| |
LINH ĐẠO PHẬT GIÁO
DƯỚI CÁI NH̀N CỦA MỘT KITÔ HỮU
NGUYỄN CHÍNH KẾT
Chương 1
LỜI NÓI ĐẦU
Hiện nay, do chủ trương cởi mở của Giáo Hội qua Công Đồng Vatican II, nhu
cầu hiểu biết về Phật giáo của người Kitô hữu ngày càng tăng. Rất nhiều
người Kitô hữu muốn hiểu biết về Phật giáo để cảm thông sâu xa hơn với đa
số đồng bào ruột thịt chung quanh ḿnh, hầu có thể chia sẻ, trao đổi, và
thắt chặt t́nh đoàn kết yêu thương với họ. Nhưng những Kitô hữu muốn tự
t́m hiểu về Phật giáo thường gặp những khó khăn là:
1. Kinh điển của Phật giáo th́ rất nhiều, nhưng cách tŕnh bày trong đó
cao quá, nếu không có sẵn một số kiến thức nào đó về Phật giáo, th́ không
thể hiểu nổi.
2. Ngoài kinh điển ra, sách tŕnh bày về Phật giáo cũng rất nhiều, nhưng
không mấy cuốn tŕnh bày Phật giáo bằng thứ ngôn ngữ của người Kitô giáo,
thích hợp với người Kitô giáo, để người Kitô giáo chưa quen với những tư
tưởng của Phật giáo có thể đọc và hiểu được.
Tuy nhiên, thật là một mạo hiểm đối với tôi khi viết tập sách này. Đúng
ra, viết một đề tài như thế này chỉ dành cho những nhà chuyên môn có tầm
hiểu biết sâu rộng về cả hai tôn giáo: Phật giáo và Kitô giáo. Nhưng v́
rất mong muốn giúp người Kitô hữu hiểu về Phật giáo nhiều hơn để sự thông
cảm và đoàn kết giữa hai tôn giáo trở nên tốt đẹp hơn, nên tôi mạo muội
tŕnh bày những suy nghĩ thô thiển của ḿnh ra những mong giúp ích cho sự
cảm thông ấy.
Cách tŕnh bày về Phật giáo trong tập sách này chỉ là một cách hiểu, một
cách nh́n, một cách kiến giải cá biệt của một người Kitô hữu về Phật giáo
thôi, không thể được coi là một tiêu chuẩn hay một cách hiểu duy nhất. V́
thế, cuốn sách mới mang tựa « linh đạo Phật giáo dưới cái nh́n của một
Kitô hữu», để không ai hiểu lầm rằng đó là linh đạo Phật giáo dưới
cái nh́n của mọi người.
Người viết tập này là một Kitô hữu đă có một quá tŕnh nhiều năm t́m hiểu,
sống và cố gắng sống những điều Phật dạy, nay muốn tŕnh bày những hiểu
biết thô thiển của ḿnh để giới thiệu Phật giáo cho người đồng đạo ḿnh
hiểu để may ra có thể áp dụng những điều Phật dạy vào trong đời sống Kitô
hữu của họ.
Chắc chắn tập sách này không thể tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong
những bậc cao minh về Phật giáo cũng như Kitô giáo thông cảm và góp ư chỉ
dẫn cho. Và trong khuôn khổ eo hẹp của tập sách này, người viết chỉ có thể
tŕnh bày một vài pháp môn thông thường nhất của Phật mà một người Kitô
hữu trung b́nh có thể hiểu được, không dám tŕnh bày những pháp môn cao
hơn. Những pháp môn được tŕnh bày trong tập này đều là những phương pháp
tu tập có nhiều điểm giống với phương pháp tu tập bên Kitô giáo, hy vọng
người Kitô hữu sẽ lănh hội dễ dàng.
Đối với những độc giả chưa biết nhiều về Phật giáo, tập sách này có thể
giúp họ có một cái nh́n phong phú hơn và đúng hơn về Phật giáo, và tập này
nhắm đến những độc giả ấy. Có thể nói đây là một tập sách có tính cách
nhập môn hơn là đi vào chiều sâu. Đương nhiên, sẽ có những độc giả cảm
thấy những điều được tŕnh bày ở đây là quá thô thiển, c̣n thiếu sót, hoặc
thậm chí bất đồng ư kiến. Điều đó không thể tránh được.
Dẫu sao, đây chỉ là một nỗ lực cá nhân muốn xây dựng t́nh đoàn kết và
thông cảm giữa các tôn giáo. Rất mong được quí độc giả đọc trong tinh thần
cảm thông.
I. Lư do của tập sách này
1. Chủ trương cởi mở của Giáo Hội công giáo
Giáo Hội Công giáo, nhất là từ sau Công Đồng Vatican II, là một giáo hội
cởi mở, luôn luôn t́m hiểu và sẵn sàng đối thoại với tất cả mọi người, mọi
ư thức hệ, mọi tôn giáo để tạo sự cảm thông, yêu thương, để cùng hợp tác
với mọi người xây dựng xă hội và thế giới. Chủ trương ấy đă được Công Đồng
Vatican II diễn tả: «Người công giáo phải t́m cách cộng tác với tất cả
mọi người thiện chí để cổ động cho bất cứ những ǵ là chân thật, công
bằng, thánh thiện và đáng yêu quí (x. Pl 4, 8). Người công giáo hăy đối
thoại với họ, hăy đến với họ cách khôn ngoan và tế nhị, hăy t́m cách kiện
toàn những cơ cấu xă hội và quốc gia theo tinh thần Phúc Âm» (TĐ
14§2). V́ thế, đối với các tôn giáo, Giáo Hội chủ trương: «Trong thời
đại chúng ta, nhân loại càng ngày càng liên kết chặt chẽ với nhau hơn, các
mối liên lạc giữa các dân tộc cũng gia tăng, nên Giáo Hội đặc biệt chú tâm
đến việc liên lạc với các tôn giáo ngoài Kitô giáo» (NK 1§1).
Muốn liên lạc và đối thoại với các tôn giáo một cách có hiệu quả, việc đầu
tiên là phải t́m hiểu, và hiểu cho đúng lập trường của các tôn giáo ấy. Có
hiểu đúng, cuộc đối thoại của chúng ta mới tạo được sự cảm thông sâu xa,
gây được sự đoàn kết và yêu thương giữa những người khác tôn giáo. V́ thế,
Giáo Hội cũng chủ trương: «… phải làm quen với những truyền thống dân
tộc và tôn giáo, phải lấy làm sung sướng và kính cẩn mà khám phá ra những
hạt giống Lời Chúa đang tiềm ẩn trong đó» (TG 11§2).
2. Mục đích của tập sách này
Hiện nay, Giáo Hội đang nỗ lực thực hiện những chủ trương trên. Để góp một
phần nhỏ vào công việc t́m hiểu các truyền thống tôn giáo tại Á Châu, tập
sách này muốn tŕnh bày một cách khái quát và dễ hiểu về Phật giáo cho
các độc giả Kitô giáo. Tại Á Châu, Phật giáo là một trong Tam Giáo tức
ba luồng tư tưởng vĩ đại có tầm ảnh hưởng sâu rộng, đă góp phần rất lớn
vào việc giáo hóa các dân tộc Á Châu trong đó có Việt Nam suốt trên 20
thế kỷ qua. Hiện nay tại Việt Nam, Phật giáo vẫn đang phát triển, và chiếm
một tỷ lệ rất cao trong dân số hiện nay. V́ thế, đối với các Kitô hữu Việt
Nam, việc t́m hiểu Phật giáo chẳng những phù hợp với chủ trương của Công
Đồng Vatican II, mà c̣n là một việc khẩn thiết để có thể liên lạc, cảm
thông, đối thoại và đồng cảm với những đồng bào ruột thịt chung quanh
ḿnh.
Tuy nhiên, nói về Phật giáo và Kitô giáo trong một tập sách nhỏ này th́
cũng tương tự như đem cả thế giới vũ trụ «nhét vào lỗ chân trâu»
(1*), hay như em bé đem nước ở biển đổ vào lỗ nhỏ ở bờ biển (2*). V́ thế,
chúng tôi xin giới hạn đề tài lại, chỉ nói về linh đạo của hai tôn giáo,
tức phần thực hành, phần sống đạo của hai tôn giáo. Giáo thuyết của hai
tôn giáo rất khác biệt nhau, nhưng phần thực hành đạo có rất nhiều điểm
tương đồng, và có thể bổ túc lẫn nhau để làm cho nhau thêm phong phú.
Tập sách này c̣n nhằm so sánh giữa linh đạo Phật giáo và Kitô giáo,
để người Kitô hữu thấy được một số điểm hay, đẹp, tương đồng và dị biệt
giữa hai thứ linh đạo ấy.
3. Các tôn giáo chưa hiểu nhau
Hiện nay, sự hiểu biết của các tín đồ các tôn giáo về tôn giáo của nhau
c̣n rất nhiều hạn chế và thiếu sót. Thật vậy, nói chung, người Kitô hữu
hiện nay chưa hiểu nhiều về Phật giáo nếu không muốn nói là nhiều khi hiểu
sai. Và ngược lại, người Phật tử cũng chẳng hiểu nhiều về Kitô giáo nếu
không muốn nói là lắm khi hiểu lầm (3*). Thông thường, ai ở trong tôn giáo
nào th́ chỉ hiểu rơ được tôn giáo ấy, rất ít người hiểu được rạch ṛi một
tôn giáo khác, và càng ít hơn nữa người vừa hiểu sâu rộng vừa sống và thực
hành thật sự một tôn giáo khác. Thậm chí nhiều người rất cao cấp và trí
thức ở tôn giáo này cũng không hiểu được cho thật đúng một tôn giáo khác.
V́ thế, sự đánh giá lẫn nhau giữa các tôn giáo đôi khi sai lạc và thiên
lệch tới mức đáng ngạc nhiên.
Người ta không hiểu được đúng đắn tôn giáo của nhau, v́ mỗi tôn giáo là
một hệ thống kín (système clos), một thực thể hết sức sống động. V́ thế,
muốn hiểu đúng một tôn giáo, người ta không thể đứng ở bên ngoài tôn giáo
ấy để nh́n vào bên trong mà hiểu đúng được, cũng không thể t́m hiểu các
kinh điển, giáo lư, cách tu tập của tôn giáo ấy bằng những ư niệm sẵn
có của tôn giáo ḿnh. Để hiểu đúng và sâu một tôn giáo, người ta phải
hiểu bằng những ư niệm của chính tôn giáo ấy và phải đích thực sống đời
sống của tôn giáo ấy. Mỗi tôn giáo giống như một con người sống động, gồm
cả «thể chất» và «tinh anh». Một người t́m hiểu một tôn giáo
khác qua kinh điển, giáo lư của tôn giáo ấy mà không thật sự sống tinh
thần tôn giáo ấy th́ giống như một sinh viên y khoa t́m hiểu một người
bằng cách giải phẩu tỉ mỉ thân xác của người ấy, anh ta có thể hiểu rất
đúng rất rơ về những ǵ cấu tạo nên thể chất người ấy, những khuyết tật,
bệnh hoạn của người ấy, nhưng cái biết của anh ta khác xa với cái biết của
người vợ hay của bạn bè người ấy, là những người đă sống thân thiết với
người ấy. Cái biết của những người sau là cái biết về phần tinh anh của
người ấy (gồm tính t́nh, khuynh hướng, ư nghĩ, t́nh cảm… ), và đây mới là
cái biết đúng nghĩa.
Vả lại, mỗi tôn giáo là một kiến giải, một cách nh́n, một cách hiểu về
Thực Tại Tối Hậu. Mà kiến giải của mỗi tôn giáo được h́nh thành trong một
bối cảnh riêng biệt của những dân tộc phát sinh nên tôn giáo ấy hay sống
tôn giáo ấy. Bối cảnh riêng biệt ấy được cấu tạo bởi những yếu tố đặc thù
về lịch sử, văn hóa, triết lư nền tảng, năo trạng, sinh thái, quan niệm
sẵn có, phong tục, nếp sống… của những dân tộc ấy.
4. Hiểu được cốt tủy tôn giáo khác nhờ cốt tủy tôn giáo ḿnh
Thực ra, người ta chỉ hiểu được cốt tủy của các tôn giáo khác khi người ta
hiểu được cốt tủy của chính tôn giáo ḿnh, và người ta chỉ dễ chấp nhận
các tôn giáo khác khi người ta sống đích thực tinh thần của tôn giáo ḿnh.
Những người vội kết án hay chê bai các tôn giáo khác thường chỉ chứng tỏ
sự thiếu hiểu biết của ḿnh về các tôn giáo ấy, hoặc cho thấy ḿnh chưa
sống đích thực và sâu sắc tôn giáo của ḿnh. Thật vậy, làm sao một người
Kitô hữu sống đích thực tinh thần «hủy ḿnh ra không» (kenosis) của
Đức Kitô, đồng thời sống tinh thần «bác ái» hay «yêu thương đại
đồng» của Đức Kitô, thấy ḿnh và người khác là anh em với nhau v́ có
một Cha chung trên trời, lại có thể chê bai một tôn giáo khác vốn cũng chủ
trương một điều tương tự như thế nhưng được diễn tả theo một phương cách
khác? Hay làm sao một người Phật tử đă giác ngộ được chân tánh của ḿnh và
thực sự thường hằng sống với chân tánh ấy, đồng thời thấy được thật tướng
của các pháp là huyễn, là không, là phương tiện, nên không c̣n chấp ngă
chấp pháp… lại đi chê bai Kitô giáo hay một tôn giáo khác vốn cũng là
những phương tiện rất thích hợp với các tín đồ các tôn giáo ấy để đạt
đến những mục đích mà chính ḿnh đang nhắm tới?
Theo quan điểm của chúng tôi, chỉ khi nào người ta nắm vững tôn giáo của
ḿnh, hiểu rơ cốt tủy tôn giáo của ḿnh, đồng thời sống và thực hiện thực
sự cái cốt tủy ấy th́ người ta mới dễ đồng cảm với các tôn giáo khác. V́
các tôn giáo khác cũng có một cốt tủy tương tự như cốt tủy của tôn giáo
ḿnh. Do đó, muốn hiểu được các tôn giáo khác, điều rất quan trọng và bảo
đảm là hăy sống chiều sâu chính tôn giáo của ḿnh. Nhờ sống chiều sâu tôn
giáo của ḿnh, ta mới hiểu được tại sao những người trong các tôn giáo
khác lại sống được chiều sâu tôn giáo của họ. Và mới hiểu được làm sao
những người trong các tôn giáo kia cũng được nuôi dưỡng về mặt tinh thần
một cách đầy đủ và phong phú đến nỗi họ có thể hết sức hạnh phúc giữa bao
nghịch cảnh và có thể hy sinh hết ḿnh cho người khác. Lúc đó họ mới thấy
rằng điều đang nuôi sống tâm linh ḿnh cũng chính là điều đang nuôi dưỡng
tâm linh những người kia, nhưng được bọc trong những «bao b́» khác
nhau, với những h́nh thức tŕnh bày khác nhau.
Chỉ lúc đó, người ta mới đục thủng được lớp vỏ khác nhau của mỗi tôn giáo
được cấu tạo bằng những giáo thuyết, những tín điều, những nghi thức,
những lề luật… hết sức đa tạp và khác nhau, để đi vào cái cốt lơi bên
trong vốn rất giống nhau. Cái vỏ bên ngoài ấy vừa để bảo vệ cái tinh túy
cốt lơi bên trong, nhưng lại vừa gây cản trở khiến người ta không vào được
cái cốt lơi ấy. Khi đă đích thực cảm nghiệm cái cốt lơi của tôn giáo ḿnh,
th́ khi đi vào các tôn giáo khác, người ta sẽ nhận ra ngay cái cốt lơi của
các tôn giáo ấy.
Cũng tương tự như một người ở trong một căn nhà cao cấp, nếu người ấy suy
nghĩ và khám phá ra tất cả những nguyên lư hay định luật về kiến trúc được
áp dụng trong căn nhà của ḿnh, th́ khi đi vào một công tŕnh kiến trúc
cao cấp khác, cho dù công tŕnh ấy có khác lạ đến đâu, người ấy cũng sẽ
thấy những nguyên lư hay định luật kiến trúc mà ḿnh đă khám phá ra trong
chính ngôi nhà của ḿnh được áp dụng ngay trong công tŕnh kiến trúc đó.
Và thấy tất cả những công tŕnh kiến trúc rất đa dạng khác cũng đều áp
dụng chính những nguyên lư hay định luật ấy. Tất cả những nguyên lư hay
định luật ấy chỉ là một. Nhưng những người khác sẽ không thấy được như
thế. Họ chỉ thấy sự khác biệt chứ không thấy được sự nhất quán trong những
khác biệt ấy.
5. Hai thái độ trái ngược nhau
Do đó, khi nghiên cứu các tôn giáo, người ta có thể đi đến hai thái độ
trái ngược nhau: hoặc chỉ thấy toàn là khác biệt không thể dung hợp được
với nhau, hoặc nhận ra có một «sợi giây xuyên suốt», một «trụ
cột chung» làm cốt tủy cho tất cả các tôn giáo đó. Có thái độ này hay
thái độ kia, điều đó tùy thuộc vào họ đă nghiên cứu các tôn giáo đó ở độ
sâu nào, đă vào được cốt tủy của tôn giáo ấy chưa, nhất là đă sống đích
thực cốt tủy của tôn giáo ḿnh chưa.
Thực ra, cái cốt tủy của mỗi tôn giáo không tách biệt khỏi cái vỏ của tôn
giáo ấy, mà luôn luôn hiện diện sâu thẳm trong chính cái vỏ ấy. V́ thế,
nếu ḿnh cảm nghiệm được cái cốt tủy của tôn giáo ḿnh, và biết dùng trí
huệ để phân biệt được cái cốt tủy với những cái phụ thuộc ngoài vỏ của tôn
giáo ḿnh, th́ cũng sẽ nhận ra được cái cốt tủy của các tôn giáo khác ngay
trong cái vỏ của những tôn giáo ấy.
6. Thái độ bất công nên tránh
Nếu chỉ nghiên cứu các tôn giáo khác một cách cạn cợt, đương nhiên người
ta sẽ đánh giá thấp các tôn giáo ấy, coi thường các tín hữu các tôn giáo
ấy, thậm chí có thể có ác cảm, rất bất lợi cho sự cảm thông và sự sống
chung ḥa b́nh. Và nếu có đối thoại, th́ chỉ là đối thoại để chinh phục,
để thuyết phục họ theo ḿnh, để họ giác ngộ được những ǵ ḿnh đang cho là
chân lư. Có nhiều người phê b́nh các tôn giáo khác một cách thiếu hiểu
biết và đầy ngạo mạn. Ai cũng cho tôn giáo của ḿnh là hay nhất, hợp lư
nhất, đồng thời thấy nơi các tôn giáo khác đầy những điều ḿnh cho là phi
lư, không thể hiểu nổi. Thật vậy, chính v́ không hiểu lẫn nhau, nên tín đồ
tôn giáo nào cũng tự hào tôn giáo ḿnh là số một, là siêu việt hẳn so với
những tôn giáo khác, và có thái độ coi các tôn giáo khác là thấp kém. Điều
đó thật dễ hiểu. Người ta thường chỉ hiểu được những ǵ siêu việt của tôn
giáo ḿnh đang theo, c̣n đối với những tôn giáo khác th́ chỉ hiểu được
những ǵ hời hợt ngoài vỏ (4*), cho dù những tôn giáo ấy cũng có những
điều rất siêu việt. Nếu t́m hiểu đến nơi đến chốn các tôn giáo, và không
chấp nê vào cách thức diễn tả khác nhau, có thể chúng ta sẽ thấy cái cốt
tủy siêu việt ở trong mỗi tôn giáo rất giống nhau.
So sánh cái cốt tủy siêu việt của tôn giáo ḿnh với cái vỏ bên ngoài mà
ḿnh tưởng là cốt tủy của các tôn giáo khác, đương nhiên ai cũng phải
cho tôn giáo của ḿnh là siêu việt, là đúng, là hợp lư hơn những tôn giáo
khác, và do đó thường có một thái độ coi thường những tôn giáo khác (5*),
cho dù thái độ bên ngoài vẫn có vẻ là kính trọng. Rất tiếc, đó lại là thái
độ chung của đa số tín đồ trong các tôn giáo.
Thái độ coi thường các tôn giáo khác, tuy không biểu lộ ra bên ngoài, chắc
chắn sẽ bất lợi cho sự liên lạc, cảm thông và đoàn kết giữa các tín đồ của
các tôn giáo. V́ thế, tập tiểu luận này muốn làm nổi bật những điểm cốt
yếu chung của hai tôn giáo: Kitô giáo và Phật giáo, để những người trong
hai tôn giáo ấy hiểu nhau hơn, thấy được những điểm siêu việt chung đằng
sau những khác biệt nhiều khi có vẻ như không thể dung ḥa với nhau được.
II. Mục đích chính yếu của các tôn giáo
1. Hai mục đích
Một trong những mục đích chính của các tôn giáo là giải quyết vấn đề đau
khổ, t́m giải thoát hay hạnh phúc đích thực và lâu dài. Đây là mục
đích đầu tiên rất chính đáng của mọi người khi đến với một tôn giáo, v́
người nào cũng đang phải đối diện với những khó khăn, những đau khổ của
cuộc đời, nên luôn luôn mong ước thoát khỏi những khó khăn, đau khổ đó để
được thoải mái và hạnh phúc. Một mục đích chính yếu khác là giác ngộ được
Thực Tại Tối Hậu và kết hiệp với thực tại ấy (6*). Người ta chỉ đạt được
hạnh phúc thật sự khi khám phá ra, kết hợp và thường hằng sống với Thực
Tại Tối Hậu ấy. Chính mục đích thứ hai này tạo nên cốt tủy và bản chất của
mỗi tôn giáo.
Mục đích thứ nhất là thoát khổ để được hạnh phúc, một hạnh phúc đích
thực và lâu bền cũng là khát vọng sâu xa, căn bản và chính đáng của
tất cả mọi người, có tôn giáo hay không tôn giáo, là điểm nhắm cuối cùng
của mọi chủ nghĩa, mọi ư thức hệ, mọi học thuyết xă hội. Đó chính là mục
đích chung của các tôn giáo và các chủ nghĩa xă hội. Để đi đến đích nhắm
cuối cùng ấy, mỗi tôn giáo, mỗi ư thức hệ, mỗi học thuyết xă hội đều có
phương cách riêng của ḿnh.
Mục đích thứ hai là giác ngộ và kết hợp với Thực Tại Tối Hậu
chính là cách giải quyết của mọi tôn giáo lớn nhằm đạt được mục đích thứ
nhất. Đó cũng là đặc trưng chung của riêng các tôn giáo. Tuy nhiên, để đạt
được mục đích thứ hai này, mỗi tôn giáo lại xây dựng một giáo thuyết, một
hệ thống tín điều, một linh đạo, một phương pháp thực hiện riêng, nói
chung là một con đường riêng.
Đương nhiên những con đường ấy phải khác nhau, v́ mỗi tôn giáo xuất phát
từ những điều kiện văn hóa, triết lư, chính trị, kinh tế, sinh thái khác
nhau. Cũng y như hai dân tộc ở hai nơi xa nhau, với những điều kiện khác
nhau, làm sao có thể có cùng một ngôn ngữ, cùng những phong tục, cùng một
nề nếp suy tư như nhau được. Sự khác biệt là tất yếu. Nhưng tất cả mọi
khác biệt ấy đều chỉ nhằm thực hiện những mục đích giống nhau: ngôn ngữ
nhắm sự cảm thông, phong tục nhằm thực hiện những tương quan xă hội, nề
nếp suy tư nhằm đạt được sự hiểu biết… Từ những khác biệt ấy, đâu có ai
đặt vấn đề ngôn ngữ nào đúng ngôn ngữ nào sai, phong tục nào đúng phong
tục nào sai! Nếu có đặt vấn đề, th́ người ta chỉ đặt: ngôn ngữ này có
những ưu điểm nào và những khuyết điểm nào? phong tục này hay chỗ nào dở
chỗ nào? Và luôn luôn cái nào cũng có mặt mạnh mặt yếu, mặt hay mặt dở…
chẳng bao giờ chỉ có mặt hay mà không có mặt dở, hoặc ngược lại. Thế nhưng
nhiều người lại đặt vấn đề đúng sai đối với các tôn giáo: tôn giáo này là
chân lư, tôn giáo kia là sai lầm!
2. Tương quan giữa hai mục đích
Đối với các tôn giáo, hai mục đích trên giống như hai mặt gắn liền nhau
của một tờ giấy. Muốn đạt được mục đích thứ nhất (thoát khổ và được hạnh
phúc) th́ phải thực hiện mục đích thứ hai (giác ngộ và hiệp nhất với Thực
Tại Tối Hậu). Và hễ đạt được mục đích thứ hai, th́ mục đích thứ nhất tự
nhiên thành tựu. Mục đích thứ hai có vẻ là phương tiện để thực hiện mục
đích thứ nhất. Nhưng thực ra, không thể coi việc thoát khổ và hạnh phúc
là mục đích tối hậu và coi việc giác ngộ Thực Tại Tối Hậu là phương tiện
để đạt được mục đích ấy, mà chỉ nên coi sự thoát khổ và hạnh phúc là
kết quả tất yếu của việc giác ngộ và hiệp nhất với Thực Tại Tối Hậu.
Thật vậy, khi coi hạnh phúc và sự thoát khổ của ḿnh là mục đích tối hậu,
th́ người ta đă lấy chính ḿnh làm mục đích, làm trung tâm, c̣n Thực Tại
Tối Hậu là phương tiện (7*). Mà càng lấy ḿnh làm trung tâm, càng quan
trọng hóa bản thân ḿnh, th́ con người càng lún sâu vào đau khổ. Trái
lại, khi chú tâm vào mục đích thứ hai, lấy Thực Tại Tối Hậu làm cứu cánh,
làm trung tâm, th́ con người nhờ đó mà quên ḿnh đi, không c̣n quan trọng
hóa ḿnh nữa, lúc đó, con người mới đủ thanh thản để thấy được hạnh
phúc vốn có sẵn nơi ḿnh.
Phần chú thích
(1*) Kiểu nói trong kinh Duy Ma Cật.
(2*) H́nh ảnh mà thánh Augustin dùng để ví trí óc hạn hẹp của con người
khi suy nghĩ về Thiên Chúa Ba Ngôi.
(3*) Đôi khi c̣n đi đến chỗ công khai công kích nhau, phê b́nh niềm tin
của nhau, hạ giá lẫn nhau... như trong những cuộc bút chiến qua lại mới
đây chung quanh những điều Đức Gioan-Phaolô II nói về Phật giáo trong cuốn
Bước vào Hy Vọng của ngài.
(4*) Tôn giáo nào cũng có nhiều giáo huấn, nhiều món ăn tinh thần cho
nhiều tŕnh độ tâm linh khác nhau, có «sữa» cho «trẻ sơ sinh»,
có «đồ ăn cứng» cho «người lớn» (x. Dt 5,12-14), và cũng có
những thứ đồ ăn sền sệt cho những người ở giữa. Những người tŕnh
độ tâm linh thấp kém chỉ hiểu được vỏ ngoài của tôn giáo ḿnh theo, chỉ
những người có tŕnh độ tâm linh cao mới hiểu được cái cốt tủy.
(5*) Đó là thái độ của một số người tham dự cuộc bút chiến vừa qua chung
quanh những điều nói về Phật giáo trong cuốn Bước vào Hy Vọng Đức
Gioan-Phaolô II. So sánh những ǵ lư tưởng nhất, cốt tủy
nhất mà tôn giáo ḿnh chủ trương với thực tế mà những tín đồ của
tôn giáo kia đang sống, hay với những cái «phụ thuộc», ngoài vỏ của
tôn giáo kia th́ thật là bất công. So sánh lời vị giáo chủ ḿnh dạy với
lời dạy của một vị chức sắc nào đó trong tôn giáo kia th́ một cách vô t́nh
ḿnh đă hạ giá giáo chủ của ḿnh.
(6*) Đây là mục đích mà tôn giáo nào cũng có và coi là trọng tâm hay cốt
tủy của ḿnh, nhưng người ta thường chỉ thấy được mục đích thứ hai trong
tôn giáo ḿnh, chứ không thấy được hay không thấy rơ trong các tôn giáo
khác.
(7*) Như thế là đảo lộn trật tự : Thực Tại Tối Hậu không c̣n là «tối
hậu» nữa, mà «cái tối hậu» lại là chính ḿnh.
Nguyễn Chính Kết

|