gắt xoay quanh vấn đề “dĩ Giáo hội vi trung”, “dĩ Đức Kitô vi trung”, “dĩ Thiên Chúa vi trung” hay “dĩ cứu độ vi trung” phải chăng cũng chỉ là những cuộc tranh luận đầy màu sắc duy lư và loại trừ của Tây phương, giữa các khuynh hướng bảo thủ hay giáo điều với khuynh hướng cấp tiến và cởi mở?

Nhiều thần học gia Á châu đề nghị phải vượt khỏi ṿng cương tỏa chật hẹp và phi lư của các mô h́nh thần học Tây phương nói trên để khai mở một lối nh́n và một viễn tượng thần học mới hài ḥa, linh động, bao dung và đa diện hơn. A. Pieris chẳng hạn đă viết: “Dần dần tôi chấp nhận như quan điểm của ḿnh khuynh hướng thần học ở Á châu theo đó ba mô h́nh thần học trích dẫn ở trên (loại trừ, bao hàm và đa phức) không c̣n có ư nghĩa nữa”[15]. Ông cho rằng đă đến lúc cần một mô h́nh thần học mới có khả năng nh́n nhận giá trị của người nghèo và đề cao vai tṛ của cộng đồng nhân loại”[16].

Theo Tuyên ngôn của Hiệp hội thần học Ấn độ, những phạm trù và công thức sử dụng trong cuộc tranh luận của thần học về tôn giáo hiện nay vô t́nh đă phản bội nguyên tắc “đa phức tôn giáo” để thay vào đó một quan niệm “duy nhất – tôn giáo – văn hóa và một cái nh́n hoàn toàn khoa bảng và siêu thực”. Nên giải quyết vấn đề trên một cơ sở khác, vừa chiêm niệm vừa dấn thân phục vụ, vừa đối thoại vừa giữ vững căn tính. Trong viễn tượng đó, Đức Kitô vẫn luôn luôn là “Con đường duy nhất đến với Cha”, tuy nhiên cũng không loại trừ những trung gian thuộc h́nh thức và cấp độ khác biệt, bắt nguồn từ chính Trung gian duy nhất của Đức Kitô[17].

Nh́n từ góc độ đó, “các tôn giáo trên thế giới diễn tả sự mở rộng của con người đối với Thiên Chúa, đồng thời là biểu hiệu của sự hiện diện của Ngài trong trần gian. Mỗi một tôn giáo là duy nhất, và nhờ tính duy nhất này các tôn giáo phong phú hóa lẫn nhau. Qua tính cá biệt của ḿnh, các tôn giáo biểu lộ những khuôn mặt khác nhau của mầu nhiệm tối cao, không bao giờ có thể tát cạn. Chính trong đa phức tính, các tôn giáo giúp chúng ta biết đào sâu kinh nghiệm về sự giàu có của Duy nhất. Khi đối thoại với nhau, các tôn giáo tạo thành một cộng đồng niềm tin trong đó những khác biệt trở thành bổ túc nhau và phân kỳ biến thành dấu chỉ của hiệp thông”[18].

Điều tâm niệm đầu tiên của thần học về các tôn giáo là chân thành công nhận mỗi tôn giáo có sắc thái đặc biệt và giới thiệu những cái nh́n khác biệt về cuộc sống nhân loại. Nhân sinh quan và vũ trụ quan riêng này cấu tạo nên căn tính của mỗi tôn giáo và được coi là hữu lư, nếu nh́n từ niềm tin và quan điểm của riêng họ.

Thật hữu lư và b́nh thường khi thần học Kitô giáo nh́n các tôn giáo khác từ quan điểm riêng của ḿnh, tuy nhiên cũng phải chấp nhận là chuyện b́nh thường khi các tôn giáo khác đánh giá Kitô giáo theo quan điểm riêng của họ. Điều quan trọng là những cách giải thích này không có mục đích loại trừ và chụp mũ nhau.

Trong hành tŕnh tâm linh thăm thẳm và diệu vợi này, cần đếm kể đến tính đa dạng trong hoạt động của Thánh linh và những thể hiện muôn mặt qua các văn hóa cũng như tôn giáo. Thần học về tôn gíao phải làm sao tránh hai khuynh hướng thái cực là tuyệt đối hóa và tương đối hóa. Để có thể trả lời cho nhu cầu của thời đại phải cố gắng làm sao có khả năng chứng tỏ sự trung thành với niềm tin của ḿnh, nhưng đồng thời biết mở rộng cơi ḷng để đón nhận những giá trị khác. Nói một cách giản dị hơn, một thần học về các tôn giáo trong thời đại của chúng ta phải là một thần học về đa phức tôn giáo, có khả năng tiếp thu, sử dụng, dung nạp cả ba mô h́nh thần học lấy Giáo hội làm trung tâm, lấy Đức Kitô làm trung tâm và lấy Thiên Chúa làm trung tâm.

 

CHÚ THÍCH

[1] Gioan Phaolô II, Ngàn năm thứ ba đang tới đến, số 38.

[2] Xem chẳng hạn J.P. Schineller, “Christ and Church : A Spectrum of View », tr. 545-566; P.F. Knitter, “La théologie catholique des religions à la croisée des chemins”, trong Concilium, n. ,tr.129-138; J. Dupuis, Vers une théologie chrétienne du pluralisme religieux, Cerf, Paris, 1997, tr. 271-306 ; Revue Thomiste 98 (1998), Tout récapituler dans le Christ. À propos de l’ouvrage de Jacques Dupuis, tr. 591-630.

[3] Xem P.F. Knitter, Toward a Protestant Theology of Religions, Marburg, 1974, tr. 32-36; Lưu Hồng Khanh, Thần học tôn giáo, Tin & Sống, Frankfurt, 1994.

[4] Xem đặc biệt bộ Tín lư học, (Church Dogmatics), quyển 1/2 , đoạn 17.