Tâm Linh Vào Đời

 

Số 49  Ngày 21.04.2007

 

Li Gii Thiu

 

Biến cố Phục sinh là một Chủ Đề quan trọng với cả ngàn bài viết

Hôm nay Tâm Linh Vào Đời xin giới thiệu bài Nhiều cách hiểu về Phục Sinh

Nhờ thay đổi lối nh́n, chúng ta sẽ dễ dàng khám phá ra  Kho báu nhà ḿnh

Từ đó khám phá ra t́nh yêu Chúa: Trái tim rất yêu dấu

Rối lên đường Làm chứng nhân cho Chúa Phục sinh

Cuối cùng xác tín rằng: Yêu Thày hơn những người khác

 

 

 

Nhiều cách hiểu về

Phục Sinh

 

 

Có nhiều cách hiểu vế Phục Sinh. Chúng tôi tạm lấy một vài cách hiểu tiêu biểu.

 

CÁCH HIỂU THÔNG THƯỜNG

Phục sinh có nghĩa là vui ḷng chờ đợi cho tới.. sau khi chết, may ra được ơn Cứu Độ.

Rồi phải chờ măi cho tới ngày tận thế mới được phục sinh….nhưng không hiểu là tận thế của trái đất hay tận thế của vũ trụ.

Nếu tận thế của trái đất, theo Matthêu, th́

Mt 24:29    “Ngay sau những ngày gian nan ấy, th́ mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không c̣n chiếu sáng, các ngôi sao từ trời sa xuống và các quyền lực trên trời bị lay chuyển.

Lúc đó, các ngôi sao từ trời sa xuống, chắc chắn trái đất sẽ bị tan tành, biến thành tro bụi… bay mù mịt trong không gian. Không hiểu ḷai người sẽ gặp nhau ở đâu ngay sau khi ùn ùn sống lại cùng một lúc…giữa những đám mây tro bụi khổng lồ này!!!

C̣n trường hợp tận thế của cả vũ trụ th́ chắc chắn loài người không có chốn nương thân giữa một không gian tăm tối,chết chóc kinh hoàng không thể tưởng tượng nổi.

Phục sinh kiểu này th́ thà chết luôn c̣n sướng hơn!!!

CÁCH HIỂU LƯ THUYẾT

Phục sinh có nghĩa là được tham dự vào sự sống mới. Sự sống mới này là sự sống của chính Chúa Giêsu.

Chúng ta có thể căn cứ vào mấy đặc điểm sau đây.

Đặc điểm căn bản nhất là sự vâng phục thánh ư Chúa Cha. Vâng phục tuyệt đối. Vâng phục vô điều kiện. Vâng phục đến cùng.

Đặc điểm thứ hai là yêu thương. Yêu thương chấp nhận những tính t́nh khác biệt. Yêu thương phấn đấu phục vụ lợi ích chung. Yêu thương gánh tội thay. Yêu thương đền tội thay. Yêu thương chết thay. Yêu thương tha thứ. Yêu thương đến cùng.

Đặc điểm thứ ba là khiêm nhường. Khiêm nhường che giấu sự cao sang của ḿnh. Khiêm nhường sống ẩn dật trong thân phận người nghèo khó. Khiêm nhường nhịn nhục khi bị oan ức, nhục nhă. Khiêm nhường im lặng. Khiêm nhường đến tận cùng.

Cứ t́m ba đức tính trên đây trong bản thân chúng ta, chúng ta sẽ thấy sự sống Chúa Giêsu trong chúng ta có thực dồi dào hay không, ơn phục sinh trong chúng ta có thực mạnh mẽ hay không.

Nhận Định

Ư kiến này thật tuyệt vời đến nỗi trở thành không tưởng.

Lư do quá rơ ràng:

Làm sao biết: Đây là Thánh ư Cha?

Trong Kinh Thánh ư? Có cả chục câu mâu thuẫn nhau..

Dựa vào ư bề trên ư? Có những  ư khác nhau nếu chúng ta hỏi nhiều linh mục khác nhau.

Căn cứ vào lời dạy của Hội thánh ư? Cùng một lời dạy, được các Linh mục cắt nghĩa khác nhau…

Kết quả:

Không thể biết đâu là Thánh  ư Cha.

Yêu thương: nói th́ dễ, nhưng thực hiện c̣n chua hơn dấm..biết thế nào cho đủ..trong khi đó đ̣i hỏi yêu thương đến tận cùng.

Khiêm nhường chẳng bao giờ trở thành hiện thực khi tôi vẫn thấy cái tôi của ḿnh.. dù cái tôi nhỏ bằng con kiến. Nó vẫn có đó và sẵn sàng vụt lớn nhanh như người khổng lồ khi bị chạm vào tử huyệt, ngay cả tử huyệt được khóac bên ngoài bằng tấm áo choàng thánh thiện.

Tóm lại Phục Sinh vẫn chỉ có nghĩa tuyệt-vời  trên lư thuyết, nhưng lại không-tưởng trong hiện thực.

CÁCH HIỂU THỰC HÀNH

Phục sinh là điều có thật, là sự việc phải xảy ra, là điều Chúa có thể thực hiện dễ dàng, nhanh chóng v́ Chúa đă chiến thắng và là hy vọng của chúng ta, cho nên có ba điều chúng ta cần làm:

1. Vững vàng

Ghi khắc và nắm vững vào niềm tin phục sinh. Niềm tin vào sự phục sinh chính là cái neo cho linh hồn chúng ta giữa cuộc đời phong ba của giáo lư giả mạo và đạo đức suy đồi.

2. Chớ rúng động

Chúng ta đừng để cho bất cứ một sức mạnh nào làm cho ḿnh thay đổi lập trường, niềm tin hay ḷng kiên tŕ. Chúng ta sẽ không nao ḷng nhưng kiên tŕ khi biết rằng Chúa của chúng ta đă chiến thắng và chúng ta đang ở về một phía với Ngài.

3. Làm công việc Chúa cách dư dật

Trên phương diện phục vụ Chúa, tất cả th́ giờ, tiền bạc, sức lực của chúng ta dâng cho Chúa sẽ không bao giờ trở thành vô ích v́ Chúa của chúng ta đă sống lại. Chúng ta phục vụ cho một đối tượng sống. Chúng ta tin vào một Chúa sống, phục vụ Chúa hết ḷng chúng ta sẽ không bao giờ thất vọng.

NHẬN ĐỊNH

Cách này có vẻ đầy đủ lư thuyết lẫn thực hành

Người đọc có cảm tưởng rằng tác giả khuyên chúng ta phải có niềm tin vững vàng, không rúng động và hăng say phục vụ Chúa..

Nhưng c̣n chuyện chúng ta phục sinh th́ không được bàn tới. May ra Chúa ban cho một phần thưởng nào đó trên nước trời mai sau: chúng ta sẽ không bao giờ thất vọng.

CÁCH HIỂU TÂM LINH

Cách hiểu Tâm Linh vừa đơn giản vừa âm thầm không phải đặt vấn đề lôi thôi:

Phục sinh với h́nh dáng nào: già, trẻ, lớn, bé?? Da trắng, vàng, đen??? Lành lặn, đui mù, què quặt???

Tập họp toàn thể nhân loại ở đâu trên trái đất đă bị tan tành?

Đơn giản và âm thầm v́ nó không đặt vấn đề bên ngoài mà chỉ xóay vào bên trong. Theo Ánh mắt Tâm Linh.

Phục sinh chính là đổi mới năo trạng.

Phục sinh chính là cởi bỏ con người cũ, mặc con người mới.

 

Anh em phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa,

là con người phải hư nát v́ bị những ham muốn lừa dối,

23 anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em,

24 và phải mặc lấy con người mới, là con người đă được sáng tạo theo h́nh ảnh Thiên Chúa

để thật sự sống công chính và thánh thiện. (Ep 4:22-24)

 

Điều kiện: Muốn Phục sinh, phải để Thần Khí đổi mới tâm trí.

Muốn để Thần Khí đổi mới tâm trí, phải nhận ra Thần Khí hiện diện và họat động ngay trong ḷng ḿnh.

Muốn nhận ra Thần Khí hiện diện và họat động ngay trong ḷng ḿnh, chúng ta phải xác tín rằng: Ngay từ trong ḷng mẹ, chúng ta đă được tràn đầy Thánh Thần

Trước khi cho ngươi thành h́nh trong dạ mẹ, Ta đă biết ngươi;

   trước khi ngươi lọt ḷng mẹ, Ta đă thánh hoá ngươi,
 Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân.” (Gr1:5)

 

Ngay khi c̣n trong ḷng mẹ, em đă đầy Thánh Thần. (Lc 1:15)

Hai câu này không chỉ dành cho Giêrêmia, Gioan Tảy –Giả mà c̣n dành cho tất cả chúng ta – những người em thân yêu của anh cả Giêsu.

Có như thế Thần Khí mới có cơ may đổi mới tâm trí ḿnh từ từ, từng ngày, từng tháng chứ không đổi mới đột ngột rồi Thần Khí biến mất. Lâu lâu mới ngự đến khi ta kêu cầu Ngài.

Kết quả của cuộc đổi mới là khám phá ra: ḿnh mang h́nh ảnh Thiên Chúa, làm nền tảng cho cuộc sống thánh thiện.

Thế là từ ngày chúng ta tin và đón nhận Lời Chúa vào ḷng, thực tập sống trong tâm t́nh con yêu dấu của Chúa, chúng ta thấy cuộc đời ḿnh quả là thú vị, v́ lư do sau:

Thật, tôi bảo thật các ông : ai nghe lời tôi và tin vào Đấng đă sai tôi, th́ có sự sống đời đời và khỏi bị xét xử, nhưng đă từ cơi chết bước vào cơi sống. (Ga 5:24)

Vậy giờ đây, những ai ở trong Đức Ki-tô Giê-su, th́ không c̣n bị lên án nữa.
2 Thật vậy, luật của Thần Khí ban sự sống trong Đức Ki-tô Giê-su,
đă giải thoát tôi khỏi luật của tội và sự chết. (Rm 8:1-2)

 Giải thóat tôi khỏi luật của tội và sự chết để tôi bước vào cơi sống: đây chính là Phục Sinh đích thực. Và việc phục sinh này xảy ra ngay từ bây giờ: Vậy giờ đây, chứ không phải đợi măi cho tới sau khi chết: vừa xa xôi diệu vời vừa quá đỗi bấp bênh..

 Xin lưu ư: Sau khi phục sinh, ta vẫn sống sờ sờ trước mặt thiên hạ như xưa, thiên hạ vẫn coi ḿnh cù lần như xưa, giống như người Do Thái đă từng kháo láo với nhau:

Mc 6:3  Ông ta không phải là bác thợ, con bà Ma-ri-a, và anh em của các ông Gia-cô-bê, Giô-xết, Giu-đa và Si-môn sao ? Chị em của ông không phải là bà con lối xóm với chúng ta sao ?”

Như thế chứng tỏ Phục Sinh là chuyện xảy ra trong tâm thức, trong năo trạng, trong lối nh́n: lối nh́n Ánh Mắt Tâm Linh. Và thể hiện qua lối sống b́nh an, hạnh phúc êm đềm.

Chứ không phải sau khi Phục Sinh, ta trở thành vĩ nhân nổi tiếng với phép lạ tày trời làm lác mắt thiên hạ hoặc ta trở nên đặc biệt khác người, từ cách ăn nói tới đi đứng.. từ cử chỉ lẫn hành động uy nghi như một vị ḥang đế chốn ḥang cung.

 

 

Lời Giới thiệu

 

KHO BÁU

NHÀ M̀NH

 

Trước hết, chúng ta lắng nghe cuộc tham vấn của Huệ Hải Đại Châu

" Huệ Hải Đại Châu đến tham vấn Mă Tổ, Mă Tổ hỏi:

- Từ đâu đến?

Đại Châu Huệ Hải thưa: 

- Từ chùa Đại Vân ở Việt Châu.

Hỏi:

- Đến đây cầu việc chi?

Thưa:

- Cầu Phật pháp.

Mă Tổ hỏi:

- Kho báu nhà ḿnh mà chẳng đoái hoài, bỏ nhà đi t́m cái chi? Ta ở trong đó không có một vật. Phật pháp là cái chi mà cầu? 

Huệ Hải lễ bái thưa:

- Cái ǵ là kho báu nhà ḿnh của Huệ Hải?

Mă Tổ nói:

- Hiện tại chính ngươi hỏi ta là kho báu của ngươi. Tất cả đều đầy đủ không thiếu thốn, tự do sử dụng đâu cần cầu bên ngoài. Ngay câu này, Huệ hải tự nhận ra bổn tâm ḿnh không do hiểu biết." 

 

TT. Thích Đức Thắng giải thích

 

Qua công án này, chúng ta đă nhận ra ông Phật chính ḿnh chưa? Nếu không, cho dù có hiểu nhờ vào những định nghĩa do ngôn ngữ văn tự hay mọi sự tŕnh bày, đều không có ích chi cả, v́ mọi sự hiểu biết do trí phân biệt đẻ ra, đều cũng là một thứ vọng mà thôi. Nếu ngay chính nơi ta, ngay trong cuộc sống mà chúng ta không nhận ra cái bản lai Phật tánh của chính ta, th́ cho dù là nhướng mày chớp mắt mệt nghỉ, tưởng cũng chẳng can hệ chi đến việc thấy tánh thành Phật, trong khi những cái biểu hiện đó bị ư chí can thiệp vào, và tức khắc chúng bị bóp méo.

 

Tâm Linh Vào Đời chia sẻ

 

Người Kitô hữu cũng có kho báu. Chính Đức Giêsu đă đưa ra dụ ngôn

“Nước Trời giống như chuyện kho báu chôn giấu trong ruộng. Có người kia gặp được th́ liền chôn giấu lại, rồi vui mừng đi bán tất cả những ǵ ḿnh có mà mua thửa ruộng ấy. (Mt 13:44)

Kho báu này là ǵ vậy? Có nhiều câu trả lời nhưng cuối cùng cũng chỉ về một thực tại duy nhất mà chúng ta gọi là Chúa với những  tên gọi khác nhau tùy theo lối nh́n.

Theo bản thể hay bản tính: Chúa Cha

Theo h́nh tướng bên  ngoài: Chúa Con – Phaolô gọi là Đức KiTô.

Theo thuộc tính: Thánh Thần, Thánh Linh,  Thần Khí...khôn ngoan, sức mạnh, t́nh yêu....

Theo tôi, đỉnh cao Kitô giáo thu gọn trong câu Kinh Thánh này:

Con ở trong họ và Cha ở trong con, để họ được hoàn toàn nên một (Ga 17:23)

Câu Kinh Thánh ngắn gọn này là một minh chứng hùng hồn: Kho báu của người Kitô hữu là chính Chúa chứ không phải là bất cứ một điều ǵ khác. Kể cả Thiên Đàng.

Thực vậy, Chúa là gốc, Thiên Đàng là ngọn.

Sống trong Chúa tức là sống trong Thiên Đàng – ngay tại đời này, chứ không cần ǵ phải đợi Thiên Đàng mai sau.

Như vậy rơ ràng là kho báu của chúng ta chính là Chúa, c̣n mong ǵ hơn nữa không??? Thế mà chúng ta nhất định không chịu nhận ra kho báu nhà ḿnh thế th́ có đáng tiếc không chứ!!

Kho báu c̣n được hiểu là Thần Khí Thiên Chúa

Thiên Chúa đă đổ t́nh yêu của Người vào ḷng chúng ta,                                                                                    nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta (Rm 5:5)

Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được rằng
chúng ta ở lại trong Người và Người ở lại trong chúng ta :
đó là Người đă ban Thần Khí của Người cho chúng ta
. (1Ga 4:13)

Ai trong chúng ta cũng biết rằng: Ngôn từ chỉ là phương tiện để diễn tả thực tại bên trong với những kiểu nói sau:

Chúng ta ở lại trong Người (Chúa)

Người ở lại trong chúng ta (Chúa là kho báu trong ḷng chúng ta)

Đă ban Thần Khí của Người cho chúng ta  (Thần Khí cũng được hiểu là kho báu trong ḷng chúng ta)

Tóm lại, kho báu ở ngay trong ḷng ḿnh. Nếu chúng ta t́m kiếm, khám phá dần dần ... chắc chắn một ngày nào đó chúng ta cũng t́m được kho tàng của ḿnh. Một kho tàng có sẵn từ lâu lắm rồi..

Khi nhận ra kho bàu trong ḷng ḿnh, chúng ta chắc chắn sẽ có ánh mắt nh́n mới  về Chúa, về thế gian, về cuộc đời, về con người...Đó chính là lúc ta metanoya – thay đổi năo trạng – thay đổi quan niệm – thay đổi cái nh́n..bỏ con ngừơi cũ, mặc con người mới...

Lời Giới thiệu

 

Trái tim rất yêu dấu

 

Trần Mỹ Duyệt

 

Ngày 30 tháng 4 năm 2000, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tôn phong chân phước Faustina Kowalska lên hàng hiển thánh, và sau đó ngày 23 tháng 5 năm 2000, ngài đă thiết lập Lễ Kính T́nh Thương Xót Chúa tức Chúa Nhật ngay sau Chúa Nhật Phục Sinh. Ư nghĩa của t́nh thương Chúa được biểu tỏ qua tấm h́nh với trái tim Chúa rộng mở, và từ trái tim ấy có hai luồng sáng tỏa chiếu: một luồng sáng mầu trắng và một luồng sáng mầu đỏ.

 

Trái tim, quả tim, hay con tim là một phần cơ thể rất quan trọng mà thiếu nó, không ai có thể sống được. Do đó, khi nghĩ đến trái tim th́ ai cũng nghĩ  rằng trái tim là để yêu. “Yêu với cả con tim!” . Tuy nhiên, nếu có con tim chân chính, th́ cũng có con tim mùa ḷa. Con tim ngủ yên. Có nghĩa là yêu không đúng lúc, đúng người, đúntg chỗ. Hoặc không yêu ai cả mà chỉ yêu chính ḿnh. Yêu hẹp ḥi và ích kỷ.

 

Nhưng đó chỉ là cái nh́n và lối diễn tả thông thường mà chúng ta hay dùng để nói về t́nh yêu và những thao thức, hồi hộp của t́nh yêu có liên quan trực tiếp đến sinh hoạt của trái tim. Đúng ra, người ta yêu bằng cả con người gồm trí khôn, ḷng muốn, và cảm xúc. Yêu như thế, là “yêu với hết linh hồn, hết trí khôn, và hết sức”(Matthêu 22:27). Một t́nh yêu chỉ có thể t́m được nơi Thiên Chúa, đấng chính là t́nh yêu: “Thiên Chúa là t́nh yêu” (1 Gioan 4:8).

 

Trước đây một người thơ kư trong văn pḥng tôi, chồng bà là một bác sĩ. Khi ông bị chứng đau tim hoành hành, và ở vào t́nh trạng phải thay tim, ông đă may mắn nhận được trái tim của một anh Mễ nghiện rượu. Bởi v́ anh Mễ nghiện rượu nên đă lái xe trong lúc say rượu và đă gây ra tai nạn. Anh được đưa vào nhà thương và qua đời tại đó. Người ta đă cắt quả tim của anh để ghép cho ông bác sĩ chồng của bà thơ kư này. Thế là ông bác sỹ ấy từ đó đă sống bằng trái tim của một người Mễ. Nói theo kiểu thông thường là ông ta cũng yêu bằng trái tim của một người Mễ. V́ thế, nhiều lần tôi hay nói đùa với bà là:

 

- Bác sỹ John không yêu bà đâu. Anh Mễ say rượu yêu bà đấy!


Những lần như vậy, bà thường căi lại, và bằng một thái độ rất tự tin, bà căi lại: 

 

- Nói tầm bậy. John yêu tôi. Tôi biết là John yêu tôi.


Điều này cho thấy không phải là trái tim của ông John đă yêu vợ ông, mà là ông John đă yêu. V́ khi nói trái tim ông John yêu vợ, th́ không đúng, v́ trái tim ấy đă bị bệnh, đă hư, và đă bị cắt bỏ. Hoặc nếu trái tim ông John yêu vợ ông, th́ quả thật trong thời gian ông bị bệnh đau tim, t́nh yêu của ông đối với vợ ông cũng bị “đau” hay “bệnh” luôn. C̣n sau khi khép tim, th́ người Mễ nghiện rượu đă yêu vợ ông chứ không phải ông.

 

Khi nói trái tim là biểu tượng của t́nh yêu hay trái tim yêu là nói lên cái lối diễn tả của t́nh yêu được diễn tả qua những nhịp đập, và rung cảm của trái tim. Khi người ta bị cảm động hoặc hồi hộp th́ nhịp tim đập mạnh, máu được dồn lên óc hoặc các cơ phận khác tạo nên những thay đổi ngoại h́nh. Không chỉ là t́nh yêu, trái tim c̣n bị ảnh hưỏng hoặc diễn tả bằng cả nỗi sợ hăi, và những cảm xúc vui, buồn khác nữa.

 

Yêu với tất cả con tim hay yêu với tất cả con người, và yêu với tất cả tấm ḷng, và khối óc. Khi yêu ai chân thành, ta thật khó ḷng phân tích, và để riêng từng bộ phận trong con người và xem coi phần nào yêu nhiều, phần nào yêu ít. V́ thế khi nghĩ đến trái tim Chúa Giêsu cũng là nghĩ đến t́nh yêu hoàn toàn của ngài dành cho con người và từng người. Và đây là một t́nh yêu tuyệt đối, t́nh yêu có một không hai trên cơi đời này. T́nh yêu vượt hẳn mọi t́nh yêu mà con người có thể có đối với nhau và cho nhau: “Không ai có t́nh yêu lớn lao hơn kẻ thí mạng sống ḿnh v́ người ḿnh yêu” (Gioan 15:13). Ngài đă nói và làm như vậy.

 

Thiên Chúa đă dùng h́nh ảnh trái tim để cho con người có thể cảm nhận được ḷng ngài yêu thương như thế nào. Nó cũng nói lên tính cách rất người và nhân loại của Thiên Chúa khi ngài muốn cho con người và từng người hiểu rằng ngài yêu thương chúng ta. T́nh yêu ấy không chỉ bằng môi, miệng, hoặc những lời hứa hăo huyền mà bằng hành động thực tế. Hành động tạo dựng qua vũ trụ và con người. Hành động cứu chuộc qua cuộc khổ nạn và cái chết đau đớn, nhục nhă trên thập giá. Bằng hành động chia sẻ và thân thiết với con người qua phép Thánh Thể.  Như vậy, Thiên Chúa đă thực hiện tất cả những ǵ mà t́nh yêu đă diễn tả. Ngài đă đáp ứng mọi yêu sách của t́nh yêu:

 

-          Có mặt bên người yêu: Không phải chỉ là nơi mọi vật hữu h́nh và vô h́nh, mà c̣n trong Thánh Thể.

-          Nên giống người yêu: Ngài đă mặc xác phàm nhân loại. Đă sống, và đă trải qua 33 năm trên dương thế.

-          Mong điều thiện hảo cho người yêu: Những lời giảng dậy, những gương lành ngài thực hiện không ǵ hơn là để con người nhờ đó mà được hạnh phúc. Được sống đời đời.

-          Nên một với người yêu: Trong Thánh Thể, ngài đă ḥa tan và nên một với tất cả những ai đón rước ngài vào ḷng. Một sự ḥa tan làm cho con người trở thành “thiên chúa”. Và Thiên Chúa trở thành “con người” như chúng ta.

-          Hy sinh cho người ḿnh yêu: Sự hy sinh cao độ nhất là cái chết tự nguyện trên thập giá. Chỉ có ḿnh ngài, và duy ḿnh ngài mới làm được điều này. Ít ai dám chết cho người ḿnh yêu.

 

Nhưng cũng qua h́nh ảnh trái tim được ghép nối của chồng bà thư kư trên, lại đem tôi về một ư nghĩ khác, ư nghĩ là con người thời nay rất cần được thay tim. Không phải bằng trái tim anh Mễ say rượu, mà là trái tim của Giêsu, người có trái tim yêu đến chết. Chết v́ thương yêu nhân loại.

 

Thật vậy những chứng bệnh làm cho trái tim con người cần phải thay, cần được ghép rất nhiều. Một cách tương tự, những chứng bệnh làm cho trái tim tâm linh cần được thay, cần được đổi mới cũng rất nhiều. Những triệu chứng này gồm ly dị, phá thai. đồng tính, hôn nhân đồng tính, đam mê dục vọng, nghiệp hút, cờ bạc, tham quyền cố vị, độc tài, độc ác, gian dối, lưu manh, lừa lọc, cuồng tín, qúa khích, tham lam, vô trách nhiệm, ích kỷ và kiêu căng... Dưới h́nh thức này hay h́nh thức khác, rất nhiều người đang mang những triệu chứng ấy và trái tim của họ như đă ngưng đập. Và v́ thế, chiến tranh, bạo loạn, chết chóc, chém giết, khủng bố, độc tài, áp bức, hà hiếp, lường gạt, và thù hận như dâng tràn và xâm chiếm vào mọi lănh vực của cuộc đời. Những nạn nhân gồm những người tàng tật, yếu đuối, cô nhi, quả phục, trẻ em vô tội, và mọi thành phần xă hội, mọi lứa tuổi.

 

Lễ Chúa t́nh thương. Chúa muốn dùng h́nh ảnh trái tim để hướng ḷng con người về với thực tại thiêng liêng là t́nh yêu Thiên Chúa. Thiên Chúa yêu thương con người. Nếu Chúa Giêsu đă chấp nhận chết cho nhân loại, th́ ngài cũng sẵn ḷng để trao tặng cho nhân loại trái tim rất yêu dấu của ngài.

 

“Lậy Chúa xin hăy thanh luyện và biến hóa trái tim tật nguyền của con bằng trái tim đầy yêu thương của Chúa, và như vậy đời sống của con sẽ được đổi mới, và con sẽ được sống, được thở, và được đập bằng trái tim của Chúa. Để con cũng yêu thương Chúa và yêu thương nhau như Chúa đă yêu thương mỗi người chúng con và đă chết cho chúng con.”

 

15.4.2007

Lời Giới thiệu

 

MỘT CHỨNG NHÂN ĐƯỢC CANH TÂN

CHO CUỘC PHỤC SINH CỦA ĐỨC KITÔ

 

THÔNG MỘT CHỨNG NHÂN ĐƯỢC CANH TÂN CHO CUỘC PHỤC SINH CỦA ĐỨC KITÔ

 

THÔNG ĐIỆP PHỤC SINH CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG BÊNÊĐÍCTÔ XVI

 

Trước khi ngài ban phép lành “urbi et orbi” (cho thành Rôma và toàn thế giới).

 

Chuyển ngữ : Trần Mỹ Duyệt

 

Anh chị em thân mến trên toàn thế giới,

Những người nam và nữ thiện chí!

Chúa Kitô sống lại! B́nh an cho anh em! Hôm nay chúng ta cử hành một biến cố rất trọng đại, căn bản của đức tin Kitô Giáo và hy vọng. Đức Giêsu thành Nagiaréth, Đấng Bị Đóng Đinh, đă sống lại từ cơi chết vào ngày thứ ba như lời Thánh Kinh. Chúng ta lắng nghe hôm nay với một cảm xúc được đổi mới lời đă được các thiên thần trong buổi b́nh minh đầu tuần sau ngày Sabbath, công bố với Maria Mađalênna và những phụ nữ tại ngôi mộ: “Tại sao các bà t́m người sống trong kẻ chết? Ngài không có ở đây, ngài sống lại rồi” (Luca 24:5-6).

Không khó khăn ǵ để tưởng tượng ra những xúc động của những phụ nữ này trong giây phút đó: những cảm giác buồn nản và thất vọng về cái chết của Chúa họ, những cảm giác của ngờ vực và sửng sốt trước sự kiện quá kinh ngạc để trở nên thực sự. Nhưng ngôi mộ đă được mở ra và trống rỗng: thân xác đă không c̣n đó nữa. Phêrô và Gioan được các bà báo cho về chuyện này, đă chạy tới mồ và đă khám phá ra rằng các bà nói thật. Đức tin của các Tông Đồ vào Chúa Giêsu, Đấng Cứu Thế đợi trông đă bị khuất phục trước thách đố ghê gớm do tai tiếng của thập giá. Lúc ngài bị bắt, kết án, và chết, họ đă bỏ chạy. Giờ đây họ lại cùng với nhau một lần nữa, bối rối và sửng sốt. Nhưng Đấng Đă Sống Lại chính ngài đă tới để đáp lại niềm khát vọng lớn lao này của họ. Cuộc gặp gỡ này không phải là một giấc mơ hoặc một ảo tưởng, hay một h́nh ảnh tưởng tượng; nó là một kinh nghiệm thật, mặc dù bất ngờ, và hơn tất cả điều đă gây ấn tượng mạnh hơn cho lư do này. “ Chúa Giêsu đă đến và đứng giữa họ và nói với họ, ‘b́nh an cho các con!’” (Gioan 20:19).

Với những lời ấy, đức tin hầu như tan biến của các ông đă được thắp sáng. Các Tông Đồ đă nói với Tôma, người đă vắng mặt trong lần gặp gỡ đầu tiên ấy: Thật, Chúa đă hoàn tất mọi lời ngài đă nói; ngài thật sự sống lại và chúng tôi đă thấy và động chạm đến ngài! Tuy nhiên, Tôma đă nghi ngờ và thắc mắc. Tám ngày sau đó, Chúa Giêsu hiện ra lần thứ hai,  trong căn Thượng Lầu, ngài đă nói với ông: “hăy xỏ ngón tay vào đây, và hăy nh́n bàn tay thầy, và hăy thọc bàn tay con vào cạnh sườn thầy; chớ cứng ḷng, nhưng hăy tin!”. Lời đáp trả của vị Tông Đồ là một lời tuyên xưng đức tin cảm động: “Lậy Chúa tôi. Lậy Thiên Chúa của tôi!” (Gioan 20:27-28).

“Lậy Chúa tôi. Lậy Thiên Chúa của tôi!” Cả chúng ta nữa hăy làm mới lại lời tuyên xưng của Tôma. Tôi đă chọn những lời này cho lời chào mừng Phục Sinh của tôi năm nay, bởi v́ nhân loại ngày nay đang mong mỏi nơi các Kitô hữu một chứng nhân được đổi mới từ cuộc phục sinh của Đức Kitô; nó cần gặp gỡ ngài và biết ngài là Chúa và là người thật. Nếu chúng ta có thể nhận ra qua vị Tông Đồ này những nghi ngờ và những trạng thái xao xuyến của nhiều Kitô hữu ngày nay, những lo lắng và thất vọng của nhiều người thuộc thời đại chúng ta, với ngài chúng ta có thể khám phá bằng một xác tín được đổi mới, đức tin trong sự chết và phục sinh của Đức Kitô cho chúng ta. Đức tin này, được truyền lại qua bao thế kỷ bởi những đấng kế vị các Tông Đồ, tiếp nối bởi v́ Chúa Đă Sống lại không c̣n chết nữa. Ngài sống trong Giáo Hội và hướng dẫn giáo hội một cách vững vàng tiến tới việc hoàn tất dự án đời đời của ơn cứu độ.

Chúng ta tất cả có thể bị cám dỗ bởi sự bất tin tưởng của Tôma. Đau khổ, sự dữ, bất công, chết chóc, đặc biệt khi nó nhắm vào những thành phần vô tội như các trẻ em, là những nạn nhân của chiến tranh và khủng bố, của bệnh tật và đói khát, phải chăng tất cả những thứ này đang đặt đức tin của chúng ta vào sự thử thách? Một cách tương phản, sự nghi ngờ của Tôma đă trở thành rất giá trị cho chúng ta trong những trường hợp như thế bởi v́ nó giúp để thanh luyện tất cả những ư niệm sai lầm về Thiên Chúa, và hướng dẫn chúng ta khám phá ra dung mạo thật của ngài: Dung mạo của Thiên Chúa, đấng trong Đức Kitô, đấng đă mang trên ḿnh tất cả những vết thương của nhân loại thương tích. Tôma đă nhận được từ Thiên Chúa, và đến phiên ḿnh, ông đă truyền lại cho Giáo Hội, quà tặng của đức tin đặt trên sự thử thách bởi cuộc thương khó và cái chết của Đức Giêsu và xác định bằng việc gặp gỡ ngài sống lại. Đức tin của ông đă hầu như chết nhưng đă được tái sinh một lần nữa nhờ việc ông đụng chạm tới những vết thương của Đức Kitô, những vết thương mà Đấng Phục Sinh đă không dấu đi nhưng đă tỏ ra, và tiếp tục chỉ cho chúng ta trong những thử thách và đau khổ qua mỗi con người.

“Nhờ dấu tích ngài anh em được chữa lành” (1 Phêrô 2:24). Đây là một thông điệp Phêrô đă gửi cho những người tân ṭng trước đây. Những dấu tích mà từ ban đầu đă trở nên một ngăng trở đối với đức tin của Tôma, là một dấu hiệu sai lầm rơ ràng của Chúa Giêsu, nhưng cũng cùng những dấu tích ấy đă trở nên trong cuộc gặp gỡ của ông với Đấng Sống Lại, những dấu hiệu của một t́nh yêu chiến thắng. Những dấu tích mà Đức Kitô đă lănh nhận v́ t́nh yêu chúng ta giúp chúng ta hiểu Thiên Chúa là ai và để chúng ta đáp lại. “Lậy Chúa tôi. Lậy Thiên Chúa của tôi!” Chỉ duy một Thiên Chúa đấng yêu chúng ta tiếp tục mang lấy trên ngài những vết thương của chúng ta và đau khổ của chúng ta, một cách đặc biệt đau thương vô tội, mới xứng đáng để tin.

Bao nhiêu vết thương, và có bao nhiêu sự đau khổ trên thế giới này? Những thiên tai và những thảm kịch của con người đă gây ra không biết bao nhiêu nạn nhân và đă phá hủy bao nhiêu công tŕnh vẫn không thiếu. Tôi nghĩ tới những biến cố gần đây ở Madagascar, ở quần đảo Solomon, ở Châu Mỹ La Tinh, và ở mọi phần đất trên thế giới. Tôi nghĩ về căn nguyên của sự nghèo đói, của những chứng bệnh nan y, của những người bị khủng bố và bắt cóc, của hàng ngàn khuôn mặt của bạo loạn, mà một số người đă toan tính để biện hộ nhân danh tôn giáo, của việc coi thường sự sống, của việc chống lại nhân quyền và việc khai thác con người. Với sự quan tâm, tôi nh́n thấy những điều kiện đang lộ ra nơi một số nơi tại Phi Châu. Tại Darfur và những quốc gia phụ cận với tai ương, và một cách đau ḷng để nói đến t́nh trạng thiếu giá trị và nhân đạo. Ở Kinshasa thuộc Cộng Hoà Dân Chủ Công Gô bạo động và cướp bóc trong những tuần qua tạo nên những mối lo sợ cho tương lai sự phát triển nền dân chủ của Công Gô và việc tái thiết đất nước này. Ở Sômania xung đột tái diễn đă làm tiêu tan dự án ḥa b́nh và làm cho t́nh trạng khủng hoảng trong vùng trở nên tồi tệ hơn, một cách đặc biệt liên quan đến việc xua đuổi dân chúng và lưu hành vũ khí. Zimbabwe đang trong t́nh trạng khống chế của khủng hoảng trầm trọng và v́ lư do đó, những giám mục của quốc gia này trong một thông điệp gần đây đă hô hào cầu nguyện và trách nhiệm chia sẻ đối với thiện ích chung như một con đường duy nhất phải đi tới.

Cũng thế người dân của Đông Timor đứng lên trong nhu cầu ḥa giải và ḥa b́nh khi chuẩn bị để thực hiện những cuộc bầu cử quan trọng. Ở những nơi nào khác nữa mà nền ḥa b́nh thực sự cần thiết: Ở Sri Lanka chỉ có một con đường đối thoại duy nhất có thể kết thúc sự xung đột mà đă gây ra quá nhiều đổ máu; Afghanistan đuợc ghi nhận bằng việc gia tăng bất an và bất ổn; ở Trung Đông, ngoài những dấu hiệu của hy vọng về một cuộc đối thoại giữa Israel và chính quyền Palestine, không có dấu hiệu khả quan quan nào đến từ Iraq, nơi bị xâu xé bởi chết chóc không ngừng khi thành phần dân sự bỏ trốn. Ở Libăng t́nh trạng tê liệt của những cơ cấu chính trị của quốc gia đe doạ vị trí của đất nước được mời gọi để tham dự ở Trung Đông, và đẩy tương lai trở nên trầm trọng trong một t́nh cảnh ngặt nghèo. Sau cùng, tôi không thể quên những khó khăn đang gặp phải hàng ngày của những cộng đoàn Kitô hữu và sự xuất hành của những Kitô hữu khỏi miền đất được chúc phúc cũng là cái nôi của đức tin của chúng ta. Tôi lặp muốn lại một cách cảm khích đối với những người dân này bằng cách diễn tả sự gần gũi tinh thần của tôi.

Anh chị em thân mến, qua những vết thương của Chúa Kitô Phục Sinh, chúng ta có thể nh́n thấy những điều xấu xa mà chúng gây sầu khổ cho nhân loại bằng con mắt của hy vọng. Thực vậy, do cuộc phục sinh của Chúa đă xóa tan đi đau khổ và sự dữ khỏi thế giới, đă chặt tận gốc rễ chúng bằng ân sủng rất dồi dào của ngài. Ngài đă chấp nhận sự khủng khiếp của sự dữ bằng sự phi thường của t́nh yêu ngài. Ngài đă để lại cho chúng ta t́nh yêu không sợ chết, như con đường của ḥa b́nh và vui mừng. “Như thầy đă yêu thương anh em – ngài đă nói với các môn đệ trước khi chịu chết – cũng vậy anh em phải thương yêu nhau” (cf. Gioan 13:34).

Anh chị em trong đức tin, những người đang lắng nghe tôi từ mọi nơi trên khắp thế giới! Đức Kitô sống lại và ngài đang sống giữa chúng ta. Ngài là hy vọng và tương lai tươi sáng của chúng ta. Khi chúng ta cùng với Tôma nói: “Lậy Thiên Chúa. Lậy Thiên Chúa của tôi!”, ước ǵ chúng ta nghe một lần nữa trong tâm hồn vẻ đẹp của những lời mời gọi của Chúa: “Nếu những ai phụng sự ta, hăy theo ta, và ta ở đâu, người phụng sự ta cũng ở đó; v́ nếu ai phụng sự ta, Cha ta sẽ tôn vinh người ấy” (Gioan 12:26). Hiệp nhất với ngài và sẵn sàng để dâng hiến đời sống của chúng ta cho anh em ḿnh (cf. 1 Gioan 3:16), chúng ta hăy trở nên những tông đồ của ḥa b́nh, những sứ giả của niềm vui mà không sợ hăi đau khổ – niềm vui Phục Sinh. Nguyện xin Mẹ Maria, Mẹ của Chúa Kitô Phục Sinh, khẩn nài cho chúng ta ân huệ Phục Sinh này. Chúc mừng Phục Sinh tất cả anh chị em.

(Dịch từ bản Anh ngữ trên Zenit.org, ngày 8 tháng 4 năm 2007).

 

Lời Giới thiệu

 

Yêu mến Thày

hơn những người khác

 

Trần Mỹ Duyệt

 

“Simon, con ông Gioan, anh có yêu mến thầy hơn những người này không?” (Gioan 21:15).

 

Tại sao Chúa Giêsu không hỏi Phêrô: “Có yêu mến thầy không?” để cho ông dễ có câu trả lời, mà lại hỏi: “Có yêu mến thầy hơn những người này không?”

 

Để biết lư do tại sao, chúng ta cần phải nh́n lại toàn cảnh câu chuyện của Phêrô từ ngày bỏ chài lưới mà theo Chúa Giêsu cho đến khi ngài hỏi ông câu hỏi: “Simon, con ông Gioan, anh có yêu mến thầy hơn những người này không?”(Gioan 21:15).

 

Theo Thánh Kinh th́ Simon, sau này được Chúa Giêsu đổi tên cho là Phêrô, là một người nhiệt thành nhưng nóng nẩy và bộc trực. Ông đă sốt sắng và năng nổ bên Chúa mọi lúc. Ông đă thay mặt cho anh em trong nhóm 12 người theo Chúa lúc ban đầu trả lời ngài nhiều câu hỏi, và được ngài rất hài ḷng. Thí dụ, khi ngài muốn biết các ông nghĩ ǵ về ngài,  Phêrô đă nhanh nhẩu thưa: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Matthêu 16:16), một câu trả lời khiến đến Chúa Giêsu cũng phải bỡ ngỡ. V́ theo ngài, xác thịt không thể nào biết được, ngoại trừ Chúa Cha trên trời mặc khải cho mới biết được. Hoặc khi, có những anh em muốn bỏ Chúa, th́ ngài cũng thăm ḍ ư kiến của Phêrô. Những lúc đó, ông đă thẳng thắn trả lời ngay: “Bỏ thầy, chúng tôi đi với ai? Thầy có lời ban sự sống đời đời” (Gioan 6:68). Rồi trong những lúc có những chuyện thử thách, trường hợp Chúa đến với các ông trên biển, trong khi mọi người sợ hăi, hốt hoảng, Phêrô đă mạnh dạn thưa với Chúa: “Nếu phải là thầy, th́ cho tôi đi trên biển để đến với thầy” (Matthêu 14:28).

 

Với ḷng sốt sắng, ông đă mạnh dạn can ngăn Chúa đừng đi chịu chết, và bị ngài quở trách gọi ông là quỷ: “Satan hăy lui ra” (Matthêu 16:23). Không hề buồn giận, và v́ thế khi có dịp ông lại bày tỏ thái độ của ḿnh với Chúa, như trường hợp ông đă đề nghị xin ở lại với Chúa trên núi giữa những vinh quan sáng láng của ngài.

 

Tuy thề hứa cùng chết với ngài, nhưng rồi cơn cám dỗ đến, cũng chính ông lại nhanh nhẩu chối không biết ngài.

 

Con người của Phêrô là như thế. Như một cuốn sách mở, với những trang chữ viết rơ ràng mà ai cũng có thể đọc được. Chính v́ thế, mà ông đă được Chúa yêu thương.

 

“Anh yêu mến thầy hơn những người này không?”Cái làm cho Chúa Giêsu thương Phêrô hơn là t́nh yêu nóng nẩy và nhiệt t́nh của ông. Và cái làm cho Chúa Giêsu đôi lúc như “khó chịu” với ông cũng chính là t́nh yêu nóng nẩy và nhiệt t́nh của ông. Ông yêu Chúa, yêu thầy bằng với tất cả con tim, linh hồn, và thân xác: “Dù có phải liều mạng v́ thầy” (Matthêu 14:31).  Đó là lời ông đă từng tuyên bố. Nhiều khi t́nh yêu ấy đến chỗ ngây thơ, ngớ ngẩn: “Lậy thầy, được ở đây th́ sướng lắm. Nếu thầy muốn tôi sẽ dựng ba lều, một cho thầy, một cho Êlia, và một cho Maisen” (Matthêu 17:4). Hoặc có lần ông đang ḿnh trần thả lưới, nghe nói đó là Chúa, th́ ôm quàng tấm áo nhẩy xuống biển để đến với ngài.

 

Nhưng t́nh yêu, dù là t́nh yêu nóng nẩy, bộc trực, và nhiệt thành như t́nh yêu của Phêrô cũng cần phải tôi luyện trong đau thương, thử thách, và ngay cả trong những thất bại, thống hối ăn năn. Nó cần phải được minh chứng một cách hết sức rơ ràng, cụ thể bằng hành động.

 

Chúa Giêsu nh́n thấy nơi ông, tính nhiệt thành, hăng say và ḷng sốt sắng, nồng nàn do t́nh yêu đối với ngài. Nhưng về đường dài, Phêrô cũng cần phải cẩn trọng và bền bỉ hơn với t́nh yêu này, và v́ thế ngài đă phải gạn hỏi ông đến 3 lần: “Anh có yêu mến thầy hơn những người này không?” (Gioan 21:15). Mến thầy th́ chưa đủ, mà phải mến hơn mới đủ.

 

Chúa biết Phêrô yêu ngài. Nhưng Chúa cũng biết Phêrô yếu đuối, và v́ thế những lời hứa trang trọng như thế sẽ có một âm hưởng cần thiết như một sự nhắc nhớ ông sau này về những điều mà chính ông đă thề hứa. Cũng như các cặp t́nh nhân khi mới gặp nhau, quen nhau và yêu nhau họ hứa hẹn đủ điều. Những lời hứa ấy thật nhiều và thật trang trọng, chân thành, nhưng rồi với thời gian, nó cứ rơi rụng đi dần dần và để rồi trong nhiều trường hợp, nó đă lịm tắt trong tim, trong ḷng nhiều người. Và đó là lư do tại sao Chúa Giêsu muốn Phêrô phải lặp lại t́nh yêu mến của ông đối với ngài. 

 

Chúa thương Phêrô cũng như thương mọi người chúng ta. Và hôm nay, qua Phêrô, ngài cũng muốn hỏi mỗi người chúng ta một câu hỏi tương tự như đă hỏi Phêrô: “Duyệt! Con có yêu mến thầy hơn những người này không?”. Hoặc: “Nhuệ! Con có yêu mến thầy hơn những người này không?” Hay: “Cẩm Tú! Con có yêu mến thầy hơn những người này không?” Và dĩ nhiên, là chúng ta thưa có. Nhưng rồi yêu mến hơn, tức là phải chứng minh bằng nhiều hơn trong những hy sinh, thách đố, và đau khổ.

 

Hơn ai? Đối với Phêrô là hơn những Tông Đồ khác. Hơn những người đang theo ngài lúc bấy giờ và sau này. C̣n đối với chúng ta, hơn những người thân trong gia đ́nh. Hơn những bạn hữu mà ta giao thiệp thường ngày. Hơn những người cùng sở, cùng giáo xứ. Để chi vậy. Không phải để so sánh và tự cho ḿnh yêu Chúa hơn ai, nhưng đó chính là một h́nh ảnh chứng nhân cần thiết. Bởi v́ chúng ta cần phải trở nên những chứng nhân đích thực của Chúa Giêsu. Không phải yêu hơn, mến hơn để được làm giáo hoàng như Phêrô, nhưng yêu hơn, mến hơn để Chúa được tôn vinh hơn, được nhiều người nhận biết và tôn thờ hơn. Và để chính chúng ta được cảm nhận cái t́nh yêu khôn tả từ trái tim rất yêu dấu của Chúa.

 

“Simon, con ông Gioan, anh có yêu mến thầy hơn những người này không?” Chúa cũng đang muốn hỏi tôi, hỏi bạn, hỏi mỗi người chúng ta câu hỏi tương tự. Phần chúng ta mỗi người hăy t́m câu trả lời cho ngài. Nhưng nên nhớ một điều, khi ta nói yêu và mến ngài, cũng là nói với ngài rằng, chúng ta sẵn sàng chấp nhận mọi đau thương, thử thách, và hy sinh. Và khi nói yêu mến hơn những người này, th́ cũng có nghĩa là phải hy sinh, chịu khó, và chấp nhận hơn nếu Chúa muốn, để làm chứng nhân cho ngài trong chính cuộc đời ḿnh.

 

Lời Giới thiệu