Tâm Linh Vào Đời
Đặt vấn đề.. Đặt vấn đề.. Đặt vấn đề..
Tâm Linh Vào Đời xin gởi tới quư độc giả một vấn đề rất đời thường
Nhưng cực kỳ quan trọng: Hiện nay, làm cách nào để Lời Chúa ứng nghiệm nơi tôi?
Lời Chúa ứng nghiệm nơi tôi: Lung Linh
Nghe Chúa giảng: Trần Mỹ Duyệt
Giáo Hội có mấy con trâu: Linh Kỳ
Giờ Thiên Chúa đă điểm: Giuse Trương Đ́nh Hiền
Lung Linh
Có nhiều câu Kinh Thánh nói về việc ứng Nghiệm
Chúng ta có thể xếp làm hai nhóm chính:
1. Ứng nghiệm với bản thân Đức Giêsu
Mt 1:22 22 Tất cả sự việc này đă xảy ra, là để ứng nghiệm lời xưa kia Chúa phán qua miệng ngôn sứ : 23 Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là “Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta.”
Mt 2:15 15 Ông ở đó cho đến khi vua Hê-rô-đê băng hà, để ứng nghiệm lời Chúa phán xưa qua miệng ngôn sứ : Ta đă gọi con Ta ra khỏi Ai-cập.
Mt 2:23 23 và đến ở tại một thành kia gọi là Na-da-rét, để ứng nghiệm lời đă phán qua miệng các ngôn sứ rằng : Người sẽ được gọi là người Na-da-rét
Mt 21:4 4 Sự việc đó xảy ra như thế để ứng nghiệm lời ngôn sứ : 5 Hăy bảo thiếu nữ Xi-on : Ḱa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi hiền hậu ngồi trên lưng lừa, lưng lừa con, là con của một con vật chở đồ.
Ga 19:24 24 Vậy họ nói với nhau : “Đừng xé áo ra, cứ bắt thăm xem ai được.” Thế là ứng nghiệm lời Kinh Thánh : Áo xống tôi, chúng đem chia chác, cả áo dài, cũng bắt thăm luôn. Đó là những điều lính tráng đă làm.
Ga 19:36 36 Các việc này đă xảy ra để ứng nghiệm lời Kinh Thánh : Không một khúc xương nào của Người sẽ bị đánh giập.
2. Ứng nghiệm với Đức Giêsu và cho một số môn đệ đích thực của Thầy Giêsu.
Những người nhận ra ḿnh là con yêu dấu của Chúa, nhận ra Thần Khí Thiên Chúa hiện diện sống động ngay trong tâm ḿnh. Và họ đang Loan báo Tin Mừng khắp nơi, bằng những phương thế khác nhau…lời nói, việc làm hoặc âm thầm cầu nguyện…
Cv 2:18 Trong những ngày đó, Ta cũng sẽ đổ Thần Khí Ta cả trên tôi nam tớ nữ của Ta, và chúng sẽ trở thành ngôn sứ.
Mt 12:17 17 Như thế là để ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a đă nói : 18 Đây là người Tôi Trung Ta đă tuyển chọn, đây là người Ta yêu dấu : Ta hài ḷng về Người. Ta cho Thần Khí Ta ngự trên Người. Người sẽ loan báo công lư trước muôn dân.
Mt 13:35 35 hầu ứng nghiệm lời sấm của ngôn sứ : Mở miệng ra, tôi sẽ kể dụ ngôn, công bố những điều được giữ kín từ tạo thiên lập địa.
3. Ứng nghiệm với mỗi người trong chúng ta trong quá khứ và trong hiện tại
Trong quá khứ:
Trước kia, khi tôi đă từng đọc Kinh Thánh, đă từng nghe giảng, đă từng chia sẻ Lời Chúa với nhau hàng tuần..nhưng nghe tai nọ qua tai kia, hoặc chẳng hiều ư Chúa muốn nói ǵ, Tệ hại hơn nữa, tôi nghe hoặc đọc ở đâu đó, thế là chia sẻ có vẻ ngon lành lắm ..nhưng ṭan là ư tưởng của người khác c̣n chính tôi th́ chẳng cảm nhận đuợc ǵ.. V́ thế, nói th́ hay lắm nhung chẳng bao giờ áp dụng được điều ḿnh đă vung vít chia sẻ…
Lúc đó, quả thật là ứng nghiệm những Lời Chúa sau đây:
Mt 13:14 14 Thế là đối với họ đă ứng nghiệm lời sấm của ngôn sứ I-sai-a, rằng : Các ngươi có lắng tai nghe cũng chẳng hiểu, có trố mắt nh́n cũng chẳng thấy ;
Trong hiện tại
May mắn thay, một số người trong chúng ta đă dành thời gian đặt vấn đề, suy tư, t́m hiểu, học hỏi, nghiên cứu, khám phá, đón nhận và thực tập sống ..dần dần ánh sáng của Thần Khí Thiên Chúa bắt đầu như những đốm lửa đóm đóm..rồi ngày càng sáng hơn cho tới lúc ánh sáng bừng lên
Mt 4:14 14 để ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a nói : 15 Này đất Dơ-vu-lun, và đất Náp-ta-li, hỡi con đường ven biển, và vùng tả ngạn sông Gio-đan, hỡi Ga-li-lê, miền đất của dân ngoại ! 16 Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm đă thấy một ánh sáng huy hoàng, những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi.
Không phải là ánh sáng mặt trời nhưng là Ánh sáng lung linh huyền diệu:
Cv 2: 9 Đấng đă gọi anh em ra khỏi miền u tối, vào nơi đầy ánh sáng diệu huyền.
Và tới một lúc nào đó không chỉ ḿnh Đức Giêsu mà c̣n cả chúng ta nữa tất cả là ánh sáng thế gian
Ga 8:12 "Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống."
Mt 5:14 "Chính anh em là ánh sáng cho trần gian. Một thành xây trên núi không tài nào che giấu được.
Phần chia sẻ ngắn ngủi này bùng lên một VẤN ĐỀ thật quan trọng và khẩn thiết:
Vấn đề tiên quyết là việc Ứng Nghiệm không những xảy ra cho Đức Giêsu, các thánh mà cả mỗi người trong chúng ta nữa.
Nhưng khi nào Lời Chúa mới ứng nghiệm với tôi ngay tại cuộc sống trên trần gian này??
Lời Chúa chẳng bao giờ ứng nghiệm cho người sống tà tà, ai sao tôi vậy. Amen.
Hoặc nếu có ứng nghiệm th́ đó là sự ứng nghiệm rất tiêu cực và vô giá trị như: Các ngươi có lắng tai nghe cũng chẳng hiểu, có trố mắt nh́n cũng chẳng thấy ;
Lời Chúa cũng chẳng ứng nghiệm tích cực với người ai cho ḿnh là đạo đức đủ lắm rồi.. đạo đức hơn hàng vạn người…khi dựa vào một số việc đạo đức thường ngày như đi lễ, đọc kinh, lần hạt…thậm ch́ hy sinh thời gian tiền bạc dấn thân Loan báo Tin Mừng bằng những bài vở bề trên sọan sẵn, cứ thế là nói như máy phát thanh không hồn..trong khi chính ḿnh không cảm nhận được một chứt ǵ. Rơ ràng Lời Chúa không ứng nghiệm nơi ḿnh th́ làm sao có thể giúp ứng nghiệm nơi anh em được???
Hẳn chúng ta ta c̣n nhớ một câu Kinh Thánh nghe rất xót xa và có vẻ tàn nhẫn và cực kỳ bất ngờ.. dành cho những ai đang hăng say phục vụ cho công tŕnh của Chúa.. mà lại chẳng quan tâm t́m kiếm và sống với Chúa ngay trong tâm ḿnh…
Mt 7:22-23 Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng:
"Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đă chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao? "
23 Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ: Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác!
Lời Chúa sẽ chắc chắn ứng nghiệm cho những ai biết đặt vấn đề Đức tin của ḿnh, lối sống đạo hiện nay của ḿnh.. rồi từ đó lên đường t́m kiếm Chúa..cuối cùng người đó sẽ xác tín rằng:
Lc 11: 9,13 Anh em cứ xin th́ sẽ được, cứ t́m th́ sẽ thấy, cứ gơ cửa th́ sẽ mở cho… 13 Vậy nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà c̣n biết cho con cái ḿnh của tốt của lành, phương chi Cha trên trời lại không ban Thánh Thần cho những kẻ kêu xin Người sao? "
Tóm lại, nếu chúng ta chưa một lần cảm nhận Lời Chúa ứng nghiệm nơi ḿnh – điều đó nói lên rằng chúng ta chưa sống đạo đích thực. và bước đầu tiên là đặt vần đề. Thí dụ như:
Tôi đi lễ để làm ǵ?
Tôi rước Chúa để làm ǵ?
Tôi xưng tội hàng trăm lần rồi, nhưng tại sao vẫn chứng nào tật ấy???
Tôi rước Chúa hàng ngàn lần rồi mà sao cuộc sống đạo tôi vẫn tà tà như xưa?
Tôi đọc Kinh Thánh hàng ngày, chia sẻ Lời Chúa hàng tuần cả chục năm rồi mà sao cuộc sống tâm linh tôi vẫn ỳ ạch tại chỗ cũ, chẳng tiến bộ được một chút nào???
Để t́m ra câu trả lời đ̣i hỏi phải quyết tâm, miệt mài, bền chí t́m kiếm..chắc chắn sẽ bắt gặp…
Lúc đó, chúng ta có thể mỉm cười với ḷng ḿnh: Hôm nay Lời Chúa đă ứng nghiệm nơi tôi…vui sướng biết bao!!!
Thỉnh thoảng bạn và tôi nghe nói linh mục này, linh mục kia giảng hay và hấp dẫn. Nhiều linh mục ngoài tài hùng biện, c̣n có cả ḷng đạo đức nữa nên đă thu hút và đánh động lương tâm nhiều người nghe. Ít nhiều trường hợp khác, chúng ta cũng được nghe một số vị giám mục giảng. Nhưng nghe Chúa Giêsu giảng th́ tôi tin chắc cả bạn và tôi chưa bao giờ được nghe, bởi lẽ rất giản dị là ngài đă về trời và không c̣n giảng nữa. Và v́ thế tôi đă t́m đọc trong Thánh Kinh, nhất là Tân Ước là những sách viết về cuộc đời Chúa Giêsu hy vọng có thể t́m xem trong thời gian rao giảng Tin Mừng, ngài giảng giải như thế nào?
Theo Tin Mừng kể lại th́ Chúa Giêsu giảng giải “như đấng có quyền”.
Phần lớn những buổi thuyết giảng của ngài đều nhắm vào thành phần thính giả nghèo, b́nh dân, đơn sơ, và khiêm hạ. Do đó, ngài thường dùng những thí dụ rất điển h́nh như người đi gieo giống, như nhóm thợ gặt, như cây nho, cây vả, như con chiên, con ḅ, và cả con lợn để đưa vào những thí dụ của ngài.
Tuy vậy, có nhiều lần những bài giảng của ngài mang ư nghĩa thâm sâu, khó hiểu, đến nỗi đối với nhiều người c̣n là một cái ǵ khó nghe và chói tai nữa. Thí dụ, khi nói về phép Thánh Thể, ngài đă dùng h́nh ảnh bánh và gọi bánh ấy là thân xác ngài. Người nghe phần lớn không hiểu ǵ: “Lời ǵ chói tai thế, ai nghe cho được” (Gio 6: 60).
Tóm lại, Chúa Giêsu giảng đôi lúc cũng bị phê b́nh, chỉ trích và ngờ vực như Tin Mừng đă ghi: “Đây không phải là Giêsu con ông Giuse sao? Chúng ta lại không biết cha mẹ ông đó sao? Làm sao ông ấy có thể nói là ḿnh từ trời xuống?” (Gio 6:42). Và nhiều người trong đó có cả những môn đệ ngài đă bỏ ngài.
Trở lại bài giảng đầu tiên mà ngài giảng tại hội trường của làng ngài, mặc dù lúc ấy theo thánh kư ghi nhận ngài đă được nổi danh tại nhiều nơi, nhưng khi về đến quê hương, bài giảng đầu tiên của ngài đă gặp phải sự chống đối, và ngờ vực. Ngài đă gặp thất bại! Người nghe đă tỏ ra ơ hờ, và mặc dù có những người khen, nhưng không thiếu kẻ hoài nghi: “Đây không phải là con ông Giuse sao?” (Luc 4: 22), họ đă hỏi nhau một cách mỉa mai như thế.
Vậy ngài đă giảng những ǵ? Thánh sử Luca ghi lại rằng ngài vào hội trường Nagiaréth, và công bố lời của Thiên Chúa: “Thánh Thần Chúa ngự trên tôi. Ngài đă xức dầu và sai tôi đi mang tin vui cho những kẻ nghèo khó, công bố sự giải thoát, chữa lành người mù và giải cứu kẻ tù tội, công bố năm hồng ân của Thiên Chúa” (Luc 18-19). Nhưng có lẽ điều làm dân làng ngài khó chịu và không chấp nhận bài giảng, đó là câu ngài tuyên bố sau khi đă gấp sách lại: “Hôm nay ứng nghiệm đoạn Kinh Thánh mà tai các người vừa nghe” (Luc 4:21).
Chúa giảng như vậy th́ bị phản đối là cái chắc. Chúa không tâm lư tí nào cả. Phải chi ngài chỉ ông này, ông kia trong hội trường mà nói là những lời ấy trở nên ứng nghiệm nơi họ, nơi dân làng của ngài. Họ là những người quan trọng, và dân làng ngài cũng toàn là những người quan trọng. Giảng như vậy, ngài sẽ được dân chúng vỗ tay và hoan hô. Hoặc trước khi giảng, ngài kể một câu truyện vui, hay làm một phép lạ, như vậy sẽ thu húc và chinh phục người nghe biết mấy. Nhưng v́ ngài lại nhận lấy tất cả những vinh dự ấy về cho ḿnh, nên họ ghen và khó chịu: “Đây không phải là con ông Giuse sao?” (Luc 4:22). Và có lẽ sự bực tức, lănh đạm và tẩy chay hôm đó lên cao lắm nên chính ngài đă phải tự mỉa mai ḿnh: “Tiên tri không được rạng danh nơi quê hương ḿnh” (Luc 4:24).
“Đây không phải là con ông Giuse sao?” Nghe có vẻ ghen tỵ, có vẻ kiêu căng và tự phụ. Con ông Giuse th́ sao? Không lẽ hễ là con ông Giuse th́ không làm ǵ khác hơn nghề thợ mộc sao? Và đó là thái độ chúng ta cần phải có mỗi khi nghe Chúa nói với chúng ta trong Thánh Kinh, trong sách vở, và ngay cả trong khi nghe các linh mục giảng. Chúng ta đừng t́m kiếm lợi khẩu, thông thái, và sức thu hút hấp dẫn nơi các nhà giảng thuyết, v́ thực tế không có mấy nhà giảng thuyết có hội đủ những tiêu chuẩn ấy. Và chúng ta cũng đừng hy vọng nhiều về những nhà giảng thuyết vừa có tài lại vừa có đức. Con số này có nhưng rất hiếm.
Nhưng chúng ta cần đến với Chúa Giêsu bằng cặp mắt của các mục đồng, của Ba Vua, của Simêon, Anna, và của Gioan Tiền Hô: “Đây là chiên thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian” (Gio 1:29). Chúng ta cũng phải dùng cặp mắt đức tin để nh́n ra ngài và những ân huệ của ngài như vậy. Nh́n nhận và khám phá ra điều mà ngài muốn chúng ta thực hành trong đời sống, v́ đó là ư nghĩa đích thực của việc chúng ta đọc, nghe, suy niệm và sống lời Chúa. Sự giải phóng, giải thoát con người khỏi ṿng nô lệ tội khiên chẳng đến từ Thiên Chúa sao? Ngài đă chẳng chữa lành tâm hồn tan nát v́ tội lỗi của chúng ta đó sao? Lời ngài giảng là lời sự sống như Phêrô đă có lần tuyên xưng. Lời cần b́nh tâm suy nghĩ, và cầu nguyện. Nó không phải là những lời nghe cho vui tai hoặc vỗ về tự ái, kiêu căng của con người. Đó là lối Chúa giảng.
Nhưng c̣n các linh mục của Chúa th́ sao? Một hôm trong câu truyện trao đổi với nhau liên quan đến giáo lư, và đời sống đạo, người con rể của bạn tôi bất chợt kể câu truyện về việc đi xưng tội.
- Con mới đi xưng tôi tuần trước?
- Thế sao?
- Th́ xưng tội chuẩn bị mừng Giáng Sinh đó.
Rồi anh nói tiếp:
- Con vào ṭa định xưng tội khác, nào ngờ gặp ngay ông cha mà con không ưa, nên xưng tội không ưa và ác cảm với ông cha đó luôn. Con xưng là con phạm tội ghét cha ấy. Nghe vậy cha ấy hỏi lại là làm sao mà ghét cha. Và con liền xưng luôn tội của cha ấy cho cha ấy nghe. Con nói: “Con có cảm tưởng rằng cha không bao giờ dọn bài giảng, nên mỗi lần con tham dự thánh lễ mà xui gặp cha th́ con chia trí và khó chịu hầu như suốt bài giảng và trong cả thánh lễ nữa. Tại sao cha không dọn bài giảng mà chỉ lên ṭa giảng nói lông bông, chọc cười thiên hạ vậy? Con một tuần mới có một ngày tới thánh đường nghe lời Chúa, t́m hiểu lời ngài mà con nghe như vậy th́ thử hỏi con có nên khó chịu và ghét cái người nên cớ cho con khó chịu không? Con không biết là có bao nhiêu người cũng cùng một tâm trạng như con.”
- Thế rồi sao?
- Cha cũng cho việc đền tội 3 kinh Kính Mừng.
Quư linh mục của Chúa, nếu chưa một lần đọc cuốn Phẩm Chức Linh Mục của Thánh Anphonsô, Giám Mục Tiến Sỹ Hội Thánh và Sáng Lập Ḍng Chúa Cứu Thế, xin hăy t́m đọc một lần để hiểu sự cao trọng và linh thiêng của ḿnh khi đứng trước bàn thờ dâng lễ. Hiểu được sự quan trọng của ḿnh khi đại diện chính Thiên Chúa cử hành thánh lễ. Nhưng thánh lễ nhiệm mầu được gói gọn trong 2 phần: Phụng Vụ Lời Chúa và Phụng Vụ Thánh Thể. Vậy làm sao chúng ta có thể dâng thánh lễ cách đầy đủ mà thiếu phần công bố lời Chúa và chia sẻ lời Chúa. Và làm sao chúng ta có thể chia sẻ lời Chúa khi không suy nghĩ, nghiền ngẫm và chuẩn bị kỹ lưỡng?
Lậy Chúa con chưa xưng cái tội mà người bạn trẻ trên đă xưng bao giờ. Nhưng nếu đó là tội, th́ hôm nay con xin xưng với Chúa rằng con đă phạm tội này rất nhiều lần và trong nhiều trường hợp khác nhau. Bởi v́ con đă thực sự chia ḷng, chia trí và khó chịu v́ nhiều bài giảng không đầu, không đuôi. Những bài giảng làm tṛ cười cho thiên hạ, và những bài giảng mà không bao giờ có Amen. Và con cũng tự ra việc đền tội cho con là sau khi kết thúc bài suy niệm này, con sẽ đọc 1 Kinh Lậy Cha, 3 Kinh Kính Mừng để đền tội con và đền thay những linh mục không có giờ dọn bài giảng. Amen.
Tóm lại, để Lời Chúa sinh hoa kết trái, người nghe cần từ nhủ:
Lời này Chúa muốn dạy riêng tôi, chứ không phải chỉ nói về Đức Giêsu, thánh Phêrô, người đàn bà ngoại t́nh…
Lời Chúa cần được nội tâm hóa, để lời của Ngài đi vào tâm của tôi quyết không để chim trời bay xuống ăn mất muon hạt vàng tung bay trên đừong đi muôn người!!! để hôm nay Lời Chúa ứng nghiệm thực sự nơi tôi.
Lời ṭa soạn: Ban biên tập xin giới thiệu bài viết của Linh Kỳ bàn về việc chăn trâu – việc tu tâm
Trước hết, chúng ta t́m hiều sơ lược về h́nh thức và ư nghĩa của các bộ Mục ngưu đồ. (Bức tranh chăn trâu)
Có 5 bộ Mục ngưu đồ đều nói về sự tu tâm.
Người công giáo xem những tranh này khó cỏ thể hiểu được, chúng tôi xin mạn phép đưa ra một số h́nh ảnh mang dáng vẻ công Giáo, hy vọng độc giả có thể khám phá ra một số ánh sáng nào đó, có thể áp dụng cho cuộc sống tâm linh của ḿnh.
Vị Mục Tử: Chúa – Thần Khí Thiên Chúa
Con trâu: Con người cũ – sống theo thế gian
Tranh 1 là vị mục: chưa chăn giữ. Dưới vầng mây đen, trâu đang hung hăng tuông chạy, ḿnh đầy dơ bẩn, dẫm đạp lúa mạ.
Con người cũ suy nghĩ, quan niệm theo thế gian, chạy theo t́nh , tiền tài, danh vọng thế gian, mê đắm tội lỗi, hại ḿnh hại người…
Tranh 2 là sơ điều: mới chế ngự. Trâu đă bị nắm dây mũi và đánh bằng roi, nhưng vầng mây đen đă biến mất.
Một ngày nào đó, con người gặp khó khăn, tai nạn, thất bại..như làn roi Chúa thức tỉnh. Con người cũ chợt nhận ra nếu chạy thế gian đời sống ḿnh sẽ không ổn định và trường cửu, không c̣n tự tin nơi ḿnh nữa..
Tranh 3 là thọ chế: chịu khuất phục. Trâu bị dơ roi, dắt đi, nhưng đầu đă sạch, vầng trăng đă xuất hiện từ xa, nhưng trong đám mây trắng.
Con người bắt đầu đi theo Chúa, bắt gặp những khám phá mới như vầng trăng đă bắt đầu xuất hiện từ xa.
Tranh 4 là hồi thủ: quay đầu lại. Trâu đă biết quay đầu lại với mục tử, và cổ đă sạch. Tuy vậy, mục tử vẫn ràng cột giây mũi, vầng trăng cũng xuất hiện, nhưng không có mây trắng.
Lúc này con người không c̣n ḥan ṭan chạy theo thế gian, mà đă biết quay đầu về với Chúa của ḿnh.
Tranh 5 là thuần phục: đă thuần hóa. Trâu đă sạch 2 chân trước và nửa ḿnh, mục tử chỉ cầm chừng dây và roi mà coi, và vầng trăng vẫn xuất hiện trong đám mây trắng.
Càng ngày con người cũ càng dần dần biến đổi..Lúc này sức hút của Thiên Chúa đă bắt đầu thắng thế… Nhưng lâu lâu, con người vẫn cứ muốn quay về con đường cũ.. nên Chúa vẫn lăm le giây và roi để nhắc nhở..
Tranh 6 là vô ngại: hết e ngại. Mục tử ngồi chơi, thổi sáo, trâu đă sạch cả ḿnh và 2 chân sau, nằm nh́n lại mà nghe, nhưng vầng trăng không xuất hiện trong đám mây trắng.
Tới lúc này, c̣n người mới đă gần ḥan chỉnh… thích ngắm nh́n Chúa và lắng nghe tiếng Chúa, nhiều giây phút trong ngày..
Tranh 7 là nhiệm vận: đă tự nhiên. Trâu đă sạch cả đuôi, ăn uống tự nhiên, mục tử th́ ngủ, và vầng trăng lại xuất hiện cũng trong đám mây trắng.
Tới tŕnh độ này, con người mới cảm nếm được hương vị ngọt ngào của tự do con cái Chúa, sống trong t́nh yêu của Ngài. Chúa hết c̣n dùng con trượng, Chúa hết là ông Công an chuyên ghi giấy phạt…
Tranh 8 là tương vong: rời quên nhau. Trăng sao xuất hiện trong đám mây trắng, trâu với người không c̣n lệ thuộc với nhau.
Tiếp tục tiến tới trên con đường Tâm linh, tương quan giữa Chúa và người không c̣n cảnh Chúa khác – tôi khác, Chúa thánh thiện – tôi phàm mèn tội lỗi. Chúa và tôi là một, không c̣n lệ thuộc nhau theo tương quan vua chúa – tôi tớ như trước đây
Tranh 9 là độc chiếu: chỉ quán chiếu. Chỉ c̣n mục tử, một ḿnh với trăng sao c̣n mây trắng vướng mắc chút ít.
Lên tới tŕnh độ này, lời của Phaolô ứng nghiệm nơi tôi: Tôi sống, nhưng không c̣n phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi. (Gl 2:20). Chỉ c̣n mục tử là chính Chúa sống trong tôi. – Tất nhiên không phải là 24 / 24 giờ một ngày…mà số giờ phút sẽ tăng lên tùy theo “công phu tu luyện” hàng ngày của ḿnh.
Tranh 10 là song dẫn: mất tất cả. Chỉ có vầng trăng lớn và sáng.
Không phải chỉ có Chúa là ánh sáng, mà cả tôi nữa, tôi cũng là ánh sáng thế gian…
Tới đây, tốt nhất là nên thêm một bức tranh nữa cho trọn vẹn ư nghĩa. Chúng ta có thể lấy tranh thứ 10 của bộ 5 làm tranh thứ 11 làm thành kết luận cho có hậu
Tranh 10 nhập triền (vào chợ), ghi: mục đồng đi trước, hướng về phía đông, với trâu trắng theo sau.
Không chỉ để trở thành ánh sáng thế gian khơi khơi – vui hưởng hạnh phúc một ḿnh trong Chúa.
Điều quan trọng là Mục đồng– tượng trưng cho Thần Khí Thiên Chúa sẽ hướng dẫn chúng ta đi vào chợ - tượng trưng cho thế gian.
Đạo phải vào đời - Đây cũng chính là chủ trương Tâm Linh Vào đời. Chia sẻ cho anh chị em Tin Mừng đang réo rắt trong tim. Cũng chính Tin Mừng này thúc đẩy chúng ta dấn thân một cách tự nhiên bằng nhiều cách thế khác nhau. Riêng cánh làm báo th́ phương thế sở trường là chia sẻ. Thực vậy, Tâm Linh Vào Đời thường chia sẻ xoay quanh những chủ đề sau:
Những quan niệm sống động thân thương về Thiên Chúa,
Những khám phá dần dần nhận ra sự hiện diện sống động của Chúa ngay trong ḷng ḿnh,
Những điều ḿnh đă cảm nghiệm, đă sống hiệp nhất nên một với Chúa
và nhất là dù phải sống trong ḥan cảnh gian nan, vất vả và đầy chông gai trên trần gian này…cũng dễ dàng cảm thấy b́nh an, hạnh phúc…
Nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần, Amen .
- Thưa cha con đă xưng tội được 2 tuần.
(i) Con có nói dối ba lần.
(ii) Con có bỏ đọc kinh sáng tối 2 tuần.
(iii) Con có bỏ đi nhà thờ Chủ Nhật 1 lần.
(xxx) …
- Thưa Cha, con c̣n nhiều tội con cũng không nhớ, xin cha tha tội cho con.
Buổi xưng tội đă hơn mười lăm phút. Có lẽ v́ hơi sửng sốt trước một giáo dân chỉ mới hai tuần mà đă lắm tội, nên linh mục ngài vén nhẹ tấm màn che ḍm một cái. “Được! ” Vị linh mục ân cần dặn ḍ vài điều trước khi đọc lời tha tội.
- Việc đền tội đọc ba kinh Lạy Cha, ba kinh Kính Mừng.
Người xưng tội lặng lẽ bước ra toà giải tội t́m chỗ đọc kinh.
Bước ra khỏi khuôn viên nhà thờ, tâm hồn nhẹ nhơm, thần trí bay bổng “thế là xong”!
- Ta đă giao hoà với Chúa.
I. Mục Ngưu Đồ [1]
Ở lứa tuổi phá phách và hay rong chơi, tôi thường theo bạn vào Chùa. Tuổi thơ đơn giản, chủ đích chỉ là vào chùa ăn đồ cúng và đồ chay.
Ngày đó, những bức họa của Mục Ngưu Đồ treo trên tường tại các am viện chẳng có nghĩa lư ǵ với tôi cả. Chỉ là những bức tranh đồng quê, mục tử với con trâu, ruộng và lúa, quê hương tôi nơi nào chẳng có?
Tuổi hai mươi, tôi vẫn theo bạn vào Chùa. Có nhiều lần tôi thấy nhiều vị bàn tán về các bức hoạ và con trâu, tôi chỉ ậm ừ thầm nhận xét:
ba hoa!
vẽ vời!
và với tôi, con trâu chẳng có nghĩa ǵ cả.
Phải Tỉnh Thức Mới Thấy Trâu
Sau này tôi đă hiểu được: Mục Ngưu Đồ là những phác họa của quá tŕnh tu tâm. Tâm là con trâu. Bản thân người tu tâm là kẻ chăn trâu. Người chăn trâu làm chủ con trâu của ḿnh bằng những phương pháp tu tâm.
Đối với kẻ tu tâm, con trâu là vật sờ sờ trước mặt. Một thiền sư Đại An Tự kể rằng: “30 năm nay tôi ở Quy sơn này chỉ chăn con trâu. Trâu đi lạc, tôi kéo nó lại. Trâu ăn lúa của người, tôi đánh. Lâu ngày như vậy thật đáng thương. Nhưng nay th́ trâu đă trắng, cả này sờ sờ trước mắt, đuổi cũng không đi.” [2]
Một Câu Chuyện Vui Về Mục Ngưu Đồ
Trời vừa hừng sáng, Hoà Thượng đă tụ tập bốn đệ tử trước Cổ Điện. Chỉ vào 20 con trâu, Ḥa Thượng khuyến nhủ các đệ tử nên noi theo gương tu tập của Mục Ngưu Đồ. Cốt sao đừng để cái tâm buông lung theo ngoại cảnh bằng phương pháp thiền định và tu tâm. Cho dù giá nào cũng phải trải qua 10 giai đoạn như người chăn dắt con trâu hung dữ:
- Sư Phụ, con xin lănh 10 con đi trước
Đại Đồng ngâm thơ, ung dung dắt đàn trâu đi:
Xông xáo vào đời không trở ngại
Trở về nguồn gốc tịnh chân tâm
- Con cũng lănh 5 con theo Đại Sư huynh
Đồng vừa đi vừa hát, phong độ chẳng kém chi đại sư huynh:
T́m trâu thấy được dấu chân trâu
Nhận đúng là trâu, hỏi phải trâu
Rồi sau quên mất ḿnh đâu có
Hỏi có trâu không? Hỏi có người?
Thật là phù hợp với ư nghĩa của Mục Ngưu Đồ, Ḥa Thượng nh́n theo hai đệ tử hài ḷng tiếp:
- Tiểu Đồng và Tiểu Đồng Con chăn chung 5 con c̣n lại.
Tiểu Đồng quay sang nạt Tiểu Đồng Con:
- Tao không thèm chăn chung với mày. Tao lănh 3 con.
Rồi nó ra đi cũng theo phong cách mấy sư huynh:
Ai bảo trăn châu là khổ
Chăn trâu sướng lắm chớ
Tiểu Đồng Con nh́n theo ánh đạo mầu của ba sư huynh, ḷng đầy thán phục khi hỏi Hoà Thượng::
Sư Phụ, Phật Tổ có mấy con trâu?
II. Khi Người Công Giáo Gặp Con Trâu
Là một giáo dân Công Giáo, tôi hiểu được điều này: con trâu nhiều khi chẳng mang một ư nghĩa ǵ cả. Đối với một người Công Giáo, quá tŕnh tu tâm được rút gọn một cách đơn giản.
Yêu Chúa hay Sợ Chúa th́ đi xưng tội. [3]
Khi được tha tội th́ hứa ăn năn dốc ḷng chừa hay làm việc đền tội.
Nhưng có điều này ai cũng dễ dàng công nhận là thường t́nh: TỘI TH̀ NHIỀU mà ĐỀN TỘI hay ĂN NĂN DỐC L̉NG CHỪA chẳng là ǵ cả.
Chúng ta có thể xét lại một số thí dụ điển h́nh:
(i) Nổi giận quát vợ một câu. Hậu quả là tan nồi nát chảo đến ba ngày.
Việc đền tội hay ăn năn dốc ḷng chừa hứa với Chúa là ǵ?
(ii) Một kẻ thích say sưa nhậu nhẹt bỏ vợ con nheo nhóc. Hậu quả là một gia đ́nh không hạnh phúc.
Việc đền tội hay ăn năn dốc ḷng chừa hứa với Chúa là ǵ?
Thời giờ tại toà giải tội th́ có hạn. Giáo dân th́ quá đông, linh mục th́ ít, việc xưng tội trước mặt Cha và Chúa chỉ là NÓI NHIỀU mà TU TÂM th́ ít.
Tôi c̣n nhớ đoạn ngụ ngôn người đàn bà ngoại t́nh và Chúa Giê Su. Ở đoạn cuối, ngài đă nói rằng:
"Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa". [4]
Nhưng ở đời, nói vậy th́ sẽ chẳng mấy khi mang lại hậu quả tốt đẹp.
Một tên trộm cắp bị bắt. Ra toà bị xử tội tù ba tháng. Trước khi ban án, quan toà c̣n cẩn thận dặn ḍ: “Lần này xử nhẹ, lần sau không có vậy, đừng phạm tội nữa.”
Bốn tháng sau, vừa ra tù được một tháng, hắn lại bị bắt v́ tội trộm cắp lần nữa.
Kẻ bàng quan như chúng ta chỉ có thể nhận định rằng:
- Chứng nào tật ấy.
Đúng, chữa bịnh không tận gốc th́ là vậy. Lời Chúa dạy nếu không đem xử dụng tốt, hậu quả cũng chỉ là "CHỨNG NÀO TẬT ẤY". Giáo dân có đi lễ cả đời, có xưng tội cả đời, nhưng chứng và tật vẫn theo người vào đáy mộ sâu.
(a) Tu Tâm Và Con Trâu
TU TÂM phải nói đến tâm lư con người. Mà tâm lư con người lúc nông nổi phạm tội th́ thiên niên vạn trạng.
TẠI SAO QUÁT VỢ ?
(i) Có ông đang ngồi coi một cuốn phim. Đúng lúc gay cấn th́ vợ ông vào nói chi đó. Dường như ông chẳng thèm nghe ǵ cả nên vợ ông nổi giận quát tháo um sùm v́ ông đă coi thường lời của bà. Thế là ông nổi nóng quát lại vợ.
(ii) Chuyện này cũng thường t́nh lắm thôi.
Tại sao ông không nghe? Who cares? Tâm lư và bản năng của các ông là vậy. Đàn ông hay có chiều hướng đam mê và chú tâm vào một điều ǵ đó mà trở nên bàng quan với những ǵ xung quanh.
Đùng một lúc chạy vào nói lời chi đó mà không được chú ư đến th́ là LỖI TẠI AI? Giải cái tội này có cần phải đối diện cả ông lẫn bà chứ?
(1) tại các bà không hiểu tâm lư đàn ông ?
(2) hay lắm ông đam mê, coi thường không thể nhất thời xem các bà là "cái rốn vũ trụ"?
C̣n nhiều lư do để QUÁT VỢ lắm. Nhưng chúng ta có thể cùng nhớ lại xem:
- Có bao giờ vị linh mục trên toà giảng hay toà giải tội giảng giải căn nguyên và phương pháp để từ nay khỏi nổi sùng ch́ chiết nhau trong cuộc sống gia đ́nh không?
- Chỉ đơn thuần là hứa với Chúa với Cha, đến lúc nổi giận th́ Chúa chỉ là hư vô và Cha có đó: cha có thể sợ cảnh tan nồi nát chảo mà chạy không?
Là một giáo dân Công Giáo, tôi muốn nói lên một tâm sự thật ḷng:
“Tôi đi nhà thờ rất nhiều lần. Xưng tội th́ đă không nhớ là bao nhiêu lần. Nhưng những biện pháp tu tâm học hỏi từ giáo đường, hay các lănh tụ tinh thần th́ quá ít.”
Theo thông lệ, đây là một chuyện dễ hiểu: Chúa đă tha tội th́ tôi cũng cố gắng. Nhưng bản thân tôi đă là yếu đuối nhược hèn th́ lỡ có phạm tội lần nữa, vào xin tha thêm lần nữa cũng không sao.
Ở cái giây phút quan trọng nhất: phạm tội hay không phạm tội, tôi có giải pháp ǵ khác đâu? - Th́ đành lại vào gặp linh mục, gặp Chúa tiếp tục xưng cái tội "Chứng Nào Tật Ấy" vậy.
Và cứ thế: Tôi - người Công Giáo và đàn trâu ngày càng đông cứ lần lữa theo nhau cho đến hết đời.
III. Đàn Trâu Của Hội Thánh Chúa Ki Tô
Nếu có dịp đi về những miền quê hẻo lánh, chúng ta đều nhận ra rằng: dân quê lũ lượt, đầu tắt mặt tối, sớm chiều chỉ lo sinh kế và cách ăn nói đến thái độ đều mang nét chất phác và chân thật hơn.
Ở nơi thị thành, những vùng dân cư đông đúc, chúng ta không thấy vậy. Thành phố càng lớn, th́ tội ác càng đa dạng.
Giáo hội của Chúa Ki Tô nay đă lên đến vài tỷ người, đàn trâu mà Hội Thánh nuôi dưỡng có đông, đa dạng và đủ loại?
Con trâu của hàng giáo dân có đặc điểm ǵ?
Con trâu của hàng giáo sĩ có đặc điểm ǵ?
Con trâu của các lănh tụ tinh thần có đặc điểm ǵ?
Dùng ǵ bắt trâu?
Lấy ǵ buộc trâu?
Làm thế nào để chăn trâu?
Hay hơn nữa là làm sao để Người cùng Trâu đều biến mất?
và nếu có thể trở nên vô tư như Tiểu Đồng Con trong câu truyện vui kể trên đă hỏi, th́ xin mạn phép hỏi một câu cho vui:
Giáo Hội Có Mấy Con Trâu?
IV. Lời Kết
Điều Răn Thứ Nhất: Thờ phượng một Đức Chúa Trời và kính mến ngài trên hết mọi sự.
Từ lâu (theo cảm nghĩ cá nhân), Hội Thánh Chúa Ki Tô đă chuyên về thờ phượng và kính mến. Để rồi, những phương pháp tu tâm dường như ít khi được nhắc đến trên ṭa giảng.
ĐẠO mà thiếu vắng hệ thống của những những phương pháp TU thật đă giới hạn khả năng giúp nhiều người trở nên công chính.
Và nếu có một ngày, một linh mục nơi toà giải tội hỏi "Sao anh mới vài ngày đă lại có lắm tội?”.
Tôi cũng sẽ thành thật mà thưa rằng: “Thưa cha, con không nhớ ḿnh nuôi con trâu đầu tiên khi nào. Nay con đă gần bốn mươi tuổi, đàn trâu của con đông lắm”.
[1] Trí Quang, Tháng 3, 2536 (1993), http://www.phatviet.com/kechau/tctsolu.htm
“Nay hăy nói h́nh thức và ư nghĩa của các bộ Mục ngưu đồ. (
Nói tổng quát, 5 bộ Mục ngưu đồ đều nói về sự tu tâm. Tâm như trâu. Bản thân người tu tâm là kẻ chăn trâu. Chăn bằng giới định tuệ. Trừ nguyên tụng của bộ 1, tất cả nguyên tụng và họa tụng của các bộ khác, nhất là họa tụng của bộ 1, toàn là ngữ khí thiền tông, loại ngữ khí hay có cái bịnh cầu kỳ, kinh dị, do đó, không cần thiết lắm để nói đến. Nay nói đến h́nh thức và ư nghĩa của tất cả 5 bộ bằng cách chú ư đến tranh vẽ và tiêu đề nhiều hơn.
(3a)
Bộ 1. Viết theo văn bản A (Viên âm số 7) và B.
(xin xem phần Lời ṭa soạn ở trên, rồi xem tiếp phần dưới đây)
Có mấy ghi chú cần thiết trong giải thích trên đây. Tranh 1, sự dẫm đạp lúa mạ (phá hoại điều thiện) là quan trọng mà có bản bỏ quên. Các tranh 3 đến 8, vầng trăng tṛn (chân như) nhưng vừa nhỏ vừa xa, khi hiện khi ẩn, mây trắng (sở tri ngu) cũng vậy, khi có khi không, là quán chiếu c̣n yếu và gián đoạn. Riêng tranh 8 c̣n phải nói thêm. Ấy là trí năng quán vốn đối tượng hóa chân như làm cảnh sở quán, và đến đây th́ đối tượng ấy sắp mất, nghĩa là sắp hiển lộ chân như. Nên ở đây không c̣n t́nh trạng năng quán phải có sở quán mới hiện, năng quán sở quán không c̣n phải có tác ư mới có. Chữ rời quên nhau là mô tả t́nh trạng này, t́nh trạng mà chuyên ngữ chỗ khác gọi là phá vỡ nghiệp thức, siêu thóat cái biết thuộc khái niệm phạm trù. Tranh 9 chỉ c̣n người là chỉ c̣n quán trí. Hiểu biết trâu là pháp chấp, mất trước, c̣n người là ngă chấp mất sau, là sai. Không giáo lư nào nói như vậy cả. Tranh 10 là chân như hiển lộ mà ngài Phổ Minh nói là hoa nội cỏ thơm vẫn tự sum sê có nghĩa đến đây th́ chân như diệu dụng toàn diện.
Điều hết sức cần chú ư là tranh 1 đă thấy trâu chứ không phải t́m trâu, chứng tỏ bộ 1 không công nhận tâm bị mất bao giờ, tâm chỉ có được thuần phục hay không mà thôi. Tranh 10 chứng tỏ chân như hiển lộ th́ vật sắc vô vàn, diệu dụng vô lượng, ‘trúc biếc hoa vàng toàn là bát nhă, gió thổi chim kêu đều là vô sinh’. Cái gọi là vào sinh tử độ chúng sinh, hoặc nói cách khác là sống với cái sống b́nh thường của chân như, toàn chỉ là nói phần nào cái diệu dụng ấy. Nói theo Duy thức học, đại viên cảnh trí đă xuất hiện th́ đủ cả 3 thân 4 trí, cái gọi là vào chợ đời chỉ là phần nào của biến hóa thân hay diệu quan sát trí và thành sở tác trí mà thôi. Và với ư nghĩa như vậy, văn bản A nói bộ 1 mới là chính.
(3b)
Bộ 2. Viết theo văn bản A (Viên âm số 7). Tranh 1 là tầm ngưu: t́m trâu. Tranh 2 là kiến tích: thấy dấu. Tranh 3 là kiến ngưu: thấy trâu. Tranh 4 là đắc ngưu: được trâu. Tranh 5 là mục ngưu: chăn trâu. Tranh 6 là kị ngưu qui gia: cưỡi trâu về nhà. Tranh 7 là vong ngưu tồn nhân: trâu mất người c̣n. Tranh 8 là nhân ngưu câu vong: người trâu đều mất. Tranh 9 là phản bản hoàn nguyên: trở về gốc nguồn. Tranh 10 là nhập triền thùy thủ: vào chợ đưa tay. Có mấy chi tiết cần nói. Tranh 9 nên bỏ, v́ nói cạn th́ là tranh 6, nói sâu th́ là tranh 8 ở đây và là tranh 10 của bộ 1; chữ thùy thủ không phải buông tay, mà là tḥng tay hay đưa tay ra mà dắt d́u cứu vớt. Tranh vẽ cũng nên nói. Tranh 9 có chỗ vẽ là rụng về cội, nước chảy về nguồn. Vẽ như vậy không bằng Viên âm trích lục, vẽ hoa lá ngoạn mục, mô tả vật sắc y nhiên của chân như. Tranh 10 là mượn h́nh ảnh ngài Bố Đại, hóa thân của Di-Lặc đại sĩ; Ngài này hay vào chợ với túi vải lớn, ai cho ǵ cũng bỏ vào, đem ra phát cho người nghèo, trẻ con.
Điều cần chú ư là bộ 2, với 4 tranh đầu, cực tả phải minh tâm kiến tánh. Trung gian ước lược với 2 tranh, là muốn nói kiến tánh th́ sự tu có khả năng vượt bậc. Đoạn chót, với 4 tranh là tự chứng độ sinh. Thêm nữa, khác với bộ 1, bộ 2 này đến tranh 7 vầng trăng mới xuất hiện (mô tả đốn ngộ) và tranh 8 chỉ c̣n vầng trăng lớn sáng (chân như hiển lộ). Có người nói bộ 2 là tâm t́m tâm, tâm ly tâm, tâm dụng tâm. Màu sắc con trâu không thay đen đổi trắng, dầu cũng vẫn nói công phu ly nhiễm, rửa trâu cho sạch. Nhưng văn bản D nói khác hơn. Theo đó, tranh là phát bồ đề tâm. Các tranh 2 đến 5 là vị thứ tu hành bồ đề hạnh. Các tranh 7 và 8 là thành bồ đề trí. Các tranh 9 và 10 là nhập bồ đề tâm hành bồ đề sự.
( 3c )
Bộ 3. Như đă nói, văn bản A tờ 16a nói Ḥa thượng Thanh Cư thuật Mục ngưu đồ tranh 10 là trâu trắng ngủ yên giữa đất trống, người chăn th́ thiền định; tranh 11 là trâu mất mà roi đang c̣n; tranh 12 là người trâu đều mất. Do tiêu đề như vậy, tôi suy đoán có 1 bộ Mục ngưu đồ nữa, tu chỉnh bộ 2, v́ 3 tranh nói trên ghép vào bộ 2 không hợp bằng ghép vào bộ 1. Lại nữa, chắc chắn 13 tranh. Mà chắc là đổi tên và ư 3 tranh chót của bộ 1. Suy luận này nếu đúng, th́ bộ 3 là có, và có thể kê như sau. Tranh 1 đến tranh 7 là 7 tranh đầu của bộ 1: chưa chăn giữ, mới chế ngự, chịu khuất phục, quay đầu lại, đă thuần hóa, hết e ngại, đă tự nhiên; tiếp theo, tranh 8 là nằm giữa đất, tranh 9 là roi vẫn c̣n, tranh 10 là hết tất cả. Nằm giữa đất (trâu trắng nghỉ yên giữa đất trống, người chăn th́ thiền định) là tâm đă thanh tịnh. Roi vẫn c̣n (trâu mất mà roi đang c̣n) là pháp tu vẫn c̣n. Hết tất cả (người trâu đều mất) là chân như thể hiện. Bộ 3 này, như vậy, là trọng pháp tu từ đầu đến gần cuối, c̣n tu chứng th́ chỉ được nói bằng 1 tranh mà ư nghĩa là của tranh 10 bộ 1.
(3d)
Bộ 4. Như đă nói, bộ 4 là luận giải bộ 1, bằng cách thêm 10 tranh nữa. Theo như thế nào? Tác giả bộ 4 rất chú trọng tranh 1 ‘chưa chăn giữ’ của bộ 1, nên đă đưa ra nhiều trường hợp tuồng như ngó được mà kỳ thật là chưa chăn giữ lấy tâm ư; và tót tắt lại bằng 2 tranh thêm cho tranh 1: giới tại gia th́ nhàn nhă, giới xuất gia th́ thuyết pháp (nên nói là pháp dật và hư luận). Các tranh 2 đến 5 th́ thêm 4 tranh sơ thiền đến tứ thiền. Cái này th́ không chính xác lắm. Tranh 6 thêm tranh ḥa quang đồng trần (ḥa đồng chúng sanh). Tranh 7 thêm tranh tuyền thạch tự ngu (vui thú suối non). Tranh 8 thêm tranh đại hưu đại hiết (thôi bỏ tất cả). Tranh 9 thêm tranh giác thiên khoáng lộ (tuệ giác bừng sáng, dịch đủ là bầu trời tuệ giác lồ lộ bừng sáng). Tranh 10 thêm chữ (chứ không phải tranh) nan danh nan trạng (khó mà mô tả), nhưng chữ này không bằng chữ chân diện mục (mặt này đích thực) trong câu đối cũng ở đấy. V́ thêm tranh tứ thiền, bộ 4 này có ư tứ mà kém giá trị.
(3đ)
Bộ 5. Tranh 1 thất ngưu (mất trâu), ghi: trâu trắng ở đông mặt hướng về đông, mục đồng ở tây mặt hướng về tây. Tranh 2 tầm ngưu (t́m trâu), ghi: chủ nhân hỏi trâu đâu, mục đồng ngơ ngác, có 1 người đi đến từ hướng tây, lấy tay chỉ cho biết ở đằng xa ấy. Tranh 3 kiến tích (thấy dấu), ghi: mục đồng chạy ngay về hướng tay, thấy nhiều dấu chân trâu trắng trong đám ruộng. Tranh 4 kiến ngưu (thấy trâu), ghi: trâu trắng nằm yên trong đám ruộng, mục đồng từ xa nh́n thấy, rất mừng. Tranh 5 đắc ngưu (được trâu), ghi: trâu trắng thung dung đứng dậy, mục đồng vui vẻ vỗ về lưng nó. Tranh 6 hộ ngưu (giữ trâu), ghi: mục đồng nhàn nhă ngồi trên đá, trâu trắng thích thú uống nước khe suối. Tranh 7 kị ngưu (cưỡi về), ghi: mặt trời gác núi, trâu trắng về nghỉ, với mục đồng cuỡi trên lưng, thích thú thổi sáo. Tranh 8 vong ngưu (mất trâu), ghi: chỉ c̣n vầng trăng sáng trên nền trời, mục đồng vỗ tay ca hát. Tranh 9 song dẫn (mất cả), ghi: mục đồng và trâu trắng đều không thấy đâu nữa, chỉ c̣n 1 (vầng trăng) tṛn sáng. Tranh 10 nhập triền (vào chợ), ghi: mục đồng đi trước, hướng về phía đông, với trâu trắng theo sau. Bộ 5 này, như vậy, là đề cao ư thức tự tỉnh và vai tṛ của bậc đại thiện tri thức. Từ đầu đến cuối, trâu là trắng và không hung hăng, khỏi dắt mũi, đánh đập ǵ hết, ấy là tâm tánh vốn có và vẫn thanh tịnh, minh tâm kiến tánh th́ chứng ngộ. Vấn đề là ly nhiễm (hướng về tây) để rồi tùy nhiễm (trở lại đông). Đáng chú ư là bộ 5 này, theo văn bản G, vầng trăng xuất hiện một nửa trong mây (tranh 6), xuất hiện tṛn mà chưa thật sáng (tranh 7), xuất hiện tṛn sáng mà chưa thật lớn (tranh 8), xuất hiện sáng lớn (tranh 9).
(4a)
Mục ngưu đồ chủ yếu là tu tâm. Tâm, nói đơn giản, là chỉ cho tri thức tư tưởng. Thế nhưng cái nghĩa ấy không đủ để nói đến cái tâm trong Mục ngưu đồ. Nên ở đây phải nói chút ít về chữ tâm của Phật giáo.
Phật học đại từ điển trang 699 tổng hợp mọi học lư, nói tâm có 6. Để dễ hiểu, tôi toát yếu với thứ tự không đặt theo vị trí. Thứ 1 là nhục đoàn tâm (tâm khối thịt), tức cái tim của người vật, cái lơi của cây cỏ. Thứ 6 là tinh yếu tâm (tâm cốt lơi), tức cái trung tâm, cái cốt yếu, cũng tức nghĩa thứ 1 mà rộng hơn. Thứ 5 là kiên thật tâm (tâm chắc thật), tức chân như của tất cả pháp. Tim người vật, lơi cây cỏ, và cốt yếu của tất cả, cũng toàn là pháp, nên có thể quán tưởng ngay quả tim ta đây là chân như. Cả 3 loại tâm trên đây Phạn tự là Hrdaya. Thứ 4 là duyên lự tâm (tâm tri thức), Phạn tự là Vignapti. Thứ 3 là tư lượng tâm (tâm tự ư thức), Phạn tự là Manas. Thứ 2 là tập khởi tâm (tâm tập hợp phát khởi), Phạn tự là Citta.
Như vậy, thường ta nói tâm, chỉ là nói cái thứ 4, tức 6 thức trước. Nhưng trong Phật học, nhất là Duy thức học, th́ 6 thức này chỉ là những cái biết lệ thuộc giác quan và đối cảnh. Chúng chỉ như nhưng thông tín viên, thu thập tất cả mọi loại tin tức. Cái tiếp nhận tin tức ấy, tiếp nhận theo ư thức tự ngă, là cái thứ 3. C̣n cái thứ 2 th́ lưu trữ và tái hiện mọi tin tức đă được tiếp nhận. Nói tổng quát, gió (đối cảnh) và sóng (nhận thức) toàn là biển cả. Cái thứ 2 là cái cá thể vừa là vật liệu vừa là kiến trúc, đối với toàn bộ thế giới của mỗi chúng sinh bao gồm cảnh vật, cơ thể (giác quan) và nhận thức. Và bản thể của toàn thể các tâm thức trên đây là chân như. Chân như, hay tự tánh thanh tịnh tâm, như vậy có 2 nhận thức. Nhận thức thứ nhất, như Duy thức học, chân như (bản thể) với các pháp (hiện tượng), ít nhất là danh từ, không phải không khác nhau. Nhận thứ thứ hai, như Khởi tín luận, chân như là toàn bộ, bản thể hiện tượng là bất khả phân. Nên, như cánh tay khi đang chỉ xuống (nhiễm) th́ đó là cả cái cánh tay có thể chỉ lên mà đang chỉ xuống, khi đă chỉ lên (tịnh) th́ đó là cả cái cánh tay đă chỉ xuống mà nay chỉ lên. Trong nhận thức thứ nhất, khi chân như thể hiện th́ các pháp thành diệu dụng. Trong nhận thức thứ hai, ngay đang lúc ô nhiễm, chân như biểu hiện cái dụng phản tỉnh tu tập, nên thể hội chân như th́ các pháp là diệu dụng, là chân như. Do vậy, Mật tông quán ngay quả tim là hoa sen, Thiền tông th́ thấy đương xứ tiện thị, Bát nhă thấy sắc là không, không là sắc, Hoa nghiêm thấy một là tất cả, tất cả là một, Pháp hoa nói thế gian tướng trường trú…
(4b)
Cũng nên nói về sự đốn ngộ. Đốn ngộ là sự tỉnh ngộ đột biến. Đốn ngộ là kết quả của sự tu tập, kể cả phước đức quá khứ (như trường hợp ngài Huệ Năng). Đốn ngộ xảy ra trong khi tu tập. Đốn ngộ có cạn sâu (như đă vào biển cả nhưng xuống biển cạn hay sâu), có khuyết toàn (như trăng đă hiện nhưng có khuyết toàn) Không phải đốn ngộ là đă như Phật, đă thành Phật. sự đốn ngộ của Phật vừa là trí đức (hết sạch mê mờ), vừa là đoạn đức (hết sạch lầm lỗi), vừa là ân đức (hóa đạo chúng sinh). Đốn ngộ khi đang tu tập th́ tiểu thừa đại thừa đều có ở gian đoạn kiến đạo, c̣n những giai đoạn trước đó th́ không quyết định. Lại có sự đốn ngộ vượt bậc, như trường hợp ngài Xá-lợi-Phất thành A-la-hán ngay, khi nghe Phật đối thoại với cậu ngài là ngài Câu-hy-la: Chủ thuyết của ông là ǵ: Là không chấp các pháp. Thế có chấp cái chủ thuyết ấy không? Có sự đốn ngộ c̣n khác thường nữa, như trường hợp ngài Ương-quật-ma-la, khi cầm dao đuổi theo Phật mà không kịp, la lên, sao ngài đi thong thả, mà tôi đuổi không kịp: Phật bảo, hăy bỏ xuống con dao ngay trong tâm của anh. Cho nên yếu tố đốn ngộ bất thường hay khác thường, đa số thường do sự cảnh tỉnh đúng lúc và thích hợp của các bậc thầy mà Thiền tông gọi là đại thiện tri thức.
Trong tất cả 5 bộ tranh Mục ngưu đồ, đốn ngộ chính xác là ở các tranh trâu người quên nhau, chỉ c̣n ḿnh người, và tan mất tất cả. Chỉ có bộ 2 và bộ 5 có ư mô tả sự kiến tánh (cũng là dạng đốn ngộ khởi sự) ở 4 tranh đầu.
(4c)
Cũng nên nói về h́nh sắc con trâu. Trong chữ Tàu, ngưu là ḅ, trâu. Riêng trâu, muốn nói rơ th́ phải là thủy ngưu. Dầu vậy, Mục ngưu đồ vẽ là trâu chứ không phải ḅ.
Trâu ấy ví dụ cho tâm. Thế nhưng có bộ tranh vẽ trâu đen rồi trắng, có bộ vẽ trâu đen, có bộ vẽ trâu trắng. Vẽ trâu đen rồi trắng là nói trâu vẫn là trâu, vốn không dơ, nay chỉ rửa đi cho sạch bùn. Vẽ trâu đen là ư nói trâu vẫn là trâu, vốn không dơ. Vẽ trâu trắng cũng nói trâu vốn không dơ, nhưng ư có vẻ sâu mà thật ra là cạn. Như vậy, ư nghĩa hoàn chỉnh mà không cầu kỳ chính là trâu đen rồi trắng.
(4d)
Bây giờ nên nói về sự tu tâm, tức là nói sự chăn trâu. Thật ra tu tâm là chính tâm cứu xét lấy tâm, tâm điều phục lấy tâm, tâm họa dụng lấy tâm. Nhưng nói như vậy vẫn mênh mang. Hăy nói xác thực hơn.
Tâm, như đă thấy, trước hết là 6 thức trước, tức nhận thức lệ thuộc giác quan và đối cảnh. Nói như vậy th́ biết nói 6 thức cũng đă là nói toàn bộ con người và thế giới con người. Trong 6 thức, quan trọng bậc nhất là thức thứ 6. Nó chính là cái trực tiếp tạo ra mê với ngộ, nhiễm với tịnh. Khi nó có 5 thứ thiện căn (mà thực ra là tâm sở thiện hay tâm sở trung tính của nó) th́ đó chính là sự tự chăn.
Năm thiện căn,
Một là tín: tin tưởng vào ḷng từ bi của Phật, làm bậc thầy hóa đạo cho ta tự chăn; tin tưởng vào giáo huấn của Ngài đă đem lại sự tự chăn và thanh tịnh cho Ngài và nay đem lại cho ta; tin tưởng vào Tăng đoàn của Phật có hạnh nguyện thay Ngài trong công việc của Ngài, là làm bậc thiện tri thức cho ta tự chăn; sau hết, và quan trọng nhất, là tin tưởng bản thân ta có thể và cần phải tự chăn.
Hai là Tấn: nổ lực tự chăn một cách thích hợp và liên tục.
Ba là Niệm: luyện tập cho kư ức một mặt hướng về giáo huấn của Phật, một mặt cảnh giác mà chống lại sự tự buông thả hay lơi lỏng trong sự tự chăn.
Bốn là Định: trước hết là dốc chí, chuyên chú, không bao giờ dao động hay đổi bỏ sự tự chăn.
Năm là Tuệ: trước hết là hiểu biết khá rơ về sự tự chăn. Trong 5 thiện căn này, Tuệ quan trong bậc nhất cho sự tỉnh ngộ. Nó vừa là sinh ra vừa là kết quả, vừa là chủ đạo vừa là được hổ trợ, của 4 thiện căn trước.
Thế nhưng 5 thiện căn chưa phải là căn bản của sự tự chăn. Căn bản của sự tự chăn chính là giới. Giới là sợi dây là cây gậy trong sự tự chăn. Mục ngưu đồ quả là đề cao giới ấy. Giới ấy, và con trâu, và mục tử và giay, và gậy, trước hết và thực sự, toàn là thức thứ 6 cả. Dầu cho nói đén sự đốn ngộ kiến tánh như Thiền tông đi nữa, thực sự cũng là sự tỉnh ngộ đột biến (một dạng độc đầu) của thức thứ 6 ấy. Và đốn ngộ ǵ, kiến tánh ǵ, th́ hỏi là trả lời, khi biết chân như là ǵ.
(5a)
Mục ngưu đồ, trước hết hăy nói áp dụng cho mọi người, nhất là áp dụng các tranh bước đầu. Trâu là bản thân. Mục tử là ư chí. Chăn là tự đổi mới (theo tiêu chuẩn đạo đức xă hội và đạo đức tâm linh). Ai cũng có thể và nên áp dụng như vậy.
Bây giờ nói áp dung cho sự tu Thiền. Trâu là tâm thức. Chăn là đối với công án (chủ đề) hăy ‘tỉnh tỉnh như mèo ŕnh chuột’ không nghĩ ǵ khác.
Đặc biệt áp dụng cho sự tu Tịnh. Trâu cũng là tâm thức. Chăn là chánh niệm liên tục, không nghĩa nhớ ǵ khác ngoài Phật, ngoài danh hiệu của Phật. Nghĩa nhớ ǵ bất đáng th́ tức khắc nhớ Phật không nghĩ như vậy. Cái ǵ đáng làm, và có thể làm được, hăy nghĩ nên là như Phật đă làm. ‘Tâm mà tưởng nhớ đến Phật th́ tâm ấy là Phật, tâm ấy làm Phật’ (quán kinh).
(5b)
Thế nhưng, đối với mọi người xuất gia th́ phải tự buộc chứ không phải tùy nguyện, cố mà làm theo đoạn kinh Di giáo sau đây, đoạn kinh mà Mục ngưu đồ được gợi ư và bắt nguồn từ đó. “Các thầy tỳ-kheo, đă ở trong tịnh giới th́ phải chế ngự 5 thứ giác quan không cho phóng túng. Như kẻ chăn trâu, cầm gậy mà coi giữ, không cho phóng túng, phạm vào lúa mạ của người… Năm thứ giác quan do tâm chủ động, v́ vậy mà các thầy lại phải chế ngự tâm ḿnh… Phóng túng tâm ra th́ làm tan nát việc thiện của người, chế ngự tâm lại một chỗ th́ không việc ǵ không thành”.
Như tôi đă nói, những lời sơ lược về Mục ngưu đồ trên đây là như lời giới thiệu cho Tranh chăn trâu của Ḥa thượng Kế Châu, mong giúp thêm vào thiện nguyện của tập sách ấy.
[2] Tháng 3, 2536 (1993), http://www.phatviet.com/kechau/tctsolu.htm
Một thiền sư Đại An Tự kể rằng: “30 năm nay tôi ở Quy sơn này chỉ chăn con trâu. Trâu đi lạc, tôi kéo nó lại. Trâu ăn lúa của người, tôi đánh. Lâu ngày như vậy thật đáng thương. Nhưng nay th́ trâu đă trắng, cả này sờ sờ trước mắt, đuổi cũng không đi.”
[3] Hỏi thật, thông thường một giáo dân Công Giáo khi đến đứng trước toà giải tội, th́ người đó
v́ Yêu Chúa ?
hay v́ Sợ Côn Trượng của Chúa khi không tuân thủ Lề Luật?
[4] Ga 8, 11
Người đàn bà đáp:"Thưa ông, không có ai cả"
Đức Giê Su nói: "Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!"
1. Khi “nước lă được đổ đầy”.
Để diễn tả cái lạt lẽo, vô vị, không quan hệ thân thiết, không hương sắc, thâm t́nh…người ta hay dùng khái niệm “nước lă”. Coi nhau như “người dưng nước lă”. Một giọt máu đào hơn ao nước lă…
Trong ngữ cảnh Tin Mừng Thánh Gioan qua bài tường thuật “Phép lạ Ca Na” hôm nay, khi được đặt trong bối cảnh của lịch sử cứu rỗi, h́nh tượng “nước lă” phần nào cũng được hiểu theo nội dung ấy.
Quả thật, sau biến cố phản bội đầu tiên của Nguyên tổ, nhân loại đă trở nên “người dưng nước lă” đối với Thiên Chúa và đối với nhau. Nào đâu c̣n những buổi chiều nắng nhạt, Thiên Chúa đồng hành bách bộ hàn huyên thâm t́nh v