Vào đời số 78 Ngày 17.04.2008
Các linh mục quan xứ thường coi “Giáo lư viên như con ngươi trong mắt ḿnh”. Muốn có giáo lư viên giỏi th́ phải có giáo tŕnh tốt, hay, chuẩn mực…
Đây là một vấn đề đang được các Giáo Phận quan tâm đặc biệt.
Riêng giáo xứ An Lạc, một vị nào đó đă mạnh dạn soạn riêng một giáo tŕnh cho Lớp trưởng thành. Sáng kiến này cũng rất đáng khích lệ…
Nhưng..nhưng thật đáng tiếc!!
Từ H́nh thức tới Nội dung lẫn Câu hỏi gợi ư thực hành c̣n quá nhiều điều cần phải hoàn chỉnh lại. Chính v́ vậy, ông Phêrô Nguyễn Tuấn Hoan và Tâm Linh Vào Đời mới mạo muội đưa ra những nhận định và đề nghị chân t́nh.
Lời văn chắc có một vài chỗ hơi cứng cỏi khiến tác giả có thể cảm thấy bị xúc phạm, nhưng v́ nhiệt t́nh lo lắng cho đàn em sau này, nên chúng tôi mạnh dạn ghi nhận một số điểm nổi cộm trong giáo tŕnh.
Nhân tiện đây, cũng xin các vị soạn giáo tŕnh Giáo Lư kiểm tra lại để hoàn chỉnh kịp thời, giúp cho lớp đàn em thực sự trưởng thành như ḷng Chúa mong ước.
Thư gửi giáo lư viên
“Lớp trưởng thành”, giáo xứ An Lạc.
Các chị thân mến,
Trước hết xin gửi đến các chị lời chúc sức khoẻ và xin Chúa ban tràn đầy ơn thánh trong mùa Phục sinh này.
Với tư cách là phụ huynh của cháu Hoàng Long, tôi muốn chia sẻ với các chị vài suy nghĩ về lớp giáo lư mà các chị đang phụ giúp. Mấy tuần qua cháu Long đă nghỉ học giáo lư, chúng tôi rất buồn và lo lắng về việc này. Tôi có hỏi cháu nguyên do nào lại nghỉ giáo lư, cháu nêu ra nhiều lư do khiến cho không riêng ǵ nó mà các bạn khác cũng bỏ học, lớp từ hơn 20 em, nay chỉ c̣n không đến 10 em. Tôi và mẹ cháu nói thế nào cũng không thuyết phục được cháu tiếp tục đi học. Chúng tôi cũng không muốn cưỡng ép quá, chỉ nói con không học giáo lư là một thiệt tḥi lớn, cháu nói vậy th́ bố dạy con ở nhà. Tôi nói với nó rằng việc học ở nhà cũng cần, nhưng không thể thay thế việc đến lớp, v́ lớp giáo lư không chỉ giống như lớp học văn hoá mà c̣n là nơi gặp gỡ Chúa Giê-su trong bầu khí cầu nguyện và c̣n mang tính cộng đoàn nữa. Nhưng dù nói thế nào cũng không thuyết phục được cháu. Cháu cho tôi biết rất nhiều về t́nh trạng của lớp, tôi không tiện nói ra ở đây, tuy nhiên khi cháu cho xem tập sách giáo lư mà cháu đang học. Tôi xem xong, giật ḿnh v́ thấy cuốn sách có nhiều điều cần phải xem lại. Tôi xin bắt đầu từ h́nh thức tŕnh bày rồi đến nội dung của tập sách giáo lư này.
A.Về h́nh thức.
Tập sách dày 44 trang khổ A5, trang b́a in 2 chữ thật lớn: KINH THÁNH, ở dưới ghi ḍng chữ nhỏ hơn: Lớp Trưởng Thành. Trên đầu trang ghi rơ : Giáo xứ An Lạc. Việc tŕnh bày tựa sách như thế có đúng không? Bởi v́ nếu mở ra xem qua nội dung th́ đây đâu phải là cuốn Kinh Thánh, mà chỉ là những bài được cóp nhặt từ sách này sách kia, vá víu một cách vụng về không hệ thống, chỉ có bài số 1 ở trang 3 là đề cập đến sách Tân Ước, nhưng chỉ nói sơ sài, cho có. Như vậy, tập sách này không thể gọi là Kinh Thánh được, mà cũng chẳng phải là giáo tŕnh học hỏi hoặc t́m hiểu KT, mặc dù trong đó có trích nhiều câu Kinh Thánh, nhưng cách trích dẫn rất vụng về…không biết đến một vài quy ước căn bản.
B. Về nội dung.
Kiên nhẫn xem qua một lần, tôi nhận thấy người “soạn” tập sách này thiếu óc hệ thống, cũng chẳng định hướng được cho công việc của minh. Cứ xem mục lục ở trang 44 người ta sẽ thấy ngay, những bài học xếp đặt tuỳ tiện, bài đáng học trước lại học sau. Ví dụ: “Chúa Giê-su lên trời” (bài 11), rồi mới quay trở lại để “ban bí tích” (bài 13). Ấy là chưa kể trong mục lục ghi bài 3, trang 8 là: “Chúa Giê-su chịu đau khổ”, nhưng trong sách lại biến thành bài : “Chúa Giê-su chịu cám dỗ”, có lẽ người “soạn” nghĩ rằng chịu cám dỗ cũng là một đau khổ chăng? Cho nên đặt tên nào chả được! Bài 8, nói về Bí tích Thánh Thể, đến bài 13, lặp lại việc Chúa lập Bt Thánh Thể cũng trích lại đoạn Tin Mừng của Th. Mát-thêu 26,26-29, nhưng đổi từ số nhiều (các Môn đệ) ra số ít ( môn đệ). Chi tiết nhỏ nhưng cho thấy cách làm việc thiếu phương pháp.
Nh́n chung người ta đă thấy nội dung có cái ǵ không ổn, nếu đọc kỹ từng bài c̣n thấy nhiều sai sót không thể chấp nhận:
1) Thiếu thống nhất trong một vài từ ngữ:
- Ở trang 3 và 15, trong bài học (không kể những câu Kinh Thánh trích dẫn), “soạn giả” dùng từ “tiên tri”, nhưng ở các trang 24, 29 và 30, lại dùng từ”ngôn sứ”. Hai từ này không có giá trị như nhau. Nếu không hiểu rơ và không phân biệt được th́ nên dùng một trong hai từ mà thôi, đồng thời cứ thẳng tay sửa luôn cả những câu KT minh hoạ để có sự thống nhất!!!
- Hai đại từ “ngài, người”, trong bài học (không kể trong các câu Kinh Thánh trích dẫn), được sử dụng tuỳ tiện, “soạn giả” luôn dùng đại từ Ngài để chỉ ngôi thứ 3 (Chúa Giê-su, Chúa Cha, Chúa Thánh Thần), thế nhưng trong bài 14, anh ta lại dùng đại từ “Người” ở phần I và IV, c̣n phần II và III vẫn dùng đại từ ”Ngài”. Hai đại từ này hiện nay có 2 quy ước chính: 1) CGKPV dùng đt “Ngài” để chỉ ngôi thứ 2, “”Người” chỉ ngôi thứ 3. 2) UBPT : với Chúa Cha dùng đt “Ngài”, với Chúa Giê-su dùng đt “Người”. Theo quy ước nào là quyền tự do của mỗi người, điều quan trọng là phải thống nhất. Người soạn tập giáo lư dùng đại từ bừa băi khiến cho những câu trở nên ngớ ngẩn, ví dụ : trong bài 5, phần II, số 1 (tr. 14) :
Đức Giê-su giảng dạy: (xuống hàng)
- Ngài đă dạy cho loài người biết TC Ba Ngôi, TC là cha của loài người, loài người phải yêu thương nhau để làm con của Ngài . Ngài chính là Đấng đại diện Thiên Chúa khai mạc Nước Trời, Ngài chính là Đấng Mê-si-a, là Đấng cứu độ loài người.
Một câu không có chủ từ , mở đầu bằng một đại từ đă là một điều quái gở, 4 chữ ngài không phân biệt chỉ ai : Chúa Giê-su hay TC. Lại nữa không cho thấy Chúa Giê-su tương quan thế nào với TC, chả nhẽ chỉ là đấng đại diện thôi ư? Thật ngớ ngẩn quá !
- Một số tên riêng không thống nhất, khi th́ viết liền, khi th́ viết có gạch nối; đôi khi cùng một từ trong bài c̣n viết khác nhau, lúc th́ Ni-cê-a, khi th́ Ni-sê-a…(xem bài 7),so sánh với bài 1.
Những sai sót trên đây có thể được châm chước nếu như đây là một tập san, một nhật báo hay những cuốn truyện rao bán tại những bến xe, bến tàu, đọc trong lúc phải chờ…Nhưng đây lại là một giáo tŕnh Giáo lư, dành cho lớp TRƯỞNG THÀNH, th́ không thể chấp nhận những sai sót như thế, các học viên rối trí v́ sự lộn xộn này. Hơn nữa, tập tài liệu này đă được dạy liên tục gần 10 năm nay, mà không sửa chữa th́ quả thật người phụ trách chẳng những thiếu khả năng mà c̣n vô trách nhiệm nữa.
2) Dùng từ sai và những câu tối nghĩa hoặc vô nghĩa.
Chỉ cần đọc kỹ một chút, người ta cũng đă nhận thấy tính cách vụng về của người soạn ra tập sách thập cẩm này, những câu văn thiếu mạch lạc, sắp xếp những bài học chẳng có trật tự ǵ. Hơn nữa người “soạn” sử dụng tiếng Việt c̣n yếu lắm. Ví dụ ngay trong bài 1, trang 3, trong câu : “Các sách Tân Ước….được thành h́nh….” Viết như thế không đúng mà phải viết là “h́nh thành”, 2 từ này có nghĩa khác nhau. “Thành h́nh” : được tạo thành ở mức chỉ mới có những nét chính chứ chưa hoàn chỉnh. “H́nh thành” : nảy sinh và bắt đầu tồn tại như một thực thể. (Từ Điển Tiếng Việt, Trung Tâm Từ Điển Học, 2007). Một từ khác c̣n sai hoàn toàn, đó là từ “yếu điểm” ( tr. 9 ). Tôi xin trích cả câu: “3. Quỷ dữ luôn t́m chỗ yếu của linh hồn để tấn công. Quỷ luôn t́m mọi cách để tấn công vào yếu điểm của chúng ta…” hẳn là v́ tiếng Việt không được vững, người “soạn” tưởng rằng “yếu điểm” là chỗ yếu. Thật ra, “yếu điểm” là điểm quan trọng. Nếu muốn nói “chỗ yếu” th́ phải dùng từ “nhược điểm” (sđd tr.1794). Và c̣n nhiều từ khác nữa, rất lôi thôi vụng về.
Trong bài 7, “Chúa Giê-su là Thiên Chúa”. Ở đây tôi chưa nói đến cách dàn bài và dùng từ vụng về, chỉ nêu ra một câu ở cuối trang 18 :”Chúa Giê-su là Thiên Chúa thật và là người thật, một Ngôi vị trong hai bản tính”. Câu này được lặp lại hai lần. Tiếng Việt không ai lại nói như vậy. Thí dụ: không ai nói “một căn nhà trong hai người”, mà nói “hai người trong một căn nhà”. Học sinh cấp 2 cũng có thể phân biệt được như thế…C̣n nếu xét đến cách tŕnh bày và nội dung th́ người soạn bài này hẳn là tâm thần không b́nh thường hoặc đầu óc mít đặc. Xin được nói có sách, mách có chứng, kẻo có kẻ lại bảo tôi bịa đặt: Sau 5,6 hàng mở đầu bằng những câu chẳng ra đâu, vào đến nội dung bài học gồm 3 phần, để khỏi phí giấy tôi chỉ chép lại nguyên văn 2 phần đầu:
……………….
I. SỰ KHẲNG ĐỊNH CỦA CÁC CÔNG ĐỒNG.
*TẠO THÀNH.
1.Công đồng An-ti-ô-ki-a (268).
Chúa Giê-su là Con Thiên Chúa làm người .
2.Công đồng Ni-cê-a (325)
Chúa Giêsu không được tạo thành, nhưng Ngài là Thiên Chúa thật như Chúa Cha.
3.Công đồng Ni-sê-a (325) và Công đồng Công-tăng-ti-nốp (328)
-Chúa Giêsu là Ngôi Con được sinh ra bởi Chúa Cha từ đời đời.
-Được sinh ra làm người bởi Đức Trinh Nữ Maria.
*NGÔI VỊ.
Công đồng Ê-phê-sô (431) và Công đồng Can-cê-đô-ni-a (451).
Chúa Giêsu là Thiên Chúa thật và là người thật một ngôi vị trong hai bản tính.
*BẢN TÍNH.
x. lGa. 4,1-3.” Thần khí nào tuyên xưng…..thuộc về Thiên Chúa”.
Công đồng Ê-phê-sô (431) và Công đồng Can-cê-đô-ni-a (451).
Chúa Giêsu là Thiên Chúa thật và là người thật một ngôi vị trong hai bản tính.
II.ĐỨC TIN CỦA HỘI THÁNH.
Với các Công đồng chung Ni-cê-a (325), Ê-phê-sô (431) và Can-cê-đô-ni-a (451) chúng ta tuyên xưng:
“Chúa Giêsu Kitô vừa là TC thật như Chúa Cha vừa là người thật như ta; Ngài có hai bản tính, vừa bản tính TC vừa bản tính loài người trong cùng một Ngôi vị duy nhất là Ngôi Hai Thiên Chúa”.
………………………………………………………………
Bài giáo lư dành cho các em lớp 9 phổ thông được soạn như thế đó. Thật đáng buồn và cũng đáng thương cho các em.
Những câu tối nghĩa cũng đầy rẫy trong các bài: Thí dụ trong bài “Bí tích”, sau khi nói nhăng nói cuội kèm theo một số câu Kinh Thánh, người “soạn” phân loại bí tích, trong đó có nói đến loại “bí tích thông ơn và đ́nh ơn ( x.số 6, tr. 36) với lời giải thích :”Bí tích thông ơn là bí tích không ban ơn hoặc ban ân sủng lập tức cho thụ nhân v́ thiếu hoặc đủ điều kiện lănh nhận. Gồm bí tích Thánh thể và Hoà giải.
Bí tích đ́nh ơn là bí tích lănh nhận thành sự nhưng ơn ích bị treo lại đến khi thụ nhân cất hết ngăn trở mới có hiệu lực trong linh hồn.”.
Thử hỏi với lứa tuổi lớp 9 phổ thông, liệu các em có lănh hội được kiểu diễn tả của thần học kinh viện như vậy không? Tôi nghĩ người “soạn” chỉ sao chép lại trong sách mà chính đương sự cũng chẳng hiểu, vả lại các em cần ǵ học những điều rắc rối này. Thiếu lương tâm giáo dục nên người ta chú trọng đến việc khoe kiến thức, để lộ ra cái yếu kém của ḿnh là không tiêu hoá được những ǵ học ở lớp, ở chủng viện. Như thế chẳng phải là : “Người mù lại dắt người mù, cả hai lại chẳng lăn cù hay sao?”.
3) Phân phối không đều nhau. Khi soạn một giáo tŕnh, người ta cố gắng sao cho các bài tương đối bằng nhau, có một bố cục thống nhất. Như thế sẽ giúp cho học viên dễ học dễ nhớ. Nhất là đây không phải là những sinh viên đại học mà là các em học sinh cấp II. Người soạn giáo tŕnh này hoàn toàn tuỳ hứng, sắp xếp mỗi bài mỗi cách. Bài th́ 2 trang, bài th́ 3 trang hoặc hơn một chút, nhưng bỗng nhiên đến bài 13 lại vọt lên hơn 7 trang, con số 13 đúng là con số xui nếu như em nào làm bài kiểm tra mà bốc thăm nhằm bài đó!.
4)“Treo đầu dê bán thịt chó”.
Đó là nhận xét sau cùng của tôi về giáo tŕnh KINH THÁNH Lớp Trưởng Thành của giáo xứ An Lạc. Lẽ ra bài thứ 14:“Thiên Chúa Ba Ngôi” phải là bài kết của giáo tŕnh, để phần nào bù đắp cho những thiếu sót cũng như những bất hợp lư của giáo tŕnh, và như thế Mầu nhiệm Ba Ngôi là đích điểm, là điểm tới của lớp giáo lư trưởng thành. Các em được mời gọi và nhắc nhở sống màu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi trong suốt cuộc đời. Nhưng thật trớ trêu, người ta thêm vào 2 bài cuối : bài 15: Tổ quốc và bài 16: Phục vụ.
Mở đầu bài “Tổ quốc” là câu :”Con ơi! Con hăy yêu mến Tổ quốc của con. Tổ quốc của con là Tổ quốc Việt Nam”. Chẳng biết “soạn giả” lượm được câu này ở đâu, v́ không ghi xuất xứ. Một câu để trong ngoặc kép tất nhiên là câu được trích dẫn, nhưng phải ghi rơ xuất xứ ở sách nào, ai nói, nói với ai, nếu không ghi những chi tiết đó, th́ dù câu nói có hay cũng không có giá trị thuyết phục.. C̣n nội dung th́ soạn quá vụng về, một vài câu nhai lại của xă hội như : “yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, tuân theo luật pháp của nhà nước, tích cực góp phần xây dựng bảo vệ đất nước….nhớ ơn các anh hùng dân tộc…”(trang 41). Tôi nghĩ người này bị “đầu thai” lộn. Hoặc một thứ “hồn Trương Ba, da hàng thịt”.
Sau hết là bài Phục vụ. Không hiểu người “soạn” bài này có ư thức điều ḿnh đang làm hay không? Có kiến thức sư phạm hay không? Bài gồm 3 phần, phần I chiếm 1 trang, với tiêu đề bằng chữ in hoa: “CHA CHUNG KHÔNG AI KHÓC”. Đây là một thành ngữ có tính tiêu cực không mang tính giáo dục, chỉ dùng để trách móc, không thể dùng làm tiêu đề được, chẳng nhẽ muốn dạy các em tập sống thái độ đó sao? Trong khoa sư phạm người ta phải nhấn vào thái độ tích cực, những tiêu cực chỉ nên nhắc đến khi cần minh hoạ, nhất là với tuổi thiếu niên. Thế mà sau khi trích được một câu tâm đắc, “soạn giả” tuôn ra một loạt những việc làm tắc trách lấy trên báo hằng ngày như: đổ rác ra đường, phá hoại, ăn cắp của công…Tiếp theo anh ta tỏ ra ḿnh là người biết “quan tâm đến ích lợi chung..và lo đất nước không tiến được “ (nguyên văn), rồi tỏ ra xót xa v́ thấy :
*Người ta nhập hàng lậu làm thất thoát ngoại tệ và bóp chết hàng nội hoá.
*Người ta vọng ngoại, không biết nâng đỡ hàng nội hoá.
*Người ta làm hàng giả…khiến hàng nội mất uy tín.
Thử hỏi có cần đưa những bài học như thế vào chương tŕnh giáo lư cho tuổi thiếu niên 14, 15 tuổi hay không. Với một nội dung như thế, làm sao giáo tŕnh này lại đặt tên là KINH THÁNH, đó chẳng phải là “treo đầu dê bán thịt chó” hay sao?.
Các chị thân mến, tôi rất mến phục các chị cũng như một số các anh chị em giáo lư viên khác (không nhiều lắm), đă và đang phục vụ trong giáo xứ với tất cả ḷng hăng say, không quản ngại hy sinh thời giờ, sức khoẻ. Tôi viết bài này không phải để bới lông t́m vết (sẽ có kẻ nghĩ như thế) nhưng lương tâm tôi không cho phép im lặng trước những điều dối trá như thế, nhất là khi thấy chính con cái ḿnh bị thiệt tḥi. Ông bà ḿnh nói rất đúng : “dao sắc không gọt được chuôi”, không bao giờ tôi muốn cháu Long nghỉ giáo lư, chỉ mong cháu trở lại lớp. Tôi xin các anh chị em giáo lư viên phải mạnh dạn góp ư với những người có thẩm quyền, yêu cầu họ phải có trách nhiệm từ việc đào tạo giáo lư viên đến việc soạn bài, giảng bài cho nghiêm túc. Đừng sợ cái vỏ giả tạo bên ngoài và thái độ hách dịch của họ. Cung cách của họ chỉ làm cho các em sợ hăi, xa tránh và nhất là cách giảng dạy linh tinh, nói hươu nói vượn th́ làm cho những em có suy nghĩ thấy nhàm chán rồi bỏ học. Những lớp xưng tội, thêm sức c̣n có lư do để giữ chân các em, c̣n những lớp lớn cần có sự thu hút, thuyết phục do tư cách của giảng viên và nội dung phong phú. Như thế cần đầu tư nhiều lắm.
Những nhận xét của tôi về tập sách giáo lư, chỉ muốn nói lên sự quan tâm của phụ huynh đối với đời sống đức tin của con em ḿnh. Một giáo tŕnh lem nhem như thế lại tồn tại bao năm nay th́ quả là bất thường. Nó cũng cho thấy sự thiếu quan tâm của chủ chiên. Không biết tập giáo lư “tả pí lù” này do ai soạn. Nhưng điều chắc chắn là lớp này do “cha” Huệ phụ trách từ lâu rồi. Nay giao lại cho cha Bảo, đáng tiếc là cha Bảo thiếu kinh nghiệm, đầu óc không tập trung, nên lẫn lộn Phục Sinh với Giáng Sinh, Giu-đa chối Chúa 3 lần! v.v.. Trong bài giảng lễ cũng như trong lớp th́ nói những chuyện ngoài đời, dùng toàn văn hoá đường phố. Người như thế th́ làm sao nhận ra được những điều bất thường của tập giáo lư này.
C̣n “cha” Huệ, bề trên một tu hội to nhất trong… xứ An Lạc, đă đặt điều kiện muốn gia nhập tu hội này, th́ ít nhất là tốt nghiệp đại học, nếu là linh mục rồi th́ càng tốt, v́ đỡ mất công tu luyện. Kiến thức như vậy lẽ nào lại không thấy những chỗ hổng (như những lỗ đen của vũ trụ) trong giáo tŕnh… Tôi không biết khả năng của “cha” Huệ cao đến đâu. Nhưng “cha” thường khoe với người khác, với tôi ít là hai lần như thế này : “Ḿnh đă học xong tiếng A-ram, ngồi dịch (Kinh Thánh) riết nhức đầu quá, cha Trần Phúc Nhân cứ bảo ḿnh đi học thêm tiếng Hip-ri nhưng ḿnh bận quá!”. Tôi chỉ trả lời “Thế à!”. Thật tội nghiệp cho “cha”, v́ có một điều “cha” quên rằng Kinh Thánh (CƯ) hầu như toàn bộ được viết bằng tiếng Hip-ri, trừ một vài sách viết bằng Hy-lạp, và một vài đoạn viết bằng A-ram mà thôi. Tiếng A-ram là ngôn ngữ đời thường, c̣n Hip-ri được coi như một ngôn ngữ thánh dùng trong phụng vụ. Trong hội đường sau khi đọc Kinh Thánh, có người sẽ phiên dịch ra A-ram để giúp dân chúng hiểu, những bản dịch này gọi là Targum, những bản dịch này hầu như không phổ biến, vả lại cũng chỉ là những bản rời rạc. V́ thế ngay cả những nhà chuyên môn cũng chỉ học sơ qua tiếng A-ram thôi, v́ chẳng có lợi bao nhiêu. Tôi biết điều này nhờ học lỏm các vị tiền bối. “Cha” Huệ khoe ḿnh học thứ ngôn ngữ này để làm ǵ, sao không khoe ḿnh giỏi tiếng Anh, tiếng Pháp hay tiếng Đức có phải oai không? Có lẽ tại những thứ ngôn ngữ này có nhiều người biết rồi, khoe ḿnh học thứ tiếng mà cả nước không ai biết cho oai hơn. Tương tự như câu chuyện cổ : có người được hỏi vẽ ǵ khó, người đó trả lời rằng vẽ chó, vẽ ngựa khó. Hỏi tiếp vẽ ǵ dễ, trả lời vẽ ma, vẽ quỷ dễ. Tại sao? –Thưa v́ chó, ngựa ai ai cũng thấy, vẽ không giống người ta cười cho. C̣n ma quỷ có ai trông thấy đâu, ḿnh vẽ thế nào chẳng được, có vẽ sai cũng chẳng ai bắt bẻ được ḿnh! (Cổ học tinh hoa).
Trách nhiệm của người làm công việc giáo dục rất nặng nề, nhất là giáo dục đức tin, cần phải thành thật với chính ḿnh, đừng ảo tưởng về ḿnh, ḿnh không thể cho người khác cái ḿnh không có. Chẳng ai bắt ḿnh làm những việc ngoài khả năng của ḿnh. Cứ xem cuốn giáo lư lớp trưởng thành sẽ thấy ngay cách làm việc tắc trách, liều lĩnh, đồng thời coi thường các em thiếu niên.
Đôi lời chia sẻ với các chị là những người đang trực tiếp hướng dẫn các em lớp trưởng thành, biết rằng các chị rất nhiệt t́nh và có năng lực nhưng lại chỉ là người thừa hành. Chỉ mong rằng những nhận xét của tôi giúp cho các chị quan tâm nhiều hơn đến các em, đồng thời đừng đặt nhiều tin tưởng vào tập sách này.
Chào các chị và mong rằng lá thư này cũng được gửi đến những ai đang thao thức với việc gieo trồng niềm tin cho các em
An Lạc, ngày 30-3-2008
Phê-rô Nguyễn Tuấn Hoan
Email: prhoanal@yahoo.com.vn
Xin gửi đến:
-Các giáo lư viên.
-Ban giáo lư giáo phận.(đính kèm tập giáo lư).
Đặt lại vấn đề: Câu Hỏi Gợi Ư Thực Hành
trong những bài học Giáo Lư
Tâm Linh Vào Đời
Ông Phêrô Nguyễn Tuấn Hoan đă gởi cho chúng tôi bài Thơ gởi Giáo lư viên giáo xứ An Lạc và gởi kèm theo bản photo.
Phẩn h́nh thức và nội dung, ông Hoan đă góp ư rồi.
Riêng phần CÂU HỎI GỢI Ư, chúng tôi xin được góp ư thêm.
Chúng ta ai cũng biết rằng, phần nội dung bài mục đích cung cấp cho các em một số kiến thức căn bản, c̣n phần CÂU HỎI GỢI Ư chính là đưa ra cho các em một vài gợi ư giúp các em suy nghĩ, khám phá thêm và may ra có thể thực hành được trong cuộc sống của ḿnh.
Học hành phải đi đôi với nhau nhưng thật đáng tiếc, người soạn giáo tŕnh Kinh Thánh Lớp trưởng thành cho Giáo xứ An Lạc lại soạn hầu hết theo kiểu: “trống đánh xuôi kèn thổi ngược”.
Chúng tôi xin tóm gọn các đề mục, nhận định và đưa ra đề nghị theo thứ tự bài học.
BÀI 1 TÂN ƯỚC
Các sách Tân Ước.
Điểm mới của Tân Ước.
Đọc Tin mừng: T́m hiểu để khám phá khuôn mặt Đức Kitô.
Câu hỏi gợi ư: Bạn có thể kể tên những sách trong Cựu Ước cũng như Tân Ước theo từng loại?
Nhận định: Biết các tên sách để làm ǵ? Không giúp ǵ cho việc thực hành Lời Chúa.
Đề nghị: Khi đọc hoặc nghe lời Chúa, thái độ của bạn thế nào? Hờ hững như gió thoảng qua hay chú ư để cho Lời Chúa thấm dần vào ḷng ḿnh?
BÀI 2 NGÔI HAI NHẬP THỂ
Ngài đă nhập thể.
Chúa Giêsu Lời của Thiên Chúa.
Câu hỏi gợi ư: Bạn hăy viết lại Tin Mừng Thánh Gioan 1, 1-5, 14.
Nhận định:
Viết lại đoạn Tin mừng này.. nghe có vẻ được đấy, nhưng dễ có nguy cơ viết để trả nợ quỷ thần!!
Đề nghị: Ngôi Lời đă cư ngụ giữa chúng ta, nhưng vấn đề là bạn đă nhận ra sự hiện diện của Ngài chưa? Hay là Ngài đang bị bạn gạt bỏ ra khỏi cuộc sống của ḿnh?
BÀI 3 CHÚA GIÊSU CHỊU CÁM DỖ
Diễn tiến cám dỗ.
Quỷ dữ tần công Chúa bằng cách nào?
Tự trang bị.
Câu hỏi gợi ư: Trong xóm bạn, mọi người xếp bạn vào loại dễ ghét hay dễ thương.
Nhận định: Đây là một kiểu gợi ư lạc đề.
Ngoài ra, bá nhân bá tánh, người khen, người chê..Lấy đâu làm chuẩn?
Thêm vào đó dễ có nguy cơ: sống làm sao để vừa ḷng người hàng xóm chứ không cần vừa ḷng Chúa.
Đề nghị: Mỗi khi bị cám đỗ, bạn có dùng Lời Chúa hay cầu nguyện cùng Chúa ban thêm sức mạnh để vượt qua hay bạn lại tự lừa dối ḿnh theo lời mách bảo của Satan: Chẳng chết chóc ǵ đâu, có hàng ngàn người đều làm giống ḿnh…có ǵ, cả đám xuống hỏa ngục chứ có phải mỗi một ḿnh đâu mà sợ.
BÀI 4: CHÚA GIÊSU THƯƠNGNHỮNG NGƯỜI YẾU ĐUỐI
Những người đau khổ.
Trẻ em.
Phụ nữ.
Những người tội lỗi.
Câu hỏi gợi ư: Bạn có hay nâng ḿnh lên và khinh thường người khác không?
Nhận định : Câu gợi ư mang dáng vẻ tiêu cực.
Đề nghị: Bạn có sẵn ḷng giúp đỡ người khác khi họ cần nhờ tới bạn không?
BÀI 5: CHÚA GIÊSU, ĐẤNG CỨU THẾ
Ẩn dật tại Na-da-rét.
Hoạt động.
Tử nạn và phục sinh.
Câu hỏi gợi ư: Bạn phải làm ǵ để đón nhận ơn cứu độ của Chúa Giêsu?
Nhận định: Câu hỏi đúng chủ đề.
BÀI 6: CHÚA GIÊSU BỊ CHỐNG ĐỐI
Những lư do tôn giáo.
Những lư do xă hội.
Đức Giêsu tự nguyện chết cho loài người.
Câu hỏi gợi ư: Bạn có yêu mến Chúa không? Tại sao? Bạn đă làm ǵ để đáp lại t́nh yêu thương của Ngài đă dành cho bạn.
Nhận định: Câu hỏi đúng chủ đề.
BÀI 7: CHÚA GIÊSU LÀ THIÊN CHÚA
Sự khẳng định của các Công Đồng.
Đức tin của Hội Thánh.
Ḷng tin của ta.
Câu hỏi gợi ư: Bạn đă đạt trọn niềm tin vào Chúa Giêsu chưa? Bạn làm ǵ để thể hiện niềm tin đó?
Nhận định: Câu hỏi đúng chủ đề.
Đề nghị thêm: Bạn đă coi Chúa làm chủ cuộc đời ḿnh hay bạn vẫn để “cái tôi của ḿnh” giải quyết mọi sự xảy ra trong cuộc đời của bạn?
BÀI 8: BỮA TIỆC LY VÀ BÍ TÍCH THÁNH THỂ
Luật yêu thương.
Bí tích thánh thể.
Chức tư tế.
Câu hỏi gợi ư: Bạn có siêng năng rước Thánh Thể không? Mỗi lần rước Chúa Giêsu Thánh Thể, bạn đă làm ǵ?
Nhận định: Câu hỏi đúng chủ đề.
Đề nghị thêm: Sau khi rước Chúa, suốt cả ngày hoặc suốt cả tuần, bạn quyết tâm nhớ và sống với Chúa được mấy phút?
BÀI 9: SỐNG MÀU NHIỆM TỬ NẠN VÀ PHỤC SINH
Bí tích Thánh tảy.
Vui vẻ chuyên cần và phục vụ.
Giây phút hiện tại.
Câu hỏi gợi ư: Bạn biết ǵ về mộ Chúa Giêsu? Hăy tả lại và nói tâm t́nh của bạn.
Nhận định: Câu hỏi hơi xa chủ đề. Dễ dẫn tới tâm t́nh thương vay khóc mướn, tội nghiệp Chúa.
Đề nghị: Làm cách nào để có thể cùng chết với Chúa Giêsu để có thể phục sinh với Chúa Giêsu?
BÀI 10: THIÊN CHÚA GIAO H̉A LOÀI NGƯỜI VỚI NGÀI
Dấu hiệu nối kết đất và trời.
Giao Ước mới.
Sống tâm t́nh người được cứu độ.
Câu hỏi gợi ư: Bạn có biết tên 12 tông đồ không? Bạn viết xem nào.
Nhận định: Câu hỏi hoàn toàn lạc đề.
Đề nghị: Khi làm bất cứ điều ǵ, bạn đang sống trong tâm t́nh người làm nô lệ (h́nh ảnh người con cả làm để tính công trạng với người cha) hay trong tâm t́nh người con yêu dấu của Chúa?
BÀI 11; CHÚA GIÊSU LÊN TRỜI
Sự kiện.
Này, Ta ở cùng các con.
Này, con ỏ trong Chúa.
Câu hỏi gợi ư: Lễ Phục Sinh và lễ Thăng Thiên là mấy lễ? Giải thích.
Nhận định: Câu hỏi hoàn toàn xa đề.
Đề nghị: Trước khi lên trời, Chúa Giêsu đă nhắn nhủ: Này Thày ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế. Bạn đă nhận ra Chúa ở trong bạn chưa? Làm cách nào để nhận ra?
BÀI 12: CHÚA GIÊSU BAN CHÚA THÁNH THẦN
Chúa Thánh Thần và các tông đồ.
Chúa Thánh Thần xây dựng Hội Thánh.
Các ơn Chúa Thánh Thần.
Câu hỏi gợi ư: Hàng ngày bạn có năng cầu nguyện với Chúa Thánh Thần không? Tại sao?
Nhận định: Câu hỏi đúng chủ đề.
BÀI 13: CHÚA GIÊSU BAN CÁC BÍ TÍCH
Tŕnh bày.
Thành lập 7 Bí tích.
Phân loại.
So sánh Bí Tích với đời sống tự nhiên.
Điều kiện ban và lănh nhận Bí Tích.
Câu hỏi gợi ư: Những ai được quyền ban Bí Tích Thánh Tảy? Tại sao?
Nhận định: Câu hỏi hơi xa đề và có tính cách lư thuyết.
Đề nghị: Mỗi khi lănh nhận bí tích Ḥa giải hay Thánh Thể, bạn có quyết tâm xây dựng t́nh thân với Chúa gần gũi thân t́nh hơn hay chỉ thực hành theo thói quen?
BÀI 14: THIÊN CHÚA BA NGÔI
Chúa Giêsu dạy về Chúa Cha.
Chúa Giêsu dạy về Chúa Thánh Thần.
Chúa Giêsu dạy về chính Ngài.
Thiên Chúa Ba ngôi.
Câu hỏi gợi ư: Bạn phải làm gỉ đối với Thiên Chúa Ba Ngôi?
Nhận định: Câu hỏi đúng chủ đề.
BÀI 15: TỔ QUỐC
Đề nghị bỏ bài này
Một câu nói của ai đó có vẻ khá nổi tiếng: Trước khi là người Công giáo, tôi đă là người Việt Nam
Tôi xin dẫn chứng ngược lại: Trước khi là người Việt nam, tôi đă là con của Chúa.
Dẫn chứng: “Trước khi
cho ngươi thành h́nh trong dạ mẹ, Ta đă biết ngươi ;
trước khi ngươi lọt ḷng mẹ, Ta đă thánh hoá ngươi,
Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân.” (Gr 1: 5)
Thực vậy, Chúa đă chọn tôi trước khi tôi H̀NH THÀNH TRONG DẠ MẸ
Đề nghị bỏ ở đây không có nghĩa là phản bội tổ quốc, không có nghĩa là chủ trương Vô tổ quốc
Lư do thực tế: Nếu một người Kitô hữu đích thực th́ chắc chắn sẻ là một người cha, người mẹ gương mẫu, người con hiếu thảo, người học tṛ ngoan, người hàng xóm láng giềng vui vẻ với mọi người chung quanh, người trưởng thành, người đầy nghị lực (nhờ sức mạnh của Thần Khí Thiên Chúa), và chắc chắn là một người công dân tốt ….
BÀI 16: PHỤC VỤ
Cha chung không ai khóc.
Bắt đầu từ chính ḿnh.
Một người chịu thiết cho tất cả được nhờ.
Câu hỏi gợi ư: Tại sao nhiều người không quan tâm tới ích chung?
Nhận định: Câu hỏi mang dáng vẻ tiêu cực.
Đề nghị: Tại gia đ́nh, có rất nhiều dịp để bạn có thể phục vụ cho cha mẹ, anh chị em trong nhà. Thí dụ như: phụ cha mẹ dọn cơm, rửa chén dĩa, giặt quần áo, lấy dùm một món đồ ǵ đó, giúp các em học tập… Bạn có thể chia sẻ thêm những việc bạn đă phục vụ trong gia đ́nh, trong hội đ̣an, trong lớp…
Dĩ nhiên tất cả đều thực hiện trong tâm t́nh “Cùng với Chúa để làm” – tôi mới rước Chúa mà..Chúa dang sống trong tôi..