|
KHÁT VỌNG H̉A ĐIỆU
Hội trường Đại Học Middlesex ở phía bắc
Luân-Đôn xem ra không trang trọng chút nào: chỉ một gian pḥng
chật hẹp với những dăy ghế gỗ lưng thoai thoải, kêu răn rắc mỗi
khi hơi động đậy.
Những bích chương lớn ghi lại những câu nói của
cha John Main được viết nắn nót và gắn vào các cửa sổ mở ra trên
khung trời màu xám nước Anh-Cát-Lợi. Vài chiếc ghế ỷ, một tấm
thảm nhỏ và một b́nh bông được bày biện ra đó, trên một bệ gỗ
lắc lư. Người ta có cảm tưởng như nơi đó đă được cất lên vội
vàng đêm hôm trước và xem như chẳng có ǵ quan trọng sẽ diễn ra
ở đó cả.
Mọi người trong pḥng nao nức chờ đợi. Trong số
giáo dân nói tiếng Anh - những người Gia-Nă-Đại và Hoa-Kỳ - có
xen lẫn vài tăng ni Phật giáo trong áo màu vàng và nâu ṣng, với
những mái đầu nhẵn bóng bất động giữa đám đông người không ngừng
chuyển động. Các nam nữ tu sĩ ḍng Biển-Đức – một số mặc áo ḍng
đen, riêng các tu sĩ ở Olive th́ mặc áo ḍng màu trắng – ngồi
hàng ghế đầu. Những máy phát thanh và thu h́nh được điều chỉnh
lại. Người ta hắng giọng cho trong trẻo. Không một tiếng đàn
vọng lại.
Một nhóm nhỏ đi vào cửa hông và bước lên bệ gỗ. Ở
giữa họ là Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma đang tiến bước, ngài mang đôi hài
khá thoải mái, khoác chiếc áo màu vàng lẫn nâu ṣng, nụ cười
tươi nở trên môi, gật đầu và khoác tay, hơi e lệ nhưng sung
sướng ra mặt. Ngài tiến vào theo cách thức một Phật tử, không có
tính cách một đoàn rước. Có khi không thấy ngài đâu, rồi lại
thấy ngài xuất hiện rơ ràng ở đó.
Nhiều diễn văn chào mừng, trong đó có diễn văn
của bà quận trưởng Enfield đại diện cho quận hạt của bà là một
quận “đa chủng, đa văn hóa và đa tôn giáo”. Đó là khu bắc thành
phố Luân-Đôn, tha thiết trong việc duy tŕ sự ḥa hợp đa nguyên
nên rất thích hợp để tổ chức một cuộc hội thảo qui tụ hai truyền
thống tôn giáo lớn.
Sau những nhận xét của bà quận trưởng, Dom
Laurence Freeman, ḍng Biển-Đức, đă đứng lên chào đón Đức
Đạt-Lai-Lạt-Ma. Với tư cách linh hướng và giáo sư Cộng Đồng Quốc
Tế về Chiêm Niệm Kitô giáo, cha Laurence đă đạt lời mời Đức
Đạt-Lai-Lạt-Ma và giờ đây cha đón tiếp ngài.
Dịu dàng và đắn đo trong từng cử chỉ, cha để
chiếu tỏa một nghị lực có tính cách trí thức và linh thiêng:
điều đó hiển nhiên đă khơi dậy mối thiện cảm và hiếu kỳ nơi vị
khách danh dự được mời. Cuộc hội thảo càng tiến hành, mối cảm
t́nh giữa hai vị tu sĩ càng gia tăng thấy rơ. Khi cha Laurence
nói, Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma nh́n cách chăm chú cũng như ngài đă làm
đối với mọi đối thoại viên khác.
Trong những lời nhận xét về buổi khai mạc, cha đă
khai triển một tâm điểm sẽ trở thành đề tài chính của cuộc hội
thảo - đó là tính chất hỗ tương của biến cố.
Cha Laurence Freeman
“Thưa Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma,
Thật là một vinh hạnh cho tôi được đón tiếp ngài.
Ngài đă nói là ngài muốn học hỏi nơi chúng tôi, và chúng tôi ở
đây cũng mong muốn học hỏi nơi ngài. Thật là một đặc ân lớn lao
đối với chúng tôi được ngài đến như vị khách danh dự của cuộc
Hội Thảo John Main về một đề tài đă được ngài chọn lựa, đó là “Đức
Từ Tâm” và ngài đă chấp nhận với sự cởi mở bằng trí thức
và độ lượng lời mời của chúng tôi để dẫn giải một số đoạn Phúc
Âm.
Theo truyền thống Kitô giáo, những văn bản nầy
được gọi là “Thánh Kinh” v́ chúng tôi tin tưởng có thể
nhận chân được sự hiện diện của Đức Kitô ở đó cho dù chỉ đọc
những gịng chữ đó mà thôi. Đó là những chữ do con người viết,
v́ vậy có thể hiểu đúng hay hiểu sai. Những chữ đó cần đến một
sự giải thích bởi lư trí để con tim có thể lănh hội ư nghĩa.
Chúng tôi biết ngài đại diện cho một truyền thống
Phật giáo phong phú tuyệt vời, đă biết tinh luyện những công cụ
trí thức để áp dụng vào việc tiếp nhận chân lư. V́ vậy chúng tôi
rất nóng ḷng đọc những văn bản Thánh Kinh của chúng tôi qua sự
gạn lọc trí thức của ngài và với ngài, có được một cái nh́n mới
trên những văn bản đó.
Là những Kitô hữu, chúng tôi chắc chắn sẽ được
phong phú hơn; chúng tôi cũng hy vọng tất cả những Phật tử hiện
diện nơi đây và mọi tín hữu những tôn giáo khác sẽ ra về được
phong phú hơn – cũng như chúng tôi – bởi cuộc hội thảo nầy.
Chúng tôi nhận thấy việc truy tầm để hiểu biết không chỉ đơn
thuần trên b́nh diện trí thức, nhưng phải truy tầm sự nhận thức
đích thật bằng trực giác – “thiền quán” (vipasyana) - một
sự trực nhận về ư nghĩa các chữ linh thánh.
Một trong những đại danh sư thần học Kitô giáo -
Thánh Tôma Aquinô - đă nói rằng chúng ta nên đặt để niềm
tin không phải ở nơi những lư chứng, trái lại ở nơi những thực
thể mà ngôn từ là dấu chỉ. Điều đáng nói là chính kinh nghiệm
chứ không phải chỉ là gom góp những tư tưởng. Chúng tôi biết con
đường chiêm niệm mà chúng tôi sẽ chia sẻ với ngài trong thinh
lặng suốt cuộc hội thảo nầy sẽ là con đường phổ thông và nối kết
tất cả chúng ta để đi vào một kinh nghiệm vượt ra ngoài ngôn từ.
Cha John Main hiểu rơ khả năng nối kết của sự “thinh
lặng” đă mang chúng ta qua bên kia ranh giới ngôn ngữ. Do
đó, trong cuộc hội thảo nầy, những lúc có lẽ quan trọng nhất mà
chúng ta hội ngộ nhau sẽ là những lúc thinh lặng.
Sau khi ngài dẫn giải xong, chúng ta sẽ đi vào
thời gian “chiêm niệm”. Vào mỗi thời khắc đó, chúng ta sẽ
có thể vượt lên trên tri thức lư giải để đi vào ngay chân lư
đang tiềm ẩn bên trong thực tế. Chiêm niệm đă làm cho chúng ta
được phong phú hóa bằng nhiều cách khác nhau. Nhất là chiêm niệm
làm cho chúng ta có thể đọc những sách thánh trên toàn thế giới
với sự minh triết và mẫn cảm hơn.
Thưa Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma,
Chúng tôi rất cảm kích ân huệ được ngài hiện
diện. Nếu chúng tôi có thể mở ḷng để đón nhận thực tế của giây
phút hiện tại mà chúng tôi cảm nhận được trong Thánh Kinh, cảm
nhận khi ngài cởi mở tâm trí ngài cho chúng tôi, chúng tôi cũng
biết làm phát triển nơi chúng tôi tinh thần an lạc và thân
thiện.
Nhân danh Cộng Đồng chúng tôi đang hiện diện trên
toàn thế giới, chúng tôi xin đoan chắc với ngài là chúng tôi
luôn mang h́nh ảnh dân Tây Tạng trong tâm thức và tâm hồn chúng
tôi. Chúng tôi cảm thấy dân ngài đang hiện diện với ngài hôm nay
đây. “Thánh Giá và Phục Sinh” của Đức Kitô là trung tâm
điểm đức tin Kitô giáo. Có thể chúng tôi nhận thấy được trong
lịch sử Tây Tạng và trong lịch sử riêng ngài là Thánh Giá và
Phục Sinh trở nên những thực thể có nhân loại tính thuộc mọi dân
tộc và không phải tài sản riêng của một tôn giáo nào. Chúng tôi
là chứng nhân cho sự khổ nạn của đất nước Tây Tạng, nhưng chúng
tôi cũng đă chứng kiến sự phục sinh của một nền minh triết và
huấn giáo của dân tộc đó, một quà tặng cho toàn thế giới hoàn
toàn nhờ ngài.
Chúng tôi hoàn toàn cởi mở để đón nhận sự thực tế
đầy huyền bí. Chúng tôi hy vọng và cầu mong rằng trong sự thinh
lặng của chiêm niệm và trong những ngôn từ ngài sẽ hướng dẫn,
chúng ta sẽ có thể đi vào trong sự viên măn của ư thức và ánh
sáng.”
Bài diển văn của cha Laurence đă được vỗ tay
tán thưởng nhiệt liệt. Với khuôn mặt rạng rỡ, Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma
tỏ ra cảm kích đối với những nhận xét sâu sắc trong lời chào
mừng và sự đầm ấm tỏ lộ qua buổi đón tiếp đă dành cho ngài. Ngài
đă ngỏ lời bằng tiếng Anh, thỉnh thoảng bằng tiếng Tây Tạng, khi
cần.
Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma
“Thưa quí anh chị trong tinh thần,
Đối với tôi thật là một niềm vui và một đặc ân
lớn lao được cơ may tham dự cuộc hội thoại nầy và khai mạc cuộc
hội thảo John Main với đề tài “Đức Từ Tâm”. Xin cho phép
tôi được tỏ bày ḷng biết ơn đối với tất cả những ai đă giúp đỡ
trong việc tổ chức cuộc hội ngộ nầy.
Tôi xin cám ơn bà Quận Trưởng v́ những lời chào
mừng nồng nhiệt và tôi cảm thấy khích lệ khi bà nhắc tới sự ḥa
điệu và sự cảm thông đang triển nở ngay giữa các cộng đồng và
những truyền thống tôn giáo khác nhau của quận hạt nầy, được
mệnh danh là “đa văn hóa, đa sắc tộc và đa tôn giáo”. Tôi
xin hết ḷng tri ân.
Tôi đă biết cố linh mục John Main từ nhiều năm
qua ở Gia-Nă-Đại và tôi cảm thấy xúc động bởi việc gặp gỡ một vị
đại diện thuộc truyền thống Kitô giáo đă nhấn mạnh đến tầm mức
quan trọng của vấn đề thực hành chiêm niệm. Hôm nay, khi khai
mạc cuộc hội thảo nầy, tôi thiết tưởng rất quan trọng nên gợi
lại kỷ niệm về ngài.
Tôi cũng sung sướng được nh́n thấy bao khuôn mặt
thân thương và có cơ hội gặp gỡ những bạn hữu cũ và mới.
Mặc dù quả địa cầu chúng ta đă tiến bộ rất nhiều
trên b́nh diện vật chất, nhưng nhân loại đang đối diện với rất
nhiều khó khăn mà một số thật ra do chính chúng ta tạo nên. Phần
lớn, chính “thái độ tinh thần” chúng ta - tầm nh́n chúng
ta trên cuộc sống và trên thế giới - sẽ định đoạt tương lai:
tương lai nhân loại, tương lai thế giới và tương lai môi sinh.
Nhiều vấn đề tùy thuộc thái độ tinh thần chúng
ta, vừa ở trong lănh vực công cộng cũng như riêng tư. Hạnh phúc
đời sống cá nhân hay gia đ́nh chúng ta tùy thuộc phần lớn ở
chính chúng ta. Đành rằng những điều kiện vật chất của cuộc sống
là một yếu tố quan trọng để có được một đời sống tuyệt hảo và
hạnh phúc, nhưng thái độ tinh thần chúng ta cũng quan trọng
không kém, nếu không muốn nói là lớn hơn nữa.
Khi thế kỷ hai mươi mốt đă điểm, những truyền
thống tôn giáo lớn hơn bao giờ hết càng trở nên thích đáng hơn.
Tuy nhiên, cũng như trong quá khứ, những xung đột và khủng hoảng
đă xuất hiện, nhân danh những truyền thống tôn giáo khác nhau.
Điều đó hiển nhiên rất bất hạnh. Chúng ta phải làm hết sức để
chế ngự t́nh trạng nầy.
Do kinh nghiệm riêng, tôi nhận thấy phương thế
hữu hiệu nhất để vượt qua những xung đột đó là việc “tiếp xúc
chặt chẽ và trao đổi” giữa những người thực hành những niềm
tin khác nhau, không những trên b́nh diện trí thức mà c̣n bằng
những kinh nghiệm tâm linh sâu đậm nữa. Đó là một phương cách
mănh liệt nhất để triển khai sự cảm thông và tương kính lẫn
nhau. Chính qua việc trao đổi mà một nền tảng vững chắc có thể
được thiết lập để xây đắp một sự ḥa điệu chân chính.
V́ vậy tôi luôn cảm nhận một hạnh phúc lớn lao
khi tham dự một cuộc “đối thoại liên tôn”. Tôi rất vui
mừng được trải qua mấy ngày nầy để đàm đạo với quí bạn và để
thực tập tiếng Anh bập bẹ của tôi! Sau mấy tuần lễ tĩnh tâm ở
Dharamsala, tôi nhận thấy tiếng Anh của tôi c̣n tồi tệ hơn
trước; mấy ngày nầy sẽ cho tôi cơ hội tái thực tập một cách hoàn
toàn đúng lúc.
Cũng như tôi tin tưởng mănh liệt rằng sự ḥa điệu
giữa các tôn giáo là một điều tối quan trọng và là một sự kiện
rất mực cần thiết, giờ đây tôi xin đề nghị một vài ư tưởng về
những phương cách thực hiện.
Trước tiên tôi xin gợi ư là nên khuyến khích
những cuộc “gặp gỡ giữa các nhà trí thức” thuộc những tôn
giáo khác nhau để thảo luận những điểm tương đồng và dị biệt
giữa những truyền thống tôn giáo của họ ngơ hầu làm nẩy nở ḷng
tha giác và cải tiến sự hiểu biết lẫn nhau.
Thứ đến, tôi xin gợi ư là chúng ta nên khuyến
khích những cuộc “gặp gỡ giữa các tín hữu” thuộc những
tôn giáo khác nhau nhưng đă có một kinh nghiệm nào đó trong đời
sống tâm linh - những người đó không nhất thiết phải là những
nhà trí thức, mà là những người thực hành chân chính,
những hành giả - sẽ hội họp với nhau để chia sẻ những nguồn sáng
có được do việc thực hành tôn giáo mà ra. Theo kinh nghiệm riêng
tôi, đó là một phương cách hữu hiệu và có mănh lực lớn lao để
thức tâm lẫn nhau một cách trực tiếp và sâu đậm hơn.
Một số người trong quí bạn đă biết việc tôi thăm
viếng đại tu viện ở Montserrat, Tây-Ban-Nha và sự gặp gỡ của tôi
với một tu sĩ ḍng Biển Đức. Ngài đă đến gặp riêng tôi và v́
tiếng Anh của ngài c̣n tệ hơn tôi nên tôi cảm thấy được can đảm
hơn để ngỏ lời trước tiên.
Sau bữa ăn trưa, chúng tôi đă ngồi gần nhau một
ḿnh và tôi được biết tu sĩ đó đă trải qua nhiều năm ở trong
rặng núi phía sau tu viện. Tôi hỏi ngài đă thực tập loại chiêm
niệm nào trong những năm dài cô tịch đó. Câu trả lời của ngài
thật đơn giản: “Yêu thương, yêu thương, yêu thương.”
Tuyệt diệu biết bao! Tôi thiết tưởng chắc cũng có lúc ngài ngủ
quên.
Mà không phải ngài chỉ quán chiếu trên b́nh diện
ngôn từ. Trong suốt những năm đó, ngài chỉ quán chiếu về t́nh
thương mà thôi. Trong ánh mắt ngài, tôi thấy rơ bằng chứng của
một linh đạo thâm sâu và một t́nh thương thâm sâu - cũng như tôi
đă cảm nhận nơi cha Thomas Merton. Hai cuộc hội ngộ đó đă giúp
tôi khai triển một sự tôn kính chân thành đối với truyền thống
Kitô giáo và năng lực của truyền thống đó có thể tạo nên những
nhân vật có thiện hảo như thế.
Tôi tin tưởng mục tiêu của những truyền thống tôn
giáo lớn không phải để xây dựng những đền thờ lộng lẫy ở bên
ngoài mà để kiến trúc “những ngôi đền thiện hảo và mẫn cảm ở
bên trong con tim” chúng ta. Tất cả các tôn giáo lớn đều có
năng lực đó hết. Chúng ta càng ư thức về giá trị và hiệu năng
của những truyền thống tôn giáo khác th́ ḷng tôn kính của chúng
ta đối với những tôn giáo đó càng thâm sâu hơn. Đó là con đường
tuyệt hảo nên theo đuổi nếu chúng ta muốn cổ vơ một sự mẫn cảm
đích thực và một tinh thần ḥa điệu ở giữa các tôn giáo với
nhau.
Ngoài những cuộc gặp gỡ giữa những nhà trí thức
và những tín đồ thực hành đích thực, xem ra quan trọng cũng
không kém, nhất là dưới con mắt người đời, đó là những vị lănh
đạo các tôn giáo khác nhau thỉnh thoảng nên hội họp lại để cầu
nguyện, như đă xảy ra trước đây ở Assisi năm 1986. Đó là
phương cách thứ ba, tuy đơn giản nhưng rất hữu hiệu, để cổ vơ sự
khoan nhượng và thông cảm lẫn nhau.
Phương cách thứ tư là những tín hữu thuộc các tôn
giáo khác nhau nên “cùng nhau đi hành hương” và kính
viếng những nơi linh thánh của nhau.
Cách đây vài năm, chính tôi đă bắt đầu đi hành
hương ở Ấn-Độ. Từ đó, tôi đă có dịp tới Lộ-Đức và Jerusalem. Ở
những nơi đó, tôi đă cầu nguyện với những tín hữu những tôn giáo
khác nhau, đôi khi bằng chiêm niệm trong thinh lặng. Những lúc
cầu nguyện và chiêm niệm như vậy đă mang lại cho tôi những kinh
nghiệm tâm linh đích thực.
Tôi hy vọng rằng trường hợp của tôi sẽ làm gương
cho những người khác, tạo thành một thứ tiền lệ, để rồi trong
tương lai mọi người sẽ coi đó như một việc hoàn toàn b́nh thường
khi cùng nhau đi hành hương những nơi linh thánh và chia sẻ
những kinh nghiệm tôn giáo khác nhau.
Để kết thúc, tôi xin trở lại vấn đề chiêm niệm
đồng thời hướng về các anh chị Kitô hữu của tôi là những người
đang thực tập một đường lối chiêm niệm trong cuộc sống hằng
ngày. Tôi nghĩ rằng lối thực tập đó tối ư quan trọng.
Nước Ấn-Độ quen với lối “thiền định”
(samadhi), chung cho mọi tôn giáo ở Ấn-Độ như Ấn-Độ giáo,
Phật giáo và Kỳ-Na giáo (Jainism). Có vài loại “thiền quán”
(vipasyana) cũng chung cho nhiều truyền thống tôn giáo đó.
Người ta tự hỏi tại sao “thiền định” (samadhi) lại quan trọng
đến thế. Bởi v́ “thiền định” (samadhi) hay lối thiền tụ tiêu là
một phương cách huy động tinh thần, huy động nghị lực tâm thần.
“Thiền định” (Samadhi) được xem như một yếu tố
thiết yếu cho việc rèn luyện tâm linh của mọi truyền thống tôn
giáo lớn ở Ấn-Độ bởi v́ điều đó mang lại khả năng tập trung mọi
năng lực tinh thần của hành giả và hướng dẫn tinh thần đến một
đối tượng riêng biệt, giúp tập trung tinh thần vào một điểm duy
nhất.
Tôi tin chắc rằng lời “cầu nguyện, thiền định
hay chiêm niệm” - càng suy lư và phân tích - nếu được liên
kết với nhau hằng ngày th́ hiệu quả trên tinh thần và con tim
hành giả càng tăng trưởng hơn. Việc thực hành tôn giáo trước
tiên nhắm đến sự biến đổi nội tâm hành giả, khiến hành giả đi từ
một trạng thái tâm linh vô kỷ cương, bất trị, phân tâm đến một
trạng thái có kỷ luật, thuần hóa và quân b́nh.
Một người khai triển được khả năng tập trung tinh
thần một cách hoàn hảo trên một tiêu điểm đương nhiên sẽ đạt tới
đích điểm đó một cách dễ dàng hơn. Khi sự chiêm niệm làm thành
một phần bất khả phân ly trong đời sống tâm linh, quí bạn có thể
thực hiện sự biến đổi nội tâm một cách có hiệu quả hơn.
Khi đạt đến trạng thái mới đó, các bạn sẽ khám
phá ra rằng, bằng cách nương theo truyền thống tâm linh riêng
của chính bạn, một thứ khiêm tốn tự nhiên triển nở ở nơi bạn cho
phép bạn giao tiếp tốt đẹp hơn với những con người thuộc những
lănh vực văn hóa và những truyền thống tôn giáo khác nhau. Quí
bạn sẽ ở vào tư thế tốt nhất để thẩm định giá trị và sự phong
phú của những truyền thống khác nhau bởi v́ các bạn đă nhận chân
giá trị đó bằng cách tự đặt ḿnh ngay chính bên trong truyền
thống quí bạn.
Người ta thường cảm nhận những “tư tưởng cố
chấp” đối với tín ngưỡng tôn giáo của ḿnh - xem linh đạo
của tôi là duy nhất và chân chính - mà từ đó phát sinh những mối
bất liên kết đối với những người thuộc các tôn giáo khác. Tôi
nghĩ rằng phương thế hay nhất để chiến thắng lực vô h́nh đó là
h́nh thành một thứ kinh nghiệm về chân giá trị của chính linh
đạo ḿnh bằng một đời sống chiêm niệm, để rồi sau đó nhận chân
giá trị và tính chất cao quí của những truyền thống khác.
Để có một tinh thần ḥa điệu chân chính căn cứ
trên những kiến thức vững chắc, tôi thiết tưởng rất quan trọng
phải “nhận ra những dị biệt căn bản” giữa những truyền
thống đạo giáo. Dĩ nhiên có thể t́m hiểu xem các tôn giáo đă
chia cách nhau ở điểm nào, đồng thời cùng một trật nhận chân giá
trị và những khả năng của mỗi truyền thống. Nhờ vậy, hành giả sẽ
phát huy một nhận thức quân b́nh và ḥa điệu.
Có người quan niệm rằng phương cách hữu lư nhất
để đạt tới sự ḥa điệu và hóa giải những vấn nạn do sự bất khoan
nhượng tôn giáo gây ra là thành lập một “tôn giáo hoàn cầu”
có giá trị cho toàn thể nhân loại. Tuy nhiên, tôi luôn quan
niệm rằng chúng ta phải có những truyền thống tôn giáo khác nhau
bởi v́ nhân loại có biết bao khuynh hướng tâm linh khác nhau:
một tôn giáo không thể thỏa măn hết mọi nhu cầu tâm linh của tất
cả mọi người. Nếu chúng ta cố gắng thống nhất các tôn giáo trên
thế giới thành một tôn giáo duy nhất, chúng ta sẽ đánh mất biết
bao đặc tính và sự phong phú của mỗi một truyền thống tôn giáo
đó.
V́ vậy, tôi thiết tưởng tốt hơn hết, cho dù có
nhiều xung đột phát sinh nhân danh tôn giáo, nên “duy tŕ
tính cách đa dạng” của các truyền thống tôn giáo. Tiếc thay,
nếu sự đa hóa do bản chất có thể thỏa măn một cách tối đa những
nhu cầu tâm linh nhân loại, sự đa hóa đó cũng tự bản chất là một
nguồn tiềm lực phát sinh ra những xô xát và bất ḥa. V́ vậy, tín
đồ của mọi truyền thống tôn giáo phải gia tăng nỗ lực gấp bội để
“vượt thắng sự bất khoan nhượng và thiếu hiểu biết” ngơ
hầu truy tầm sự ḥa điệu.
Đó là mấy điểm tôi xét thấy hữu ích cần được xác
định trước khi bắt đầu cuộc hội thảo. Giờ đây tôi rất nóng ḷng
muốn thăm ḍ những văn bản và những tư tưởng mà tôi không quen
thuộc.
Quí bạn đă trao phó cho tôi một trọng trách nặng
nề và tôi sẽ cố gắng hết sức để đáp lại sự chờ mong của quí bạn.
Tôi nhận thấy đó thật là một vinh dự và đặc ân lớn lao mà quí
bạn đă để dành cho tôi bằng cách yêu cầu tôi dẫn giải những đoạn
chọn lọc về Thánh Kinh, một loại kinh điển mà tôi phải thành
thật thú nhận là chưa biết đến. Tôi cũng xác nhận đây là lần đầu
tiên tôi phải lăn xả vào một cuộc thực tập như vậy. Rồi kết quả
sẽ thành công hay thất bại, tôi hoàn toàn không biết!
Dù sao đi nữa, tôi sẽ cố gắng hết sức ḿnh. Giờ
đây, tôi xin tụng niệm vài câu kệ để cầu mong điềm lành rồi
chúng ta sẽ chiêm niệm.”
Sự khiêm tốn cũng như nụ cười không giả dối.
Những tràng cười của cử tọa đă diễn tả sự ngạc nhiên gây nên bởi
một con người có một đức tính đơn sơ tột độ, hoặc một niềm khát
vọng được khích lệ bởi t́nh bạn. Đó là điểm khởi đầu của một sự
nối kết mà trong vài ngày sẽ dâng cao tới tuyệt đỉnh giao lưu về
t́nh cảm và tư duy trong sự tương kính và cảm mến nhau.
Những ngọn đèn điện đă được tắt đi và, trong ánh
sáng mờ ảo của ban ngày len qua các khe cửa sổ, cử tọa bắt đầu
trầm tĩnh, trong khi Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma nhắm mắt và tụng niệm
bài kệ Tây-Tạng cổ xưa như sau:
“Tràn đầy ân đức như một đỉnh núi vàng,
những vị cứu tinh trong tam giới, được tẩy trừ
tam độc,
là những vị Phật, đôi mắt tựa hồ những đoá sen
nở;
các Ngài là ân phúc thứ nhất thuộc điềm lành
cho thế giới.
Những Giáo Pháp các ngài ban bố th́ siêu diệu
thậm thâm,
vang rền trong tam giới, được tôn vinh bởi chư
thần và nhân loại.
Giáo Pháp thánh thiện đó mang lại sự an b́nh
cho toàn thể chúng sinh;
đó là ân phúc thứ hai thuộc điềm lành cho thế
giới.
Cộng đồng linh thánh được phong phú hóa nhờ sự
tu học,
được tôn vinh bởi loài người, chư thần và bán
thần.
Cộng đồng tối thượng đó rất khiêm hạ, cho dù
chỗ họ ở tràn ngập ánh vinh quang;
đó là ân phúc thứ ba thuộc điềm lành cho thế
giới.
Đấng Đại Giác đă đến trong thế giới nầy;
Giáo Pháp chói lọi như tia sáng mặt trời;
các minh sư huấn dụ như anh em một nhà, rất
mực ḥa đồng;
cầu mong được những ân phúc thuộc điềm lành để
những Giáo Pháp trường tồn miên viễn.”
Hát:
“Mọi sự sẽ tốt đẹp. Mọi sự sẽ tốt đẹp. Và mọi
sự trong trạng thái khác biệt sẽ tốt đẹp.”
Sau ba mươi phút chiêm niệm trong thinh lặng, cha
Laurence Freeman đứng lên ngỏ lời:
“Để chấm dứt buội họp mặt đầu tiên nầy, chúng ta
sẽ xin Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma thắp sáng một ngọn nến tượng trưng sự
hợp nhất và những người được mời thuộc các truyền thống tôn giáo
khác nhau sẽ thắp sáng những ánh nến khác lấy từ ngọn nến của
Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma. Các ngọn nến đó sẽ được thắp sáng măi trong
suốt thời gian hội thảo để tượng trưng sự hiệp nhất và t́nh thân
hữu nối kết các tôn giáo chúng ta.”

|