Tâm Linh Vào Đời
Đặt vấn đề.. Đặt vấn đề.. Đặt vấn đề..
Một cách cửa đầu tiên hé mở vào thế giới Linh Đạo mênh mông…
Tâm Linh Vào Đời xin phép đặt lại vấn đề Thiên Tính qua câu chuyện
Trần Duy Nhiên góp ư thêm: Vấn đề không năm ở chỗ CÓ THIÊN TÍNH hay LÀ THIÊN TÍNH
Nhưng mọi vấn đề đưa ra đều có thể biến thành ‘của ăn’ để ḿnh tiến lên trong đời sống đạo.
Thiên Tính – Một Vấn Đề để mà Suy Tư
Cuối cùng, tác giả Nguyễn Tầm Thường đă kể câu chuyện Khi nào ngày bắt đầu
Như là một minh chứng thật hùng hồn và tuyệt vời cho vấn đề Thiên Tính với quyết tâm mạnh mẽ
Ta phải t́m câu trả lời cho riêng ta.
Trần Mỹ Duyệt cũng thao thức trăn trở khi suy tư về
Lung Linh
Buổi chiều, gió hiu hiu thổi trên đồi thông thơ mộng. Trong một quán café vườn với âm thanh nhè nhẹ của dàn nhạc giao hưởng dịu êm, mấy anh em ngổi nhâm nhi café Trung Nguyên “khơi nguồn sáng tạo”. Đang nói chuyện trời trăng mây nước, bỗng một anh bạn đột ngột chuyển đề tài.
Mấy tháng nay tớ cứ loay hoay một tư tưởng: Trong Phật giáo, ai cũng có thể thành Phật được, nhưng trong Thiên Chúa Giáo th́ người ta không thể thành Chúa được. Tuy nhiên, hiện nay, người ta đang bàn căi xem người Kitô hữu có thể thành Chúa được không?
Không khí đang vui vẻ liền lắng dịu xuống, nét trầm tư hiện trên mặt mỗi người.
Tôi xung phong tiếp lửa:
Đây là một chủ đề rất thú vị và cũng cực kỳ nóng bỏng. Anh em có ư kiến ǵ không?
Một anh bạn đă học xong 4 năm Thần học cảm thấy cần phải tỏ cái biết thần học của ḿnh.
Theo như tớ hiểu: Con người là vật được tạo thành – v́ thế con người chỉ có nhân tính chứ không thể có Thiên Tính. Thiên T́nh chỉ dành riêng cho Chúa mà thôi. Tớ lưu ư một điểm khá quan trọng là Thánh Tôma Aquinô đă định nghĩa “thiên tính” cùng với nội dung hàm chứa trong đó. Nếu ngày nay ḿnh dùng từ “thiên tính” đó của ngài, nhưng thay đổi nội dung th́ cần phải sáng chế một từ khác cho thích hợp với nội dung mới
Anh bạn Phật Tử tỏ ra đăm chiêu
Tớ không rành Kinh Thánh nhưng tớ nghĩ rằng chắc chắn ở đâu đó có thể trả lời câu hỏi này.
Thế rồi anh ta chỉ ngay vào tôi.
Nghe nói cậu viết báo Tâm Linh Vào Đời ǵ đó phải không, Cậu thử đưa ra một vài ư kiến xem sao
Nếu các bạn thực sự muốn nghe, tớ xin được chia sẻ theo cái nh́n của riêng tớ như sau:
-0-0-0-
Trước khi đi vào vấn đề, tôi xin kể lại một chuyện nhỏ có thật trong đời làm báo Tâm Linh Vào Đời
THẦN KHÍ
Cách đây khỏang nửa năm, một độc giả đă nêu thắc mắc với Tâm Linh Vào Đời
Tại sao dám dùng từ Thần Khí để nói về Ngôi Ba Thiên Chúa?? Thực là báng bổ Chúa Thánh Thần!!!
Lư do: Trước kia, trong sách kinh cũng dùng từ đó với nghĩa xấu: thần khí, mất mùa, giặc giă.
Tâm Linh Vào Đời dùng sách Kinh Thánh nào vậy??
Tâm Linh Vào Đời trả lời vắn tắt:
Mỗi thời, người ta hiểu theo nghĩa khác về cùng một từ ngữ..
thần khí trong sách kinh mang nghĩa xấu, nhưng nay người ta lại hiểu theo nghĩa tốt: Thánh Thần, Thánh Linh, Thần Khí, Ngôi Ba Thiên Chúa
Tâm Linh Vào Đời và tất cả người viết khác, kể cả các giám mục và linh mục đều dùng cuốn Kinh Thánh của Nhóm phiên dịch các giờ kinh phụng vụ để dẫn chứng trong các bài viết của ḿnh trên mạng internet.
Thật đáng tiếc, ông ta không chịu nghe và nhất định đ̣i rút tên khỏi danh sách Tâm Linh Vào Đời!!
Về vấn đề ngữ, nghĩa
Chúng ta đă nghe nói: Nhất tự lục ngh́: Một chữ sáu nghĩa
Thực vậy, chỉ một đối tượng, người ta có thể dùng nhiều từ khác nhau để diễn tả.
Ngôi Ba Thiên Chúa: Thánh Thần, Thánh Linh, Thần Khí, Đức Chúa Thánh Thần, Đức Thánh Linh…
Và cùng một từ, xưa kia người ta hiểu khác, ngày nay người ta hiều khác.
Trái đất: Xưa kia, người ta hiểu trái đất th́ bẹt, hay vuông. Ngày nay, người ta hiểu trái đất tṛn.
Rồi cùng một từ, người này hiểu khác, người kia hiều khác.
Vâng Lời: Người th́ cho rằng bề trên bảo sao nghe vậy. Vâng lời tối mặt, không bàn căi. Người khác lại cho rằng cần phải xét xem có hợp lư không? Nếu không hợp lư, có thể họ không vâng lời.
Thậm chí cùng một từ, trước kia tôi hiểu khác, hiện nay tôi hiều khác.
Thiên Chúa: Trước kia tôi hiểu là một Vị vua cao sang, một cảnh sát chuyên ghi sổ phạt, một người Cha nhân lành, một người bạn quư mến, Đấng thưởng phạt vô cùng..…Nay tôi lại khám phá ra Chúa vốn không h́nh tướng: Chúa là chân lư, sự sống thần linh, sức mạnh Thần Khí, t́nh yêu vô biên…
Như vậy, dù người ta đă hiểu theo nghĩa khác, nhưng thiết tưởng người ta không cần phải sáng chế một từ khác cho thích hợp với nội dung mới.”
Tôi xin mạn phép đưa ra một số vấn đề cũng khá tế nhị, nhưng cũng hết sức bức thiết với những bảng so sánh của hai lối nh́n mà tôi xin phép tạm gọi là:
Quan niệm A (quan niệm trước đây của tôi)
và Quan niệm B (quan niệm của tôi sau khi tôi khám phá ra Chúa thực sự sống trong ḿnh, Chúa là nguồn sống, nguồn sức mạnh tâm linh của ḿnh)
Thiên đàng
|
|
Quan niệm A |
Quan niệm B |
|
Không gian |
Có một nơi trên trời cao để chúng ta có thể LÊN, có thể VÀO. Xin cho các linh hồn ĐƯỢC LÊN chốn nghỉ ngơi. |
Không thể nói ở đây hay ở kia. Thiên đàng ở giũa chúng ta, đặc biệt là ở ngay trong tâm ḿnh |
|
Thời gian |
Đời sau |
Ngay tại đời nay và ngay lúc này đây |
|
Ư nghĩa |
Thiên đàng vừa là phần thưởng vừa là mục đích của cuộc đời giữ đạo: lập công đền tội triền miên. |
Thiên đàng chỉ là kết quả đương nhiên của việc khám phá ra Chúa và sống với Chúa ngay trong tâm ḿnh. (Sống Đạo – chứ không phải giữ đạo) |
Theo lối nh́n B, rơ ràng nội dung mới của THIÊN ĐÀNG đă thay đổi – đối với nội dung cũ..nhưng thiết tưởng đâu cần phải sáng chế một từ khác làm chi cho rắc rối!!
Được sinh ra
|
|
Quan niệm A |
Quan niệm B |
|
Phát xuất |
Chỉ duy nhất một ḿnh Đức Giêsu là con yêu dấu của Chúa. Con người là vật được tạo thành |
Con người được sinh ra bởi chính Thiên Chúa (Ga 1:13a)
Chúng ta được gọi là con Thiên Chúa |
|
Thuộc tính |
Phàm hèn, yếu đuối, tội lỗi, xấu xa |
Con yêu dấu của Chúa, là h́nh ảnh Thiên Chúa, tràn đầy Thần Khí Ngài v́ thế con người vốn Thánh thiện, tốt đẹp, sáng láng |
|
Cơn cám dỗ |
Cơn cám đỗ thật mănh liệt Con người chiến đấu rất vất vả |
Cơn cám dỗ không c̣n mănh liệt Con người vượt qua khá dễ dàng nhờ Thần Khí sức mạnh mà Thiên Chúa đă ban cho ḿnh ngay từ trong ḷng mẹ. (Gr 1:5) |
Theo lối nh́n B, rơ ràng nội dung mới của ĐƯỢC SINH RA đă thay đổi – đối với nội dung cũ..nhưng thiết tưởng đâu cần phải sáng chế một từ khác làm chi cho rắc rối!!
Thánh Thiện
|
|
Quan niệm A |
Quan niệm B |
|
Đối tượng |
Chỉ dành riêng cho Chúa, Đấng ngh́n trùng thánh đức. Giáo hội cũng được hưởng một phần thánh thiện của Chúa với những từ ngữ quen thuộc: hội thánh, đền thánh, chức thánh, thánh lễ, bàn thánh, chén thánh, khăn thánh… |
Áp dụng cho tất cả nhũng người Kitô hữu Đức Giê-su bảo họ : “Trong Lề Luật các ông, đă chẳng có chép lời này sao : ‘Ta đă phán : các ngươi là những bậc thần thánh’ ? (Ga 10:34 )
|
|
Chứng minh |
Giáo hội dạy Chỉ có Chúa là đấng chí thiện Loài người tội lỗi. yếu đuối, phàm hèn |
Trước khi cho ngươi thành h́nh trong dạ mẹ, Ta đă biết ngươi; trước khi ngươi lọt ḷng mẹ, Ta đă thánh hoá ngươi, Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân." (Gr 1:5)
Trong Đức Ki-tô, |
Theo lối nh́n B, rơ ràng nội dung mới của THÁNH THIỆN đă thay đổi – đối với nội dung cũ..nhưng thiết tưởng đâu cần phải sáng chế một từ khác làm chi cho rắc rối!!
Thiên tính
Quan niệm A Trước kia, tôi cũng tin rằng: “Tôi chỉ có nhân tính, chứ không có thiên tính, v́ thiên tính chỉ dành riêng cho một ḿnh Thiên Chúa mà thôi”
Quan niệm B: So sánh Đức Giêsu và người Kitô hữu để chứng tỏ người Kitô hữu cũng có Thiên Tính
|
Đức Giêsu |
Người Kitô hữu |
|
Thánh Tử là h́nh ảnh Thiên Chúa vô h́nh, |
Thiên Chúa sáng tạo con người theo h́nh
ảnh ḿnh, |
|
Người đă tiền định cho họ nên đồng h́nh đồng dạng với Con của Người (Rm 8:29) Người là phản ánh vẻ huy hoàng, là h́nh ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa. (Dt 1:3) |
để Con của Người làm trưởng tử giữa một đàn em đông đúc. (Rm 8:29) |
|
Cha ở trong con và con ở trong Cha (Ga 17:21)
|
Con ở trong họ và Cha ở trong con (Ga 17: 21) để họ được nên một như chúng ta là một (Ga 17:22) |
Chúng ta cùng nhau nh́n lại một vài tư tưởng chính yếu
H́nh ảnh Thiên Chúa:
Có bao giờ chúng ta mang h́nh ảnh Thiên Chúa mà lại không mang theo bản tính – thiên tính của Ngài không?
Hay là chúng ta chỉ mang cái h́nh thức của h́nh ảnh Thiên Chúa c̣n cái nội dung là bản thể Thiên Chúa – Thiên Tính, chúng ta lại ḥan ṭan không có!!! Một h́nh ảnh vô hồn, vô nghĩa, trống không, !!!
Đồng h́nh đồng dạng:
Chúng ta đồng h́nh đồng dạng với Đức Giêsu
mà Người là phản ánh vẻ huy hoàng, là h́nh ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa. (Dt 1:3)
Vậy chúng ta tất nhiên cũng là h́nh ảnh của bản thể Thiên Chúa..tuy nhiên mức độ trung thực th́ c̣n tủy mỗi người. Ai càng sống kết hiệp nên một với Chúa bao nhiêu th́ mức độ sẽ càng trung thực bấy nhiêu… Ai không sống trong Chúa th́ h́nh ảnh sẽ méo mó đến nỗi không thể nhận ra được, thậm chí nó tối thui!!!
Con ở trong họ và Cha ở trong con
Suy ra Cha cũng ở trong chúng ta
Mà Cha đă ở trong chúng ta, Cha chính là Thiên Tính - bản thể Thiên Chúa (Dt 1:3)
Chắc chắn chúng ta phải mang Thiên Tính chứ.
Theo lối nh́n B, rơ ràng nội dung mới của THIÊN TÍNH đă thay đổi – đối với nội dung cũ..nhưng thiết tưởng đâu cần phải sáng chế một từ khác làm chi cho rắc rối!!
Nghe tới đây, nhà Thần học có vẻ vẫn chưa tâm phục khẩu phục, bèn vặn lại
Cậu nên nhớ rằng : “Là thần tính rất khác với có thần tính. Thiên Chúa vốn là thần tính, c̣n con người có thể có thần tính do được thông phần vào Thiên Tính của Chúa.”
Đó chỉ là lư luận theo lư thuyết, chắc chắn bạn c̣n nhớ câu nói nổi tiếng của Phaolô: Tôi sống, nhưng không c̣n phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi.(Gl 2:20). Theo bạn, theo cảm nghiệm sống động động này, Phaolô có thiên tính hay là thiên tính?
Nhà thần học tự nhiên rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan
Nếu trả lời có Thiên tính th́ rơ ràng không ổn v́ chủ thể Phaolô đă tan biến: không c̣n phải là tôi th́ lấy ai để làm sở hữu chủ cái Thiên Tính .. để mà có với chẳng có?
Nếu trả lời Là Thiên tính th́ e rằng lạc đạo v́ bấy lâu nay vẫn cứ đinh ninh rằng Thiên Chúa vốn là Thiên tính, c̣n con người có thể có Thiên tính do được thông phần vào Thiên Tính của Chúa.”
Thấy nhà thần học của tôi có vẻ bối rối, tôi bèn mạn phép kết luận.
Nếu cứ tranh luận với nhau về Thiên tính th́ sẽ không đi đến đâu v́ mỗi người đều cho ư kiến của ḿnh là đúng nhất, là theo truyền thống của Giáo hội - dù rằng có những lúc cảm thấy không ổn. Tuy nhiên, nhân cơ hội anh bạn Phật tử của nhóm ḿnh đặt vấn đề th́ chúng ta cũng nên lợi dụng cơ hội mà suy tư, kiếm t́m và cuối cùng quan trọng nhất là sống với những điều chính ḿnh đă khám phá.
Tóm lại, nói cho cùng vấn nạn Thiên tính chỉ là cái cớ để mỗi người trong chúng ta khánm phá ra Chúa hiện diện trong tâm ḿnh để rồi ai cũng nói được như Phaolô: Tôi sống, nhưng không c̣n phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi.(Gl 2:20).
Tới lúc đó, chúng ta sẽ hiểu rất rơ ḿnh có Thiên Tính hay ḿnh chính là Thiên Tính. Tất nhiên cái Ḿnh ở đây không phải là cái Ḿnh thân xác - mà là cái Ḿnh đích thực: mang ảnh Thiên Chúa, tràn đầy Thần Khí Thiên Chúa.
Trần Duy Nhiên
khongnhuan viết:
"...Tuy nhiên,
nhân cơ hội anh bạn Phật tử của nhóm ḿnh đặt vấn đề th́ chúng ta cũng nên lợi
dụng cơ hội mà suy tư, kiếm t́m và cuối cùng quan trọng nhất là sống với những
điều chính ḿnh đă khám phá..."
Tôi
không phải là một Phật tử nên tôi không dám lạm bàn về ‘Phật tại tâm’, điều mà
hẳn những vị ‘giác ngộ’ phải bỏ một đời để mà cảm nghiệm... và ngay cả phật tử
cũng phải sống cả đời để mà hiểu, v́ thế tôi không dám lấy điều ḿnh nghe thấy
trong đạo Phật để mà so sánh với phạm trù ‘Thiên Tính’ trong Kitô giáo.
Tôi
chỉ muốn nói về ngôn ngữ. Một danh từ hay một phạm trù đặt ra là để cho mọi
người căn cứ vào đó mà giao tiếp. Từ những danh từ b́nh thường, như bàn, ghế,
tủ... cho đến những khái niệm trừu tượng như t́nh yêu, niềm hy vọng hay tâm,
Phật tánh, Thiên tính...
Cùng một từ ‘ḥm’ th́ người Bắc chỉ định cái khác, người Nam chỉ định cái khác.
Và với hai từ khác nhau, người Nam và người Bắc chỉ định cùng một cái, ví dụ :
mùng/màn - mền/ chăn. (trong khi đó, ‘màn/chăn’ ở miền nam lại chỉ định những
cái hoàn toàn khác với miền bắc). Như thế, vấn đề quan trọng trong vấn đề KN đặt
ra, có lẽ không phải là t́m xem con người CÓ hay KHÔNG CÓ thần tính, mà xem
‘thần tính’ chỉ ‘cái ǵ’!
Nếu
chúng ta đồng ư với nhau rằng ‘thần tính’ có nghĩa là bản tính Thiên Chúa - ‘bản
tính’ theo nghĩa ‘yếu tính’ ‘cái xác định ḿnh là ḿnh’ - th́ con người không có
và cũng không là Thiên Tính; bởi lẽ nếu chúng ta có hay chúng ta là thiên tính
th́ chúng ta chính là Thiên Chúa. Mà điều này th́ không thể được, v́ chúng ta
không phải là Thiên Chúa: Thiên Chúa là Đấng tạo dựng, và chúng ta là thọ tạo.
Thiên Chúa tự hữu, không giới hạn trong thời gian và không gian; chúng ta được
tạo thành, có một khởi đầu và một kết thúc... (kết thúc cuộc sống trong vũ trụ
của thời gian).
Nếu
ngược lại, ta đồng ư với nhau rằng ‘thần tính’ có nghĩ là một ‘tính chất’ ‘một
‘thuộc tính’ của Thiên Chúa, th́ đương nhiên chúng ta có thần tính, v́ khi tạo
dựng con người, Ngài đă ‘thổi hơi’ vào vật chất, và ‘sự sống’ chính là một
‘thuộc tính’ của Thiên Chúa.
V́
thế, vấn đề KN đề ra có thể tiếp cận ở hai mặt: tích cực hoặc tiêu cực.
1.
Tích cực: khi ta biết được rằng thần tính
ở trong chúng ta (dù hiểu nghĩa nào đi nữa) th́ chúng ta mới mong thể hiện đúng
cuộc sống hướng về vô biên, c̣n nếu không ư
thức được th́ ta chỉ múa may quay cuồng trong cái thế giới (thể lư và tâm linh)
g̣ bó của ḿnh như con phượng hoàng sống kiếp gà trong ngụ ngôn sau đây:
CHIM PHƯỢNG HOÀNG CÓ ĐÔI CÁNH VÀNG.
Có một người t́m được một quả trứng phượng hoàng và đă để trong ổ gà mái. Ngày
kia, một chú phượng hoàng con đă nở ra và lớn lên với bầy gà con.
Suốt đời, chim phượng hoàng sống như bầy gà v́ cứ tưởng rằng ḿnh là một chú gà:
nó bươi đất để kiếm trùng giun; nó cục tác và đập cánh bay vài bước trên mặt
đất, như những chú gà khác.
Năm tháng trôi qua và phượng hoàng trở nên già nua. Một hôm, nó nh́n thấy một
con chim oai phong lẫm liệt bay lượn cao vút trên trời xanh, không chút gợn mây.
Chim đó lượn qua lượn lại một cách duyên dáng và oai phong ngược ḍng các cơn
gió lùa dũng mảnh mà chỉ khẽ rung đôi cánh màu vàng rực rỡ. Chim phượng hoàng
già nua từ dưới mặt đất nh́n lên không trung, rất đỗi ngạc nhiên. Nó hỏi con gà
bên cạnh: "Con chim ǵ thế?"
Gà trả lời: "Đó là phượng hoàng, chúa tể của các loài chim. Thôi đừng nghĩ ngợi
ǵ mất công: chúng ta rất khác xa với giống chim đó."
Và chim phượng hoàng không thắc mắc ǵ nữa. Cuối cùng nó đă chết mà cứ luôn luôn
ngỡ rằng ḿnh là một con gà lẹt đẹt trong sân.
Anthony de Mello (The Song of the Bird)
2.
Tiêu cực: Nhưng tranh luận về Thần Tính
để làm cho ra lẽ về khái niệm của một từ th́ chỉ là một tṛ chơi vô bổ, và không
đi đến đâu. Chúng ta sẽ giống như những người mù sờ voi, v́ không ai trong chúng
ta biết được cái thực chất nằm tiềm tàng dưới chữ Thần Tính, v́ thần tính là một
cái ǵ thuộc về Thiên Chúa và ta không thể nào lấy một khái niệm con người mà
chuyển tải một cái ǵ vượt khả năng con người. (1) Vấn đề là ‘thiên tính’ trong
chúng ta giúp mỗi người làm ǵ với cuộc sống hiện tại của ḿnh.
Có
một số học giả nghĩ rằng ḿnh đă ‘làm’ rồi khi nói rơ ràng phải làm cái ǵ để
cho một công việc đi đến kết quả. (Điều rất thường xảy ra trong số các nhà chính
trị salon). Có một số Kitô hữu (và thậm chí những nhà thần học) nghĩ rằng ḿnh
đă giải quyết được vấn đề sống đạo của ḿnh, khi nói lên được một số chân lư mà
ḿnh khám phá, mà không để ư rằng đó chỉ là lời nói, mà lời nói th́ gió bay....
Thế
nhưng khởi điểm của Kitô giáo là : Lời đă trở thành xác thịt, và cư ngụ giữa
chúng ta...
Lời, muốn trở
thành sức sống, th́ phải nhập thể trong cuộc sống thực tế của một con người, nếu
không th́ cũng chỉ là những tṛ chơi ‘trí thức’ để mua vui một vài trống canh.
Và
đó là điều tôi suy nghĩ liên quan đến vấn đề 'Thần Tính - Thiên Tính’ mà Khổng
Nhuận đề ra, cũng như về những phạm trù công giáo khác. Chúng ta có thể có thái
độ tích cực hay tiêu cực đối với mọi vấn đề ḿnh tranh luận. Nghĩa là mọi vấn đề
đưa ra đều có thể biến thành ‘của ăn’ để ḿnh tiến lên trong đời sống đạo, hoặc
chỉ là những tṛ tranh luận của kẻ vô công rỗi nghề.
Ghi chú:
(1)
Ngay cả từ ngữ “Thiên Chúa’ mà người công giáo dùng để chỉ Đấng ḿnh tôn thờ th́
cũng không chính xác. Trong tiếng Việt Nam, không có một phạm trù nào có thể
dịch được chữ Theos/ Deus, God, Dieu... Những chữ có sẵn để nói lên ư niệm về
đấng tối cao là: Ông Trời, Thượng Đế, Ngọc Hoàng th́ không chuyển tải được tất
cả những ǵ mà Giáo Hội đặt trong chữ Deus. V́ thế,.các thừa sai Pháp (MEP) đành
phải nêu danh Người là 'Chúa Diéu, rồi người Việt gọi là 'Chúa Diêu'. Sau này,
Giáo Hội Việt Nam đành trở về với cách nêu danh của các thừa sai Bổ Đào Nha vào
thế kỷ XVII, nghĩa là dùng một ‘thuộc tính’, một ‘chức năng’ của Deus thay cho
danh Đấng ấy mà truyền giảng cho người Á Châu: Đức Chúa Trời - Thiên Chúa (dạng
tắt của Chúa Thật Trời Đất - Thiên Địa Chân Chúa). Như vậy, ngay cả chữ 'Thiên
Chua' mà c̣n chưa nói lên chính xác về một thực thể th́ nói ǵ đến những phạm
trù trựu tượng như ‘thiên tính, thần tính’. Ta có thể thấy điều đó qua bức thư
của cha ḍng Tên André Palmeiro gửi bề trên của ḿnh, viết tại Macao ngày 8
tháng 5 năm 1632:
“,,,trong ba ngôn ngữ này [Việt - Hoa - Nhật], không có một từ duy nhất nào
để dịch danh của Chúa mà không sợ sai lệch; v́ vậy chúng con dịch ‘Deus’ theo
chức năng của Người, ấy là Đấng Chủ Tể duy nhất của trời đất; như thế chúng con
theo [gương] Chúa Kitô, Đấng đă nói: “Con tạ ơn Cha là Chúa trời đất” (Phúc âm
thánh Matthêu, 11), và thánh Phaolô đă từng noi theo: “V́ Người là Chúa trời đất
v.v” (Công Vụ 17). Đấy là cách mà chúng con đă loan báo Chúa thật của trời và
đất, nhất là tại An-nam, và do đó chúng con dịch danh của Chúa bằng bốn chữ
Hán[Thiên Địa Chân Chúa], tương đương với danh không thể diễn dạt bằng lời của 4
chữ [Do Thái: YHWH] »
Nguyễn Tầm Thường
Lúc
nào đêm bắt đầu? Khi nào ngày chấm dứt?
Vị đạo sĩ hỏi người học tṛ:
- Đâu là lằn mức giữa đêm và ngày? Lúc nào ngày bắt đầu? Lúc nào đêm chấm dứt?
Người học tṛ suy nghĩ. Vị đạo sĩ bảo người học tṛ vẽ lằn mức mặt trời mọc đến đâu là ngày, chia ranh giới lúc nào là hết đêm.
Im lặng, nhíu thêm đôi mày. Thời gian trôi qua. Không ngờ câu trả lời khó vậy. Người thanh niên thầm nhủ: “Ta nh́n b́nh minh biết bao lần, thức dậy biết bao buổi sáng, mấy mươi năm trong đời chưa một lần phân biệt: Lúc nào ngày bắt đầu, lúc nào đêm chấm dứt?”
Khi viết ḍng này, tôi cũng mới chợt tỉnh câu hỏi của nhà đạo sĩ. Mấy mươi năm làm người, chưa bao giờ nh́n buổi sáng hỏi chân trời lúc nào gọi là ngày, hỏi ḷng ḿnh lúc mặt trời mọc đến đâu là hết đêm. Câu hỏi không dễ trả lời.
*
Tôi đang ở Kanniyakumari, cực nam của miền đất Ấn Độ, cũng gọi là Cape Comorin. Nơi gặp nhau của ba ḍng nước lớn, vịnh Bengal, Ấn Độ dương và biển Arabian.
Tôi muốn đến đây v́ mỏm đá sau cùng của Ấn Độ để nh́n ba ḍng biển ấy gặp nhau và nh́n mặt trời. Nhiều du khách t́m đến đây cũng v́ lư do ấy. Đứng quay lưng lại lục địa, trước mặt là Ấn Độ dương, phía trái là vịnh Bengal, phía phải là biển Arabian. Điều đặc biệt nơi đây, khi trăng lên phía Đông ở vịnh Bangal, mặt trời xuống phía tây bên biển Arabian, cả hai đều tṛng trành trên biển đối diện nhau. Đây là nét đẹp của biển, của trăng, của mặt trời trên trái đất mà du khách gặp mặt cùng một lúc. Sóng nước dạt dào vô cùng tận. Bên đông trăng lên. Bên tây mặt trời xuống. Dang hai cánh tay, ta sẽ hứng cả trăng và trời.
Lung linh, một quả cầu tṛn đỏ ối rực xuống biển cả. Du khách đến đây chiêm ngưỡng mặt trời lặn. Tôi có mặt trong đám người đó chiều ngày mồng 5 tháng 4, năm 2001.
*
Sau thời gian suy nghĩ, người học tṛ không sao vẽ được lằn mức giữa ngày và đêm. Anh đánh bạo trả lời tôn sư:
- Thưa Thầy, lúc mặt trời cho con đủ ánh sáng phân biệt được con chó khác con mèo, đó là ngày.
Vị đạo sĩ lắc đầu, hỏi người học tṛ:
- Phân biệt con chó khác con mèo, nhưng đủ ánh sáng để phân biệt cành trúc khác cành tre không?
Người học tṛ im lặng chưa biết nói ǵ. Tôn sư anh ta lắc đầu nói tiếp:
- Đấy không phải tiêu chuẩn phân biệt ngày và đêm con ạ. Đủ ánh sáng phân biệt con chó với con mèo, nhưng bao nhiêu ánh sáng mới đủ phân biệt cây trúc với cây tre? Vả lại gần bao nhiêu th́ rơ để gọi là chó, xa bao nhiêu là tối để có thể lẫn là mèo.
Sau cùng, người học tṛ tự thú:
- Thưa Thầy, từ lúc Thầy đặt câu hỏi con mới để ư khi mặt trời mọc. Con không vẽ ranh giới được lúc nào ngày bắt đầu, lúc nào đêm kết thúc. Con thức giấc mỗi sáng mà không biết lúc nào gọi là ngày, lúc nào hết đêm.
- Con ạ, cuộc đời nhân gian đêm nhiều hơn ánh sáng. Người ta không tỉnh thức nên sống trong đêm tối mà cứ ngỡ ban ngày. Người ta thức dậy mỗi ngày mà không biết ngày bắt đầu lúc nào, làm sao gọi là thức dậy?
Người học tṛ im lặng trong ư nghĩ riêng tư, hỏi nhà đạo sĩ:
- Thưa Thầy, người ta không quả quyết được lúc nào đêm chấm dứt. Có phải ư Thầy muốn nói, như thế, thức dậy cũng chưa chắc là hết bóng đêm không?
- Đúng thế, con ạ. Thầy muốn dạy con hai điều. Điều thứ nhất, con đă phí phạm biết bao b́nh minh, mấy mươi năm trong đời nh́n mặt trời mà không biết đâu là ngày, đâu là đêm. Điều thứ hai, ngày tháng c̣n lại của con, con phải trả lời câu hỏi của Thầy: Lúc nào ngày bắt đầu, lúc nào đêm chấm dứt?
Bao nhiêu năm thiền niệm trên ngọn núi này, ngày ngày Thầy nh́n mặt trời mọc trên biển t́m câu trả lời. Thầy thức giấc nửa đêm trăn trở v́ câu hỏi ấy. Thầy ra ghềnh đá chờ ánh mặt trời, Thầy lấy hết tâm trí nh́n bóng tối lui dần mà không vẽ nổi lằn ranh biên giới lúc nào ngày bắt đầu, lúc nào đêm chấm dứt. Cho đến một ngày kia...
Nói đến đó nhà đạo sĩ im lặng. Mắt ông ngời sáng, nh́n xa xôi về phía chân trời. Người học tṛ lắng nghe.
*
Bạn thân mến, có khi nào bạn nh́n mặt trời buổi sáng với câu hỏi của nhà đạo sĩ kia chưa? Mặt trời chưa mọc mà hừng sáng, ta chưa gọi là ngày được, vẫn c̣n bóng tối, ta bảo đó là hừng đông. Hừng đông là đă có chút áng sáng nên cũng không thể gọi là đêm được nữa. Từ cái mềm mại như ngọn chuối non đến mầu xanh biếc của tàu chuối già, từ cái xanh nhẹ của ngọn mạ đến màu già dặn của lúa, đâu là lằn mức phân biệt? Mặt trời lên dần, vũ trụ ngái ngủ trở ḿnh. Ta chưa gọi là ngày cho đến khi cái ngái ngủ kia thành thức tỉnh. Ánh sáng làm cho cái mềm ẻo của thời gian mơ hồ thành ngày. Nhưng đâu là biên cương giữa ngày và đêm?
Ta thấy trong cuộc đời dường như cũng thế. Đâu là tiếp nối giữa hạnh phúc và đổ vỡ? Bao nhiêu hạnh phúc hôn nhân lúc ban đầu đẹp vậy mà ít năm sau, ta nghe những chuyện buồn, ta ngỡ ngàng thở dài nghe bạn bè cho hay tin, họ ly dị rồi. Đời mỗi người cũng thế. Có khi ḿnh đang đặt sai về những giá trị cuộc sống mà chẳng biết. Đến khi hối tiếc, đă quá muộn màng. Đâu là biên giới của sắp sa ngă và sa ngă?
Không phân biệt được lúc nào ngày bắt đầu, khi nào đêm chấm dứt, làm sao phân biệt được lúc nào ngày chấm dứt và đêm sắp bắt đầu? Thứ đêm và ngày trong ư nghĩa thiêng liêng. Làm sao phân biệt được khi nào hạnh phúc đang phai mờ và đổ vỡ đang đến? Làm sao phân biệt lúc nào giá trị thiêng liêng đang chấm dứt và giá trị trần thế đang lấn chiếm?
Có khi ngày đang hết, đêm xuống dần mà không hay. Ta chần chừ, tưởng đời ḿnh c̣n dài, trước ngưỡng cửa hoàng hôn mà cứ gọi là ngày.
Có khi trước bóng đêm mà ta thản nhiên không phải ngày c̣n dài mà chỉ v́ không phân được khi nào đêm bắt đầu.
Đường thiêng liêng của linh hồn hay những chuyện t́nh cũng thế thôi. Họ không biết lúc nào vào bóng đêm, v́ không biết tâm t́nh ḿnh đang đi về đâu. Ḥang hôn mà ta cứ tưởng là ngày.
*
Đợi người học tṛ thật yên tĩnh, nhà đạo sĩ nói với môn sinh ông ta:
- Con ạ, thật sự không thể vẽ lằn mức được lúc nào ngày bắt đầu, lúc nào đêm chấm dứt!
Người học tṛ như ngạc nhiên, chăm chú lắng nghe. Tôn sư ôn tồn xác định lần nữa câu nói của ông bằng cách cắt nghĩa cho người học tṛ:
- Không thể phân biệt được biên giới giữa đêm và ngày cũng như không phân biệt được bao nhiêu của cải là hạnh phúc, thiếu bao nhiêu là chưa đủ!
Ngập ngừng đôi giây, vị đạo sĩ nói như lời tâm sự thân t́nh với học tṛ ḿnh:
- Thách đố bởi câu hỏi khi nào ngày bắt đầu, lúc nào đêm chấm dứt. Thầy mải mê đi t́m trong văn chương triết học, trong thần bí niệm tu, cho đến một ngày biết ḿnh không c̣n sống bao lâu mà vẫn không t́m được câu trả lời. Lúc đó Thầy buồn khôn tả, biết ḿnh nhỏ bé trước biển cả và mặt trời. Thầy cúi đầu xin Thượng Đế cho Thầy được chết b́nh an. Thầy xin Thượng Đế cất đi câu hỏi đă dằn vặt Thầy. Thầy không c̣n cách nào trả lời câu hỏi ấy. Trong văn chương triết học, Thầy đă thất vọng, trong thần bí niệm tu, Thầy đă ráng sức cả đời. Càng suy nghĩ càng thấy ḿnh nhỏ bé, sau cùng, Thầy chỉ c̣n biết xin Thượng Đế thương xót, đừng hỏi nữa cho tâm hồn Thầy thảnh thơi.
Khi nào ngày bắt đầu, lúc nào đêm chấm dứt?
Không trả lời được con ạ. Đâu ngờ, chính lúc Thầy xin Thượng Đế cất câu hỏi ấy đi, Ngài lại trả lời cho Thầy. Một ánh sáng êm dịu vô ngần nhẹ nhàng đậu xuống linh hồn Thầy, cho Thầy một trí hiểu đơn sơ, một niềm vui kín đáo, một năng lực sống trọn vẹn v́ một khám phá: Đời quá đẹp.
Nói tới đó, nhà đạo sĩ như phiêu du vào một vùng trời rất đỗi b́nh an. Người học tṛ chăm chú kỹ hơn, lắng nghe.
- Con ạ, Thượng Đế nói trong linh hồn Thầy rằng, lúc nào Thầy nh́n con, thấy bóng dáng Thượng Đế trong con, lúc nào Thầy nh́n ai cũng chỉ thấy là bạn hữu, đó là ngày! Lúc nào Thầy nh́n người tức giận, ghét bỏ, tham lam, thù hận đấy là đêm!
Ánh sáng phân biệt đêm và ngày là ḷng từ ái nhân hậu.
Đi giữa ban ngày trong trái tim trĩu nặng, vẫn là đêm, con ạ. Ngày và đêm không thể phân biệt bằng ánh sáng vật lư, chỉ có ḷng từ ái bao dung.
Ông nh́n người học tṛ rất đỗi nhân ái mến yêu. Từ từ nhắm mắt. Im lặng, linh thiêng và b́nh an, ông lặng lẽ xuôi hồn về thế giới bên kia.
Ông đă chết.
Ông về với ánh sáng, nơi chỉ có ngày, không c̣n đêm nữa. Ông ra đi, để lại cho người học tṛ câu trả lời lúc nào là đêm, lúc nào ngày bắt đầu.
*
Người học tṛ vĩnh viễn xa tôn sư. Vị đạo sĩ chết b́nh an sau khi để lại cho người học tṛ ánh sáng mà ông đă kiếm t́m.
Ngày đó anh ta vui mừng v́ được câu trả lời không phải vất vả t́m kiếm cả một đời như tôn sư anh. Xa Thầy, người học tṛ cắp sách vào đời. Chả bao lâu sau khi tôn sư chết, một chiều nọ nh́n mặt trời xuống biển, một sáng kia thấy mặt trời mọc trên đầu núi, nh́n lại câu trả lời của Thầy, anh bất giác nhận thấy đấy chỉ là t́m kiếm của riêng Thầy.
- Đâu là câu trả lời của riêng ta?
Anh tự hỏi vậy. Nếu ḷng nhân ái bao dung là ánh sáng phân biệt đêm và ngày, ta có ḷng nhân ái không? Câu chuyện hạnh phúc riêng linh hồn ta, ngày đang bắt đầu hay đêm đang bắt đầu?
Nh́n ánh b́nh minh sắp lên, trên triền núi đá sương đêm đang mờ mờ tan. Lúc nào ngày tâm linh bắt đầu, lúc nào đêm thiêng liêng chấm dứt?
Nghĩ đến câu trả lời của tôn sư: “Ánh sáng phân biệt đêm và ngày là ḷng từ ái nhân hậu hay óan thù nhỏ nhen. Đi giữa ban ngày trong trái tim trĩu nặng, vẫn là đêm, con ạ. Ngày và đêm không thể phân biệt bằng ánh sáng vật lư, chỉ có ḷng từ ái bao dung.” Anh ta phân vân hỏi ḷng:
- Đó là câu trả lời của Thầy. Thầy đă đem một đời t́m câu trả lời ấy. C̣n câu chuyện hạnh phúc riêng linh hồn ta, ngày đang bắt đầu hay đêm đang bắt đầu?
Anh tưởng rằng Thầy đă trả lời giùm. Không thể phân biệt được lúc nào ngày bắt đầu, lúc nào đêm chấm dứt bằng ánh mặt trời, mà bằng bao dung của con tim. Ngày ấy anh chợt vui v́ câu trả lời không cần t́m kiếm. Nhưng nỗi nhẹ nhàng của tấm ḷng lịm tắt ngay. Thầy hiểu thế trong trái tim và cuộc sống của Thầy. C̣n chính ta, ḷng ta có bao dung và ngày có bắt đầu? Câu trả lời của Thầy chỉ là gợi ư cho trí hiểu, c̣n chính ta, đời ta là ngày bắt đầu hay ngày đang chấm dứt?
Ta phải t́m câu trả lời cho riêng ta.
Anh lại trăn trở, câu hỏi ấy không đơn giản, và biết ḿnh sẽ phải đem theo cả đời để trả lời câu hỏi ấy.
Vị đạo sĩ đă bỏ những ngày thách đố chính ḿnh ngồi nh́n hoàng hôn, bỏ những ngày dơi theo ánh b́nh minh. Ông quay về t́m ánh sáng trong cơi ḷng. T́m được rồi, ông b́nh an bỏ luôn cơi đời bước vào ngày ngàn thu vĩnh cửu. Nơi chỉ c̣n ánh sáng không c̣n đêm.
Rồi tôi cũng từ giă vùng biển Comorin. Trên chuyến xe đ̣ về hướng Bắc tôi sẽ bỏ lại biển cả và mặt trời. Tôi biết ngày mai, rồi tiếp tục ngày mai nữa, thế kỷ nữa và nhiều thế kỷ nữa du khách sẽ kéo nhau ra mỏm đá này nh́n mặt trời. Trong trái tim mỗi đời người, trong chuyện t́nh cuộc sống của họ, ngày đang bắt đầu hay đêm đang bắt đầu?
Ngày mai tôi lên đường. Đến lúc tôi phải bỏ lại biển cả và mặt trời, bỏ lại ghềnh đá và ḍng nước, giữ lại trong tâm tư thôi v́ nếu không, làm sao tiếp tục cuộc hành tŕnh.
Trích tập NHỮNG TRANG NHẬT KƯ CỦA MỘT LINH MỤC
Chủ vườn.
Cây vả.
Người làm vườn.
“Có người trồng một cây vả trong vườn nho ḿnh. Ông đến t́m quả ở cây đó mà không thấy, ông liền bảo người làm vườn rằng: “Ḱa, đă ba năm nay ta đến t́m quả cây vả này mà không thấy có. Anh hăy chặt nó đi, c̣n để nó choán đất làm ǵ! Nhưng anh ta đáp rằng: “Thưa ông, xin để cho nó một năm nay nữa. Tôi sẽ đào đất chung quanh và bón phân, may ra nó có quả chăng, bằng không năm tới ông sẽ chặt nó đi” (Luc 13:6-9).
Thiên Chúa.
Con người.
Đức Kitô.
Qua trích đoạn Tin Mừng trên, chúng ta nhận thấy rất rơ ràng về mối tương quan giữa Thiên Chúa, con người, và Đức Kitô. Vai tṛ trung gian của Đức Kitô được nhận rơ qua h́nh ảnh người làm vườn vừa siêng năng, vừa có trách nhiệm. Dĩ nhiên, cũng là người làm vườn tốt. Nếu Thiên Chúa là chủ vườn, th́ cây vả chính là h́nh ảnh của nhân loại, và Đức Kitô là người làm vườn.
Như người chủ vườn mặc dù không mấy vui khi thấy cây vả không sinh hoa trái, tuy nhiên, ông vẫn nhẫn nại chờ đợi đến 3 năm. Thiên Chúa hẳn cũng không vui ǵ khi thấy con người vẫn mải xa ngài, quay lưng lại với ngài, nhất là không sinh hoa trái tốt về đời sống tâm linh.
Cũng như người chủ vườn khi trồng cây vả, ông muốn nó sinh hoa, kết trái. Thiên Chúa khi đưa chúng ta vào đời, ngài cũng muốn chúng ta mang lại những hoa trái thiêng liêng tốt lành. Và cũng như người chủ vường đă cắt đặt một người làm vườn chăm chỉ và siêng năng lo chăm bón cây quư ấy, Thiên Chúa cũng đă sai Con Ngài là Đức Kitô làm công việc giải thoát và cứu con người khỏi những khó khăn và trói buộc của tội lỗi, của đam mê và tính xấu, những cái làm cho thui chột và không đem lại hoa trái tinh thần của đời sống Kitô hữu.
T́nh thương.
Thời giờ.
Ơn Cứu Chuộc.
Tuy không c̣n nghi ngờ ǵ về t́nh thương Thiên Chúa dành cho mỗi người chúng ta và cho toàn thể nhân loại. Một t́nh thương bao trùm vũ trụ. Một t́nh thương không dừng lại ở tội lỗi của con người, như lời Ngài đă thề hứa sau khi con người đầu tiên là Adong và Evà đă sai phạm giới luật. Và mặc dù buồn ḷng v́ thấy con người phủ nhận t́nh thương, chối bỏ mối thân t́nh và quay lưng lại với ngài, Thiên Chúa vẫn không nỡ loại bỏ con người như ngài đă loại bỏ Lucifer. Chúng ta hăy nghe ngài nói với Đức Kitô qua môi miệng người chủ vườn nói với người làm vườn: “Ḱa, đă ba năm nay ta đến t́m quả cây vả này mà không thấy có.” Nhưng khác với người chủ vườn, Thiên Chúa không muốn nói câu: “Hăy chặt nó đi, c̣n để nó choán đất làm ǵ!”.
Và mặc dù không nói “hăy chặt nó đi, c̣n để nó choán đất làm ǵ!” nhưng Chúa Giêsu cũng đă hiểu ư và đă đứng ra ḥa giải con người tội lỗi chúng ta với Cha ngài. Bởi ngài biết rằng thời gian có mặt trên dương thế của mỗi người, tuy là thời giờ để lập công, để sinh hoa trái tốt, nhưng nó lại rất giới hạn. Nó không phải là một chuỗi ngày dài vô tận để con người lăng phí, và quên sót bổn phận sinh hoa kết trái của chính ḿnh.
Thiên Chúa liệu có mất b́nh tĩnh như ông chủ vườn đă làm đối với cây vả không? Chắc là không. Không như ông chủ tỏ vẻ bất măn với cây vả và muốn loại bỏ nó, nhưng con người lại là những kẻ bất nhẫn với chính ḿnh. Nó sẽ tự ḿnh tách ḿnh ra khỏi t́nh yêu Thiên Chúa một khi nhận ra ḿnh đă không trung thành, không sống xứng đáng với ơn gọi cao cả của ḿnh. Và đó là điều tại sao người làm vườn, tức là Đức Kitô phải xin với Cha ḿnh khoan dăn.
Người làm vườn đào đất, tưới bón. Chúa Giêsu th́ trở nên chính phân bón cho phần rỗi và ơn cứu chuộc của con người.
Thật vậy, ơn cứu chuộc đă đến với con người và nhân loại qua cái chết của Chúa Giêsu trên thập tự giá. Không phải là phân bón. Không phải là nước. Chúa Giêsu đă hy sinh chính mạng sống ḿnh và trở thành phân bón cho cây phần rỗi chúng ta. Và máu ngài đổ ra trên thập tự giá là ḍng nước mát tưới vào những gốc cây khô cằn của mỗi tâm hồn.
Thánh kư không nói đến mùa vả tới, và đây chính lại là một mầu nhiệm mà chúng ta cần phải tự ḿnh suy nghĩ. Và đó cũng là câu hỏi mà chính mỗi người chúng ta phải tự hỏi lấy ḿnh. T́nh thương Thiên Chúa c̣n đó, luôn chờ đợi. Giá cứu chuộc của Chúa Giêsu đă đủ để tới gội những gốc cây cằn cỗ là tâm hồn chúng ta. Nhưng liệu chúng ta có muốn đón nhận, và có sinh được hoa trái tốt hay không?!!!
Lời bàn của Tâm Linh Vào Đời
Tác giả Nguyễn Tầm Thường đă trăn trở qua những ḍng chữ:
Vị Thầy đă quay về t́m ánh sáng trong cơi ḷng
C̣n anh học tṛ lại quyết tâm:
Ta phải t́m câu trả lời cho riêng ta.
Anh lại trăn trở, câu hỏi ấy không đơn giản, và biết ḿnh sẽ phải đem theo cả đời để trả lời câu hỏi ấy.
Tác giả Trần Mỹ Duyệt cũng thao thức như vậy:
đó cũng là câu hỏi mà chính mỗi người chúng ta phải tự hỏi lấy ḿnh.
Đây chính là thao thức của