Tâm Linh Vào Đời
Cuộc đời vào Tâm Linh khi tăn trở đặt thành vấn đề: Thày đi đâu vậy? qua câu chuyện “Ông nói gà, bà nói vịt”
Tâm linh vào đời khi thực hiện lời Chúa nhẳn nhủ: Hăy thương yêu nhau như Thầy đă vêu thương anh em
Tâm linh cũng đi vào đời qua chia sẻ kinh nghiệm của giáo hoàng Bênêdictô
Đời tận hiến là ở sự phục vụ cho Hiệp nhất
Cuộc đời lại đi vào Tâm Linh khi độc giả muốn nghiên cứu chủ đề Giải Thoát Luận theo quan niệm Phật Giáo
Cuối cùng Tâm Linh quả thực ảnh hưởng rất nhiều tới cuộc sống thường ngày. Đa số bác sĩ Mỹ đồng ư rằng:
Tâm Linh ảnh hưởng tới Sức khỏe
Đức Giêsu – một chuyện viên lái sang Tâm Linh một cách rất tự nhiên, trong khi các môn đệ lại chỉ suy nghĩ theo thực tế với con mắt nhân loại.
Chúng ta cùng nhau xem lại cảnh “ông nói gà, bà nói vịt” xoay quanh chủ đề: Thày đi đâu vậy?
Đức Giêsu mở đầu bằng những lời lẽ đầy vẻ bí hiểm:
Thầy c̣n ở với anh em một ít lâu nữa thôi. Anh em sẽ t́m kiếm Thầy ; nhưng như Thầy đă nói với người Do-thái : ‘Nơi tôi đi, các người không thể đến được’, bây giờ, Thầy cũng nói với anh em như vậy.
Thắc mắc chịu không thấu,
Ông Si-môn Phê-rô nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, Thầy đi đâu vậy ?”
Đức Giê-su trả lời : “Nơi Thầy đi, bây giờ anh không thể theo đến được ; nhưng sau này anh sẽ đi theo.”
Phêrô tưởng Thày sắp sửa lên đường tử nạn, nên ông ưỡn ngực tự hào:
“Thưa Thầy, sao con lại không thể đi theo Thầy ngay bây giờ được ? Con sẽ thí mạng con v́ Thầy !”
38 Đức Giê-su đáp : “Anh sẽ thí mạng v́ Thầy ư ? Thật, Thầy bảo thật cho anh biết : gà chưa gáy, anh đă chối Thầy ba lần.
Quả thật, Phêrô đă lạc đề mất rồi. Điều Đức Giêsu muốn nói không phải là việc đi chịu tử h́nh mà chính là: Về với Cha
1
Anh em đừng xao xuyến ! Hăy tin vào Thiên Chúa
và tin vào Thầy.
2 Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở ; nếu không, Thầy đă nói với anh em rồi, v́
Thầy đi dọn chỗ cho anh em.
3 Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, th́ Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để
Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.
4 Và Thầy đi đâu, th́ anh em biết đường rồi.”
Lại một cảnh “ông nói gà, bà nói vịt” diễn ra: V́ ông Tôma lúc đó hoàn toàn mù tịt chẳng biết Thầy ḿnh sẽ đi tới đâu. Ông ta mường tượng ra một chốn xa xôi huyền nhiệm nào đó. V́ thế…
…..Ông Tô-ma nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao biết được đường ?”
6
Đức Giê-su đáp : “Chính Thầy là con đường, là
sự thật và là sự sống. Không ai có thể đến với
Chúa Cha mà không qua Thầy.
7 Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết
Cha Thầy. Ngay từ bây giờ,
anh em biết Người và đă thấy Người.”
Ông Philipphê cứ tưởng rằng: khi Chúa Cha hiện ra, chắc Ngài sáng rực như mặt trời cùng vời triều thần thánh oai phong, ..
Nên ông Philipphê năn nỉ với Đức Giêsu tỏ vinh quang uy quyền của Chúa Cha cho để ông chiêm ngưỡng một phen cho thỏa thích. Rất có thể ông Phêrô hay Gioan trong một phút bốc đồng đă bật mí cảnh tưởng huy hoàng của Chúa Cha với tiếng sấm vang dội giữa đám mây chói ḷa trên núi Tabor trong biến cố biến h́nh của Đức Giêsu. Cho nên Ông Philipphê nhanh tay chớp cơ hội xin Đức Giêsu thực hiện điều ḿnh đă ấp ủ bấy lâu nay.
“Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con măn nguyện.”
Không ngờ, ngoài sự dự đoán của tất cả các ông, Đức Giêsu thay v́ tỏ uy quyền của Chúa Cha, Ngài quay ra trách mắng các ông , đặc biệt Ngài chĩa mũi dùi vào ông Philipphê
9
Đức Giê-su trả lời : “Thầy ở với anh em bấy
lâu, thế mà anh Phi-líp-phê, anh chưa biết Thầy ư ? Ai
thấy Thầy là thấy Chúa Cha.
Sao anh lại nói : ‘Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha’ ?
10 Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa
Cha ở trong Thầy sao ? Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự ḿnh nói ra.
Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của ḿnh.
Câu chuyện “ông nói gà, bà nói vịt” tới đây tạm kết thúc.
Th́ ra cho tới lúc này Đức Giêsu mới trả lời rơ ràng câu hỏi: Thày đi đâu? –
Nơi Ngài tới chính là Thày về với Chúa Cha
Câu trả lời có vẻ mâu thuẫn
Một đàng, dường như ư của Đức Giêsu là SẼ về với Chúa Cha. Có nghĩa là bây giờ th́ chưa. Cứ như thể Chúa Cha ở măi phương trời xa xôi nào đó. Cụ thể chúng ta có thể hiểu đó là nước Trời – Thiên Đàng mai sau.
Đàng khác, chỉ trong vài phút, Đức Giêsu lại khẳng định Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đă thấy Người.
Tại sao lại có chuyện mâu thuẫn như vậy?
Theo nghĩa đen, quả là mâu thuẫn mười mươi, nhưng như đă nói trong lời giáo đầu: Đức Giêsu – một chuyện viên lái sang Tâm Linh một cách rất tự nhiên
Xét về con người thân xác, quả thật đúng là Đức Giêsu SẼ về với Chúa Cha.
Nhưng với ánh mắt Tâm Linh, th́ không có chuyện SẼ mà là Ngay Bây Giờ - từ muôn thủa – măi măi
Lư do: Đức Giêsu ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Đức Giêsu đến nỗi thân xác Đức Giêsu như là một dụng cụ - một phương tiện để chính Chúa Cha thực hiện công tŕnh của Người.
Chúng ta nghe lại lời chính Đức Giêsu xác tín:
Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao ? Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự ḿnh nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của ḿnh.
Chúng ta cũng vậy,
Xét về con người thân xác, quả thật đúng là chúng ta SẼ về với Chúa Cha.
Nhưng với ánh mắt Tâm Linh, th́ không có chuyện SẼ mà là Ngay Bây Giờ - từ muôn thủa – măi măi
Lư do: mỗi người trong chúng ta ở trong Chúa và Chúa ở trong mỗi người đến nỗi thân xác mỗi người như là một dụng cụ - một phương tiện để chính Chúa Cha thực hiện công tŕnh của Người.
Có như thế khi đọc Kinh Thánh, chúng ta mới không rơi vào cảnh “ông nói gà, bà nói vịt”. Lời Chúa nói một đàng – theo nghĩa Tâm Linh - chúng ta lại hiểu theo nghĩa nhân loại. Thật đáng tiếc biết bao!!!
(Gian 13. 31-35)
I. VÀI DIỀM CHÚ GIẢI:
1.Tiếng hô thắng trận.
Nằm ở giữa việc Đức Giêsu rửa chân và điền từ sau tiệc ly, trong đó, nhiều ư tường lớn được Đức Giêsu đề cập đến, đoạn tin Mừng này bắt đầu, ngay khi Giuđa vừa đi khỏi, bằng tiếng hô thắng trận của Đức Giêsu: "Giờ đây, Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người” X. Léon-Dufour chú giải: ." Từ lúc này trở đi, Đức Giêsu thấy cái chết đă theo ngay sau Người, Người cảm thấy được Thiên Chúa tôn vinh. Độc giả cũng phải sống viễn cảnh ấy và lắng nghe . Đức Kitô vinh quang lên tiếng”.
Tác giả đoạn chú giải vừa rồi viết tiếp:Từ “giờ đây” đánh dấu một thời điểm. Nó diễn tả một xác tín thuở đầu. Phục sinh xác định một giai đoạn mới. Vượt qua cái chết, "giờ đây” , Đức Giêsu bước vào một khúc rẽ nhiệm mầu, bỏ lại sau những điều kiện b́nh thường của con người bị lệ thuộc vào thời gian, nghĩa : là hiện tại chỉ phát xuất từ một quá khứ và hướng tới một tương lai mờ mịt. Từ giờ trở đi, hiện tại của Đức Giêsu là một hiện diện vĩnh cửu trong vinh quang Thiên Chúa”. (“Lecture de Evangile selon saint Jean, quyển III, Seuil, trg 50-51)
Hiện tại chỉ phát xuất từ một quá khứ và hướng tới một tương lai mờ mịt. Thực ra không phải vậy. Cái giây phút “Giờ Đây” thực ra rất tuyệt vời v́ nó là thời điểm
Khỏi bị xét xử, nhưng đă từ cơi chết bước vào cơi sống. (Ga 5:24)
Chúa đă gọi anh em ra khỏi miền u tối, vào nơi đầy ánh sáng diệu huyền. (1Pr 2:9)
V́ thế chúng ta có thể viết lại như sau Hiện tại phá tan quá khứ tối tăm thuộc vương quốc Satan và hướng tới một tương lai tươi sáng vĩnh cửu trong niềm vui kết hợp nên một vối Chúa.
Một hiện diện vĩnh cửu trong vinh quang Thiên Chúa dễ gây cho chúng ta một hiểu lầm rất lớn. Chúng ta cứ tưởng rằng vinh quang ở đây mang ư nghĩa đầy ánh sáng chói ḷa như trên núi Sinai thủa xưa. Và ánh vinh quang này rất siêu phàm, chúng ta không thể tưởng tưởng nổi – hoặc là chúng ta lại cho rằng phải đợi măi cho tới sau khi chết đi, chúng ta mới được chiêm ngắm vẻ mặt vinh quang của Thiên Chúa trong Nước Trời. Thực ra vinh quang này rất đơn giản và gần gũi đến nỗi chúng ta có thể bỏ quách từ Vinh Quang vớ vẩn, dễ gây hiểu lầm này đi. V́ vậy, chúng ta có thể viết gọn lại như sau: Từ giờ trở đi, hiện tại của Đức Giêsu là một hiện diện vĩnh cửu trong Thiên Chúa.
Hẳn là chúng ta c̣n nhớ rất rơ lời nguyện của Đức Giêsu trước khi lên đường tử nạn – có thể được coi như lời di chúc – Con trong Cha – Cha trong Con – Con trong họ - họ trong Con – họ trong Chúng Ta như chúng ta là Một. Ở trong nhau quan trọng hơn cả triệu lần vinh quang và vinh quang. Nhận ra sự hiện diện của Chúa để sống kết hiệp nên một với Chúa c̣n giá trị hơn cả vạn lần quỳ xuống mà nh́n ngắm vinh quang Chúa!! Chiêm ngắm vinh quang Chúa mà không sống trong Chúa th́ có ich lợi ǵ đâu??
2. Từ “như” chỉ một cội nguồn.
Người ta thường trích lời Đức Giêsu: "Các con hăy thương yêu nhau ", nhưng lại hay bỏ nửa sau "như Thầy đă yêu thương các con”. Và nhiều người coi từ "như" này như một liên từ so sánh: các môn đệ được kêu gọi để bắt chước sự xử thế của Thầy ḿnh.
Nhưng, liên từ "như" này của bản văn Tin Mừng không chỉ biểu thị sự so sánh, mà c̣n biểu thị nguồn gốc của t́nh yêu mà Đức Giêsu đ̣i hỏi nơi các môn đệ ḿnh, có thể di dịch: " Các con hăy yêu thương nhau, theo như Thầy đă yêu thương các con”, hoặc ... “Các con hăy yêu thương nhau...v́ Thầy đă yêu thương các con để các con yêu thương nhau như Thầy". Hoặc "Các con hăy thương yêu nhau bằng t́nh yêu mà Thầy đă yêu thương các con”. X. Léon-Dufour chú giải: "t́nh yêu của Chúa Con đối với các môn đệ làm phát sinh ḷng bác ái nơi các ông. Chính t́nh yêu của Người lưu chuyển đến họ làm cho họ yêu thương anh em, và họ được mến yêu. T́nh yêu của Đức Giêsu triển nở nơi các tín hữu mang dấu ấn t́nh yêu Chúa Cha". (Sđd, trg 82-83).
3. Tính cách mới mẻ của giới luật yêu thương.
Yêu đồng loại. Cựu ước đă biết đến đ̣i hỏi này. Các triết gia ngoại giáo trước Đức Giêsu đă rao giảng t́nh yêu tha nhân, cả đến t́nh yêu đối với thù địch.
Thế th́, tính cách mới mẻ trong giới răn yêu thương huynh đệ của Đức Giêsu là ǵ? Điều mới mẻ này chính là nơi bản chất của t́nh yêu huynh đệ mà các môn đệ Đức Giêsu thể hiện: đó là t́nh yêu của chính Đức Giêsu thể hiện nơi họ. X.Léon-dufour kết luận: "Một kỷ nguyên mới đă khởi đầu. Qua các môn đệ của Chúa Con mà t́nh yêu mạc khải từ nay hiện diện trong nhân loại... t́nh yêu nhau giữa các môn đệ sẽ tỏ bày cho mọi người, - nghĩa là cho cả những người lân cận chưa tin - họ thuộc về Đức Kitô và nhờ Người mà nhân loại vượt qua cái chết để tới sự sống. " (Sđd, trg 84-85).
II. BÀI ĐỌC THÊM:
1.Hăy làm cho giới luật yêu thương sáng lên
(L. sintas, trong “parole de Dieu pour la méditation et I’homélie", Médiaspaul, Trg 57).
Từ nay, qua việc chăm sóc người bất hạnh, người nghèo, Giáo Hội và các cộng đoàn tỏ bày t́nh thương của Thiên Chúa đối với con người và đồng thời tỏ bày ư hướng cứu rỗi họ. Phải, Giáo Hội đă nhận lănh sứ mệnh đem vào hiện hữu và lịch sử con người một luật có khả năng làm sống động nhân loại bằng chính sự sống của Thiên Chúa. Luật ấy là thế này: Hăy thương yêu nhau như Thầy đă vêu thương các con. Thiên Chúa biết thời đại chúng ta đang kêu gào lớn tiếng một luật sống khác với luật sống của máu lửa, sắt thép đang huỷ diệt khắp chốn. Hăy biết khiêm tốn để làm sáng lên trong đời chúng ta, trong nhiệm vụ của chúng ta, trong gia đ́nh, cơ quan, nơi vui chơi giải trí, trong lănh vực kinh tế, chính trị, một chút ǵ đó của giới luật yêu thương.
2. T́nh yêu bác ái, lời giảng đầu tiên của việc Phúc âm hóa
(F. Deleclos, “Prends et mange chaque Dimanche la parole” Centurion-duculot, trg 208-209)
Chỉ vương quyền bác ái mới có thể thay đổi thế giới, mới biến hận thù thành yêu thương, chiến tranh thành ḥa b́nh
Chỉ “hăy yêu thương nhau như Thầy đă thương yêu các con” mới có thể tạo lập một mẫu người và xă hội huynh đệ. Bác ái không thể định nghĩa được bằng ngôn từ cảm tính hay sùng mộ. Olivier Clément viết: Bác ái “không phải là đường mà là muối”. Ngôn từ của bác ái “không phải là bạc nhược, nhưng là tự chủ và dũng cảm “. Thế giới này nghĩ bác ái là điều khó và thậm chí không thể thực hiện được. Bác ái đích thực không tránh né bạo lực, mà là chuyển đổi nó thành sự phấn đấu trong cuộc sống, là tạo lập công b́nh và Thẩm Mỹ.
T́nh yêu-bác ái là công tŕnh của ḷng tin, là dấu chỉ hữu h́nh và cần thiết để chứng tỏ sự thuộc về Đức Kitô Phục Sinh. Nó là lời giảng đầu tiên của việc Phúc âm hóa, là sự hiện diện trước tiên có thể cảm nhận được của Đức Kitô.
Nền văn minh t́nh yêu là một mầm cây được trồng nơi thửa đất gọi là Giáo Hội, là đầu cầu dẫn vào vương quốc, với điều kiện là trước hết, các Kitô hữu phải tập và có kinh nghiệm yêu thương nhau, rồi mới có thể yêu thương mọi người.
T́nh yêu bác ái là năng lực vô song làm cho con người và xă hội có được sức sống mới. Cuộc viếng thăm một hội đường Do Thái ở Rôma của Đức Giáo Hoàng đă nhắc nhở chúng ta điều này. Công cuộc giải phóng của Kitô giáo phải hoàn toàn được hướng dẫn bởi tính năng động của giới luật yêu thương vĩ đại này.
Thông Điệp Ngày Thế Giới Cầu Cho Ơn Thiên Triệu Lần Thứ 44
Của Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI
Từ Vatican, 10 tháng 2 năm 2007
Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI
Chuyển ngữ: Trần Mỹ Duyệt
Qúi huynh đáng kính trong Hàng Giáo Phẩm
Anh Chị Em thân mến,
Ngày Thế Giới Cầu Cho Ơn Thiên Triệu hằng năm là một dịp thích hợp để nhấn mạnh đến tầm quan trọng của ơn thiên triệu trong đời sống và sứ vụ của Giáo Hội, cũng như việc gia tăng lời cầu xin của chúng ta để phát triển ơn thiên triệu về phẩm cũng như lượng. Về ngày cử hành tới đây, tôi muốn kéo sự chú tâm của toàn thể dân Chúa vào chủ đề, mà nó đang trở thành thời sự hơn bao giờ hết: Ơn gọi như sư hiệp nhất phục vụ Giáo Hội.
Năm ngoái, trong những cuộc triều yết chung hằng tuần vào mỗi Thứ Tư, tôi đă bắt đầu loạt bài giáo lư nhấn mạnh đến mối liên hệ giữa Đức Kitô và Giáo Hội. Tôi đă cho thấy rằng cộng đồng Kitô hữu đầu tiên đă được xây dựng, trên cái tâm chính của nó, khi một số ngư phủ người Galilêa đă gặp gỡ Đức Giêsu, và đă để ḿnh bị chinh phục bởi cái nh́n và tiếng nói của ngài, và đă chấp nhận lời mời gọi thiết tha của ngài: “Hăy theo tôi và tôi sẽ làm cho các anh trở thành những kẻ chài lưới người!” (Mk 1:17; cf. Mt 4:19). Thực vậy, Thiên Chúa luôn luôn chọn lựa một số người để cộng tác với ngài trong một cách thế trực tiếp hơn, để hoàn thành dự án cứu độ của ngài. Trong Cựu Ước, từ buổi ban đầu, ngài đă gọi Abraham để h́nh thành một “dân tộc vỹ đại” (Gn 12:2); sau đó, ngài đă gọi Maisen để giải thoái dân Do Thái khỏi ách nô lệ Ai Cập (cf. Ex 3:10). Sau nữa, ngài đă chọn lựa những người khác, một cách đặc biệt là những ngôn sứ để giải thích và làm sống lại giao ước với dân ngài. Trong Tân Ước, Đức Giêsu, Đấng Thiên Sai Mong Đợi, đă mời gọi mỗi người trong số các Tông Đồ đến với ngài (cf. Mk 3:14), và chia sẻ sứ vụ của ngài. Tại Bữa Tiệc Ly, trong khi trao cho họ nhiệm vụ phải nhớ đến cái chết và sự phục sinh của ngài cho đến khi ngài trở lại trong vinh quang vào thời kỳ cuối thời, ngài đă dâng lên Chúa Cha lời nguyện thắm thiết sau đây cho họ: “Con đă tỏ danh Cha cho họ, và con sẽ c̣n tỏ ra cho nọ nữa, để t́nh yêu Cha dành cho con ở trong họ, và Con ở trong họ” (Jn 17:26). Sứ vụ của Giáo Hội, v́ thế, được thiết lập trên sự kết hợp mật thiết và tin tưởng với Thiên Chúa.
Hiến Chế Lumen Gentium của Công Đồng Chung Vaticanô II diễn tả Giáo Hội như “một dân tộc được làm nên một với sứ hiệp nhất của Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần” (n. 4), trong đó phản chiếu mầu nhiệm của Thiên Chúa. Điều này có nghĩa là t́nh yêu của Thiên Chúa Ban Ngôi được phản ảnh trong Giáo Hội. Hơn nữa, nhờ công việc của Chúa Thánh Thần, mọi phần tử của Giáo Hội h́nh thành nên “một thân thể và một tinh thần” trong Đức Kitô. Dân tộc này, được cấu trúc ngay từ ban đầu dưới sự hướng dẫn của các Mục Tử của nó, sống mầu nhiệm hiệp thông với Thiên Chúa và với anh em ḿnh, một cách đặc biệt, khi họp nhau cử hành Thánh Lễ. Thánh Lễ là suối nguồn nơi đó sự hiệp nhất giáo hội mà Đức Giêsu đă cầu nguyện cho trong buổi chiều thương khó của ngài: “Lậy Cha.... để họ cũng trở nên một trong chúng ta, để thế gian tin rằng cha đă sai con” (Jn 17:21). Đây là sự kết hợp cần thiết nuôi dương sự phát triển những ơn gọi quảng đại cho việc phục vụ Giáo Hội: trọng tâm của mọi người tin theo, đầy tràn t́nh yêu thần linh, được tác động để tận hiến chính ḿnh một cách trọn vẹn cho mục đích của Vương Quốc. V́ vậy, để phát triển ơn gọi, tầm quan trọng mà tác vụ mục vụ là quan tâm đến mầu nhiệm của Giáo Hội trong hiệp nhất; bởi v́, những ai sống trong cộng đồng giáo hội, một cộng đồng ḥa hợp, đồng trách nhiệm, và tận tâm, đều học được một cách dễ dàng để nhận ra lời mời gọi của Thiên Chúa. V́ thế, việc quan tâm đến ơn gọi đ̣i hỏi một “nền giáo dục” liên tục cho việc lắng nghe tiếng của Thiên Chúa. Đó là những ǵ mà Êli đă làm, khi vị thượng tế này giúp trẻ Samuen hiểu những ǵ Thiên Chúa đang đ̣i hỏi cậu để có hành động đáp trả một cách nhanh chóng (cf. 1 Sam 3:9). Ngày nay, việc dễ dậy và lắng nghe một cách tin tưởng chỉ có thể t́m được duy nhất trong bầu khí hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa mà nó được nhận thức một cách chính cốt trong lời cầu nguyện. Dựa vào lệnh truyền rơ ràng của Chúa, chúng ta phải trước hết, cùng nhau khẩn cầu cho ơn gọi một cách không mệt mỏi “cho mùa màng của Thiên Chúa”. Lời mời gọi được đặt ở số nhiều: “V́ thế, hăy cầu xin Chúa ruộng sai thêm thợ gặt đến thu hoặch mùa màng” (Mt 9:38). Lời mời gọi này của Chúa phù hợp một cách khéo léo với cách thức trong kinh “Lậy Cha” (Mt 6:9), lời cầu nguyện mà ngài đă dậy chúng ta, làm nên một “tổng hợp của toàn bộ Tin Mừng”, theo sự diễn giải tuyệt vời của giáo phụ lừng danh Tertulian (cf. De Oratione, 1,6:CCL I, 258). Qua lối nh́n này, là một lối diễn tả khác nữa lời của Chúa Giêsu: “Nếu hai người trong anh em ở dưới đất hợp ư cầu xin bất cứ điều ǵ, Cha thầy trên trời sẽ ban cho điếu đó” (Mt 18:19). V́ thế, Đấng Chăn Chiên Lành mời gọi chúng ta cầu xin với Cha trên trời, cầu nguyện không mệt mỏi, và thiết tha để ngài có thể sai thêm ơn gọi để phục vụ Giáo Hội trong hiệp nhất.
Gặt hái kinh nghiệm mục vụ trong những thế kỷ đă qua, Công Đồng Chung Vaticanô đă nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc đào tạo các linh mục tương lai về sự hiệp thông đích thật trong giáo hội. Trong mối quan tâm này, chúng ta đọc thấy trong Presbyterorum ordinis: “Hành xử vai tṛ của Đức Kitô, người mục tử và làm đầu, do việc chia sẻ quyền hành của ḿnh, vị linh mục, nhân danh Giám Mục, tập họp gia đ́nh của Thiên Chúa, cùng nhau như t́nh anh em được khích lệ bởi một thần trí. Qua Đức Kitô, các vị hướng dẫn họ trong Thánh Thần để đến với Thiên Chúa là Cha” (n.6). Tông Huấn Pastores dabo vobis hậu công đồng c̣n vang vọng thông điệp này của Công Đồng, khi nhấn mạnh rằng linh mục là “người phục vụ sự hiệp nhất của Giáo Hội – bởi v́ – trong t́nh hiệp thông với Giám Mục và một cách gần gũi liên hệ với giáo hội – xây dựng sự hiệp nhất của cộng đồng Giáo Hội trong qua nhiều ơn gọi , đoàn sủng, và phục vụ khác nhau” (n.16). Nhiệm vụ của Giám Mục và linh mục là cổ vơ sự hiệp nhất này trong t́nh hiệp thông với các ơn gọi và phục vụ khác trong Giáo Hội. Đời sống tận hiến nữa, tự bản chất của nó là phục vụ cộng đồng, như đă được nhấn mạnh bởi vị tiền nhiệm đáng kính của tôi, Gioan Phaolô II trong Tông Huấn Vita Consecrata hậu công đồng: “Đ̣i hỏi của t́nh huynh đệ như một h́nh thức chứng nhân cho Thiên Chúa Ba Ngôi. Bởi việc liên tục gia tăng t́nh yêu huynh đệ, cũng như trong h́nh thức của đời sống chung, đời thánh hiến đă cho thấy sự chia sẻ mối hiệp thông của Ba Ngôi Thiên Chúa có thể thay đổi những mối tương quan và tạo nên một h́nh thái mới của sự liên đới” (n.41).
Tại trung tâm của mỗi cộng đoàn Kitô Hữu là Thánh Lễ, nguồn mạch và cung cấp sức sống của Giáo Hội. Những ai đặt ḿnh dưới sự phục vụ Tin Mừng, nếu sống Thánh Lễ, sẽ thăng tiến t́nh yêu của Thiên Chúa và tha nhân, và v́ thế đóng góp vào việc xây dựng Giáo Hội trong sự hiệp thông. Chúng ta có thể xác quyết rằng “ḷng yêu mến Thánh Lễ” thôi thúc và t́m kiếm hành động ơn gọi của toàn thể Giáo Hội, bởi v́ như tôi đă viết trong Thông Điệp Thiên Chúa Là T́nh Yêu, ơn gọi linh mục và những ơn gọi phục vụ khác nhau nuôi dưỡng trong dân Chúa bất cứ nơi nào ở đó có những người mà Đức Kitô có thể được nh́n thấy qua Lời của ngài, trong những bí tích và đặc biệt trong Thánh Lễ. Bởi v́ “trong Phụng Vụ Giáo Hội, trong lời nguyện xin của giáo hội, trong đời sống hiệp thông của những kẻ tin theo, chúng ta cảm nhận được t́nh yêu Thiên Chúa, chúng ta nhận thức sự hiện diện của ngài và v́ thế chúng ta học để nhận biết rằng sự hiện diện đó trong đời sống thường ngày của chúng ta. Ngài yêu thương chúng ta trước hết và c̣n tiếp tục yêu thương như vậy, để chúng ta nữa, có thể đáp trả bằng t́nh yêu” (n.17).
Sau cùng, chúng ta hăy đến với Đức Maria, đấng đă nâng đỡ cộng đoàn đầu tiên ở đó “tất cả thành một chuyên cần cầu nguyện” (Act 1:14) nhờ đó người có thể phù giúp Giáo Hội của thế giới hôm nay để trở thành dấu chỉ của Thiên Chúa Ba Ngôi, một dấu ấn hùng hồn của t́nh yêu thánh thiện đối với mọi người. Ước ǵ Mẹ Maria, đấng đă nhanh chóng đáp lại lời mời gọi của Chúa Cha, khi thưa rằng: “Này tôi là nữ tỳ của Thiên Chúa” (Lc 1:38), cầu bầu để dân Chúa không thiếu hụt các người phục vụ của niềm vui thánh thiện: các linh mục, những người trong liên kết với Giám Mục, công bố Tin Mừng một cách đầy tin tưởng và cử hành các bí tích, lo lắng cho dân Chúa, và sẵn dàng để phúc âm hóa toàn nhân loại. Xin mẹ bảo đảm, ngay trong thời đại của chúng ta, sự tăng trưởng số lượng những người tận hiến, những tâm hồn đi nguợc lại với trào lưu hiện tại, sống với lời khuyên của tin mừng là nghèo khó, thanh khiết, và tuân phục, và làm chứng về Đức Kitô và sứ điệp giải thoát của ơn cứu độ.
Anh chị em thân mến, những người Chúa mời gọi bằng những ơn gọi đặc biệt trong Giáo Hội. Tôi muốn tín thác anh chị em cách đặc biệt cho Mẹ Maria, để người, hơn bất cứ ai hiểu biết ư nghĩa của những lời của Chúa Giêsu: “Mẹ và anh em ta là những kẻ nghe và thực hành lời Thiên Chúa” (Lk 8:21), dậy anh chị em biết lắng nghe lời Con chí thánh của mẹ. Nguyện xin mẹ giúp anh chị em để nói lên bằng chính cuộc sống của anh chị em: “Lậy Chúa. Này con xin đến để thực thi ư Chúa” (cf. Heb.10:7). Bằng với những tâm t́nh này, tôi bảo đảm với từng anh chị em rằng tôi nhớ đến từng anh chị một cách đặc biệt qua lời cầu nguyện, và với tấm ḷng ưu ái tôi chúc lành cho tất cả anh chị em.
Từ Vatican, 10 tháng 2 năm 2007
Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI
ĐẠI THỪA PHẬT GIÁO TƯ TƯỞNG LUẬN
Tác Giả: Kimura Taiken
Hán Dịch: Thích Diễn Bồi - Việt Dịch: Thích
Quảng Độ
Xuất Bản: Viện Đại Học Vạn Hạnh 1969 - Phật
Học Viện Quốc Tế, USA 1986
CHƯƠNG THỨ HAI
TIẾT THỨ HAI: Ư NGHĨA VÀ CÁC LOẠI GIẢI-THOÁT-QUAN ẤN ĐỘ.
1- Nguồn gốc của tư tưởng giải thoát:
Tư tưởng giải thoát đó đă phát xuất ở Ấn Độ từ thời nào? Dĩ nhiên nó đă ngấm ngầm manh nha từ rất sớm rồi.
Vào thời đại Lê-Câu-Về-Đà (Rg-Veda), đại biểu tư tưởng tối cổ của Ấn Độ, nghĩa là vào khoảng 1500-1000 năm trước Công-nguyên, tư tưởng giải thoát hầu như vẫn chưa biểu hiện một cách rơ ràng. Vào thời đại đó, người Ấn Độ cổ đại (nếu có) định cư tại khu vực Ngũ-Hà, tính t́nh c̣n thuần phác và thanh thản, về mặt ư thức, vẫn chưa cảm thấy sự mâu thuẫn khổ đau của cuộc sống.
Nhưng từ khi dân tộc Aryan Đại Thừa chuyển về phía Đông-Nam thượng lưu sông Hằng-Hà, khai thác nền văn minh tại đây, dần dần cúng tiến đến bản chất sinh hoạt trầm mặc, do đó tư tưởng giải thoát cũng đă dần dần nảy nở. Tư tưởng nay đă thấy tản mát trong Phạm-Thư (Bràhmanas), tức là khoảng 1000-800 trước Công-nguyên, vậy ta có thể coi là tư tưởng giải thoát đă manh nha bắt đầu từ thời kỳ đó, và đặc biệt đến cuối thời kỳ này nó đă trở nên rất rơ rệt. Bắt đầu từ thời kỳ đó, các nhà tư tưởng Ấn Độ dần dần đi t́m bản chất của Tự-Ngă và cho bản chất đó là một linh thể bất sinh bất diệt, và lấy việc phát hiện cái linh thể đó làm lư tưởng cứu kính của con người.
Đối với vạn hữu, đặc biệt là tự thân con người, người ta cảm thấy cần phải so sánh đối chiếu giữa cái chân tướng của vạn vật. Và do cái ư hướng muốn xa ĺa giả tướng để trở về với chân tướng mà đă phát sinh ra tư tưởng giải thoát. Song, tại Ấn Độ cái thời đại mà tự đối chiếu giữa chân tướng và giả tướng được bộc lộ một cách rơ ràng, đồng thời, vấn đề giải thoát được luận cứu rộng răi, dĩ nhiên là thuộc thời đại Upanishads (800-500 trước kỷ nguyên). Đến thời kỳ này giải thoát quan mới thật sự được quy định thành h́nh.
Upaishads nói: “cái bản tính của Tự-Ngă cùng với thật tại của vũ trụ tức Phạm-Thiên là đồng nhất, bản lai thanh tịnh, không nhơ nhớp, là cảnh giới diệu lạc, vĩnh viễn bất biến. Nhưng v́ mê mờ không thấy được cái chân tướng ấy nên con người đă bị tách khỏi cái tính đồng nhất kia để rồi phải lăn lộn trôi dạt trong bể khổ sinh tử, bị đắm ch́m và trói buộc mất hết tự do”. Cũng v́ thế mà cái lư tưởng cứu kính của con người là làm thế nào để thoát ly được cảnh giới sinh tử trói buộc này để trở thành với bản tính đồng nhất của Phạm-Thiên. Nền giáo lư của Upanishads tuy rất mông mênh, nhưng cái quy kết tối hậu th́ không ngoài tư tưởng này. Mà một khi đă tin như thế rồi th́ một mặt miêu tả cái cảnh giới lư tưởng đó càng tốt đẹp và sung sướng bao nhiêu, th́ nh́n lại hiện thực giới người ta càng cảm thấy mất sinh thú bấy nhiêu. Do đó mà tư tưởng yếm thế cũng dần dần nảy mầm và yêu cầu giải thoát cũng mỗi ngày một tăng. Như vậy là tư tưởng triết học của Upanishads dù có không thừa nhận học phái A-Đốc-Ma đi nữa, cũng đă lấy lư tưởng giải thoát làm tối cao. Và như đă nói ở trên kia, nguồn gốc và sự thành lập tư tưởng giải thoát là cái lư tưởng đích thực cộng thông của mỗi học phái.
2) -Các loại giải thoát quan:
Muốn cho tiện lợi, và nếu phân loại một cách đơn giản những tính chất hay khuynh hướng giải thoát th́ đại khái có bốn loại có thể thâu tóm toàn bộ.
Thứ nhất: giải thoát do nhờ nơi Nhân cách thần.
Thứ hai: giải thoát do nơi tinh thần độc lập cá nhân.
Thứ ba: giải thoát do sự phủ định ư chí sinh tồn
Thứ tư: giải thoát do tự kỷ thể hiện thực tại của vũ trụ, Phật tức tâm.
1. Thứ nhất giải thoát nhờ nơi nhân cách thần.
Người gây nghiệp thiện, sau khi chết được sinh lên cơi trời Dạ Ma mà hưởng mọi phúc báo: đó là tín ngưỡng đă có từ thời đại Lê Câu Về Đà (Rg-Veda). Thời đại học phái, thuyết hữu thần của Nhất Thần Giáo nẩy nở và tín ngưỡng đó càng ngày càng thịnh đạt th́ người ta coi vị Thần duy nhất ấy là lư tưởng giải thoát. Giải thoát quan của các phái Tỳ Nữu Nao và Tháp Bà hoàn toàn xây dựng trên ḷng tin đó.
H́nh như tín ngưỡng văng sinh Phật quốc của Phật Giáo cũng thuộc hệ thống này, v́ giải thoát quan này có tính cách phổ thông và đầy hương vị tôn giáo nên đă được đón nhận một cách rộng răi trong xă hội. Mà đặc trưng của giải thoát quan này là ở phương diện tha lực. Người ta có thể thoát khỏi sự ràng buộc của hiện thế mà đạt đến cảnh giới tự do nếu người ta được Thần ban cho ân sủng đó.
Nếu giải thoát quan của Tây-phương được nói đến ở đây th́ lập trường của Cơ Đốc Giáo có thể nói cũng thuộc bộ loại này.
2. Thứ hai, giải thoát quan do tinh thần độc lập cá nhân.
Tinh thần của mọi người là cái linh thể tự thân vốn thuần khiết bất hoại, nhưng v́ sự chướng ngại của vật chất nên linh thể đó trở thành mất tự do không trong sạch. Bởi vậy, nếu muốn đạt đến cảnh giải thoát, người ta chỉ cần xóa bỏ những chướng ngại vật chất đó để tinh thần cá nhân ra không có thật tại vũ trụ hoặc một vị Thần biệt lập, do đó, ngoài bản tính của chính ḿnh ra không cần có một trạng thái nào khác để chuyển hướng. Cũng như lau sạch bụi trên một tấm gương, chỉ cần tẩy trừ những lớp bụi vật chất che lấp tâm tính là tức khắc cảnh giới lư tưởng sẽ hiển hiện. Giải thoát quan này đă tiềm tàng trong Upanishads, nhưng thật sự được biểu hiện rơ ràng th́ phải chờ đến phái Số luận và phái Du Già. Vạn hữu sở dĩ có là do sự kết hợp giữa tinh thần tính của Tự ngă và tự tính của vật chất tính, và đó chính là cái nguyên lư trói buộc, vậy đoạn tuyệt được sự cấu kết giữa những yếu tố đó tức là đă đạt đến giải thoát, giải thoát quan của Kỳ Na Giáo cũng gần tương tự như lập trường của phái Số luận, nghĩa là lấy việc diệt trừ những ràng buộc vật chất khỏi tinh thần làm lư tưởng tối hậu. Trong Phật Giáo, từ khi các học giả thuộc Đại-chúng-bộ-hệ xướng thuyết Tâm Tính Bản Tịnh đến Đại Thừa chủ trương thuyết Tất Hứu Phật Tính tức là cái Linh thể của các phái kể trên, cho đến lập trường diệt trừ khách trần phiền năo để đạt giải thoát Niết Bàn, th́ chủ trương đó cũng có thể được coi là thuộc về hệ thống này.
Tóm lại, giải thoát quan của bộ loại này là sản phẩm của tư tưởng triết học có khuynh hướng Nhị nguyên luận. V́ nó lấy sự đối lập giữa tự ngă và phi ngă làm điều kiện và cái phương pháp thực hiện giải thoát không phải dựa vào tín ngưỡng mà xây dựng trên trí tuệ, lấy sự tự lực tu hành làm thông lệ.
3. Thứ ba, giải thoát quan do phủ định ư chí sinh tồn.
Giải thoát quan này thuộc Nhị nguyên luận, một mặt bảo tồn bản tính bất động, một mặt diệt trừ yếu tố bất định. Nhưng quan niệm giải thoát thứ ba này lại cho sinh hoạt hiện thực là mê vọng và muốn được giải thoát người ta phải hoàn toàn chối bỏ sự sống mê vọng đó: đây là lư tưởng của Tiểu Thừa Phật Giáo. Tiểu Thừa Phật Giáo đại biểu của chủ nghĩa vô thần, vô ngă, lấy vô thường và khổ làm cương yếu của nhân sinh quan. Do đó lư tưởng cứu kính của con người không thể thấy ở những cái vô thườn, những cái khổ, mà trái lại phải hoàn toàn chối bỏ những cái đó. Nghĩa là phải diệt cho tuyệt cái ư muốn sinh tồn mới hy vọng đạt đến cảnh giới giải thoát yên vui, và cảnh giới đó được mệnh danh là Niết Bàn (Nirvana). Dĩ nhiên, danh từ Niết Bàn, theo cách dùng ở thời đại Phật giáo Nguyên thủy, tuy có bao hàm ư nghĩa tích cực, nhưng nếu theo ư nghĩa “dập tắt”, “tiêu diệt” th́ trong trường hợp này nó đă được dùng đúng với ư nghĩa của nó. Theo chủ nghĩa này, ít ra về mặt biểu tượng giải thoát có nghĩa là tiêu diệt hoàn toàn sự sinh tồn hiện thực, cũng v́ thế mà nhiều người đă cho Niết Bàn là một cảnh giới tuyệt diệt hư vô. Trong các phái Tiểu Thừa, khi Kinh Lượng Bộ chẳng hạn, đại khái đă theo giải thích đó. Dĩ nhiên, trên thực tế cái cơi tuyệt đối hư vô ấy không thể là lư tưởng của người ta được, cho nên tuy các học giả Tiểu Thừa nhận đó là hư vô, người sau này họ vẫn thừa nhận một cảnh giới quang minh vĩ đại và thường c̣n, đó là một sự thật. Mà cảnh giới này chỉ khi nào phủ định hoàn toàn ư chí sinh tồn mới có thể đạt đến được.
4. Thứ tư, giải thoát quan do tự ḿnh thể hiện thực tại.
Trong ba bộ loại giải thoát quan kể trên, loại thứ nhất, thứ nh́ có thể nói là thuộc khuynh hướng Nhị nguyên, loại thứ ba có khuynh hướng hư vô, c̣n loại thứ tư này có thể nói giải thoát quan Nhất nguyên tích cực. Quan niệm này cho rằng bản thể của vũ trụ và tự ngă của con người vốn là đồng nhất, chỉ v́ vô minh nên thấy như có cách biệt, nhưng nếu diệt trừ được vô minh th́ tức khắc tự thân con người sẽ trở thành bản thể toàn diện. Vậy từ cái tự thân nhỏ bé cách biệt, giả tạm và bất tịnh, bị phiền năo trói buộc này mà vạn dụng để đạt đến cảnh giới phổ biến, vĩnh hằng, thanh tịnh và tự do, tức là đă đạt đến cảnh giới giải thoát. Chủ thuyết này đă được đề xướng bởi các học phái Upanishads, Vedanta và Phật Giáo Đại Thừa. Lập trường h́nh nhi thượng của giải thoát quan này là chủ nghĩa thực thể nhất nguyên của Quan niệm luận, hay là vạn hữu Thần giáo, lấy bản thể của vũ trụ làm sự tồn tại duy nhất của tinh thần, vạn hữu đều do tinh thần đó khai triển hoặc hiển hiện. Phái Vedanta gọi là Phạm hay Đại Ngă, Đại Thừa Phật Giáo mệnh danh là Chân-như, Pháp-thân v.v…tức là tinh thần đó. V́ vậy mà cảnh giới giải thoát theo quan niệm này, về mặt biểu tượng cũng rất phong phú, hơn nữa, rất hoạt động, không cần phải chối bỏ hiện thực, mà trái lại hiện thực tức là bản thể, vậy hiện thực tức cũng lại là giải thoát. Trong Upanishads nói: “Tất cả đều là Phạm”. Thiên-Thai-Tông nói: “Nhất sắc, nhất hương đều là Trung-Đạo”. Đứng trên lập trường giải thoát mà nói th́ vạn hữu đều biểu hiện cái tướng vĩnh hằng, tất cả đều tự do, vô ngại. Hoa Nghiêm Tông lập thế giới quan Sự-Sự-Vô-Ngại, Thiền Tông nói Sinh-Tử tức Niết Bàn, Chân Ngôn Tông nói Tức Thân Thành Phật v.v…đều căn cứ trên lập trường đó mà phát triển cả. Đến đây, giải thoát quan của Ấn Độ, ít ra là về mặt lư luận, có thể nói đă đạt đến chỗ điều ḥa giữa quan niệm yểm thế và quan niệm lạc thiên,, đă đến điểm dung thông giữa thử ngạn và bỉ ngạn, giữa động và tịnh, giữa thực tại và hiện tượng để mà khoáng đại cái phạm vi tự tại.
Trở nên, chúng tôi đă tạm chia giải thoát quan của Ấn Độ thành bốn loại. Nói đúng ra, trong các học phái dĩ nhiên cũng c̣n nhiều phái chủ trương giải thoát quan khác nữa, nhưng bất luận là chủ trương khuynh hướng nào đi nữa, trên đại thể, vẫn không ngoài bốn bộ loại trên đây. Nói cách khác, bốn bộ loại giải thoát quan trên đây có thể bao gồm tất cả khuynh hướng giải thoát trong tư tưởng Ấn Độ.
Ư nghĩa của sự thể nghiệm giải thoát
Tuy cùng lấy giải thoát làm lư tưởng, người ta v́ sự tranh luận về những điểm chân, ngụy, ưu, liệt, hơn thua.. cho nên giữa các học phái cũng có nhiều điểm bất đồng, điều đó không có ǵ là lạ cả. Song theo chỗ chúng tôi nhận xét th́ đó chỉ là trên vấn đề lư luận mà thôi, chứ về ư nghĩa sự giải thoát th́ đại khái các học phái đều có những điểm tương đồng. Bất cứ biện luận theo chiều hướng nào, cái ư nghĩa chân chính của sự giải thoát là phải làm sao cho tinh thần thanh thản trước mọi cảnh khổ, vui, thật, giả, động, tịnh: tóm lại đưa ư chí đến một cảnh giới tuyệt đối giải phóng. Nói theo lư luận h́nh nhi thượng th́ chẳng qua lấy sự đưa ư chí đến cảnh giới tuyệt đối giải thoát làm mục tiêu vậy. Và dĩ nhiên do cái mục tiêu đó ra sao mà có sự bất đồng về tính chất và phong thái của sự giải thoát. Bởi thế nếu đứng trên lập trường thể nghiệm để luận xem loại giải thoát nào là thật, loại nào là giả th́ e rằng ta sẽ làm một việc không đâu, v́ lẽ bất luận theo phương pháp nào, hể đă đưa tinh thần đến được một cảnh giới tuyệt đối giải phóng đó th́ đều có thể được coi là sự giải thoát chân thực. Nếu nhận xét theo lư luận và thực tế th́ chỗ kiến giải có nhiều điểm bất đồng. Chẳng hạn, về lư luận th́ có Nhất-nguyên-luận, Nhị-nguyên-luận, Hữu-thần-thuyết, Vô-thần-thuyết, không dung ḥa được nhau. Song nếu xét theo sự thể nghiệm thực tế về giải thoát th́ trong những thuyết mâu thuẫn đó người ta vẫn thấy có điểm cộng thông. Do đó, bất luận là Nhất-nguyên, Nhị-nguyên, hoặc Hữu-thần, Vô-thần chủ trương khác nhau, nhưng khi ư chí đă đạt đến cảnh giới tuyệt đối giải thoát th́ quan điểm ở đây không c̣n dị biệt nữa. Đó cũng là cách giải thích chung của các nhà sáng lập tôn giáo,các bậc hiền-triết-cổ, kim, đông, tây, tuy có những giáo lư khác nhau, ở vào những bối cảnh bất đồng, nhưng vẫn có điểm cộng thông, điều này thiết tưởng không phải một sự ngẫu nhiên vậy.
Thursday, April 12, 2007 (Người Việt Online)
WebMD Medical News - Đa số bác sĩ Mỹ đồng ư rằng đức tin tôn giáo và trạng thái tâm linh có hiệu ứng đáng kể đối với sức khỏe của con người, theo một cuộc khảo sát mới về tôn giáo và tâm linh của giới bác sĩ.
Cuộc khảo sát nhân thấy rằng những bác sĩ nào mà chính họ có đức tin tôn giáo hoặc có ư thức tâm linh th́ thường coi trọng ảnh hưởng của tôn giáo và tâm linh đối với sức khỏe của một cá nhân.
Theo các nhà nghiên cứu, những kết quả t́m thấy này hỗ trợ cho những lời đề nghị rằng các bác sĩ hăy nên nhận xét xem chính những đức tin tôn giáo ảnh hưởng tới cách hành nghề của họ như thế nào.
“Điều tin tưởng của y sĩ về sự liên hệ giữa đức tin tôn giáo và sức khỏe của bệnh nhân liên quan chặt chẽ với những cá tính tôn giáo của chính các bác sĩ,” người cầm đầu cuộc nghiên cứu, Bác Sĩ Farr Culin, thuộc trường đại học University of Chicago, và các đồng nghiệp viết trong phúc tŕnh đăng trên đặc san y khoa Archives of Internal Medicine số xuất bản ngày 9 Tháng Tư, 2007.
Họ nói thêm: “Đa số bác sĩ đồng ư rằng nhiều bệnh nhân dựa vào những lời cầu nguyện và những nguồn gốc tôn giáo khác để hướng lái đời sống và vượt qua những thử thách về tâm linh đă hiện ra khi họ mắc bệnh. Cho tới nay vẫn c̣n có nhiều tranh căi liên quan tới chuyện tôn giáo và tâm linh có thể ảnh hưởng tới sức khỏe như thế nào, và những anh hưởng này có thể phát hiện như thế nào.”
Trong số 1,144 bác sĩ đă trả lời cuộc khảo sát (trong tổng 1,820 bác sĩ đă được toán nghiên cứu gửi bản câu hỏi), những kết quả cho thấy 56 phần trăm tin rằng đức tin tôn giáo hoặc điều kiện tâm linh đă tạo nhiều hoặc rất nhiều ảnh hưởng tới sức khỏe.
Đa số các bác sĩ tin rằng tôn giáo và tâm linh:
- Thường giúp các bệnh nhân đương đầu với những chứng bệnh của họ (76 phần trăm).
- Giúp cho bệnh nhân có trạng thái tinh thần lạc quan (74 phần trăm).
- Cung cấp sự yểm trợ về cảm xúc và thiết thực qua cộng đồng tôn giáo của bệnh nhân.
So với những bác sĩ tự đánh giá họ là ít có đức tin tôn giáo, những bác sĩ có nhiều đức tin tôn giáo th́ thường:
- Báo cáo rằng bệnh nhân của họ thường nói tới những vấn đề thuộc về tôn giáo hoặc tâm linh.
- Tin rằng tôn giáo và tâm linh ảnh hưởng mạnh mẽ tới sức khỏe của bệnh nhân.
- Suy diễn về ảnh hưởng của tôn giáo và tâm linh bằng những luận điệu tích cực và bênh vực chứ không phải tiêu cực. (n.m.)