Chương 4

 

CÁC TÔNG PHÁI QUEN THUỘC

 Nguyễn Chính Kết

Bát Chánh Đạo là một pháp môn căn bản của đạo Phật mà bất kỳ tông phái nào cũng phải hành tŕ, và nó cũng là con đường dẫn đưa hành giả đến với những tông phái trong đạo. Có thể nói Bát Chánh Đạo là con đường chung của tất cả mọi tông phái, nhưng mọi tông phái lại đi con đường chung đó theo cách thức riêng của ḿnh. Trong tiểu luận này, chúng tôi không thể tŕnh bày tất cả các tông phái đạo Phật, mà chỉ tŕnh bày ba tông phái có phần nào tương tự như cách tu tập của Kitô giáo, là Luật tông, Tịnh Độ tông, Thiền tông. Đó cũng là những tông phái thịnh hành tại Việt Nam.

Luật tông

Các thứ giới luật

Đường lối tu tập của tông phái này là nghiêm giữ các giới luật do Phật đặt ra, để nhờ đó tránh được các tội lỗi và thực hiện những điều tốt đẹp. Tránh ác hành thiện th́ tâm định, tâm định th́ trí huệ sáng suốt, có trí huệ th́ phá trừ được vô minh, và minh tâm kiến tánh thành Phật.

Khi c̣n tại thế, Đức Phật đă chế ra nhiều loại giới luật khác nhau để thích ứng với mọi căn cơ, tŕnh độ, khuynh hướng, hoàn cảnh của các đệ tử, hầu giúp họ tu hành đi đến giải thoát. V́ khi các đệ tử chưa có đủ trí huệ để có thể tự ḿnh hành động sáng suốt, th́ họ cần có những luật lệ, nguyên tắc để cứ theo đó mà hành động là đi đúng con đường dẫn đến giải thoát. V́ thế, Luật tông thích hợp với những căn cơ chưa đạt tới trí huệ Phật, nhất là với những căn cơ chậm lụt. Tuy đường lối của Đức Phật nói chung là hiểu rơ rồi mới tu, nhưng riêng Luật tông (và Tịnh Độ tông) th́ cứ tu đi rồi sẽ hiểu. Những người tu hành theo tông phái này mới đầu không cần phải hiểu ư nghĩa hay mục đích của giới luật này hay giới luật kia là ǵ, mà chỉ cần tuân thủ trước đă, để rồi sau một thời gian, nhờ việc giữ luật mà tâm trí trở nên sáng suốt. Lúc đó, họ tự động thấy sự hợp lư của những giới luật đó. Nếu đợi hiểu biết tại sao rồi mới chịu giữ th́ không khác ǵ một em bé chỉ chịu bú sữa ăn cơm khi đă hiểu được lợi ích của việc ăn đó. Em bé đó sẽ chết đói trước khi hiểu được điều đó.

Đằng khác, theo giáo lư căn bản của Phật th́ Nghiệp là động lực chính vận hành vũ trụ nhân sinh, định đoạt tất cả đời sống con người. Nghiệp có ba loại: nghiệp của tư tưởng, của lời nói, của việc làm. Nếu các nghiệp ấy đều được thanh sạch, không bị dơ bẩn v́ điều ác, th́ sẽ không bị quả báo. Đó là một điều kiện thuận lợi cho sự giải thoát. Mà muốn các nghiệp được thanh sạch, th́ cách dễ dàng và bảo đảm nhất là cứ việc tuân giữ những giới luật Phật đặt ra. Do đó, Luật tông là một pháp môn tu hành rất bảo đảm.

Bất cứ tŕnh độ căn cơ nào cũng đều có những luật thích hợp: có luật cho giới xuất gia, cho cư sĩ, cho người mới tu cũng như cho người tu đă cao… Nói tổng quát, có thể phân chia luật thành hai loại lớn: Luật Tiểu thừa và Luật Đại thừa.

1. Luật Tiểu thừa: là những giới luật chỉ nhằm ích lợi cho chính bản thân ḿnh, nhằm giải thoát cho cá nhân ḿnh. Đương nhiên khi giữ những giới luật này th́ tha nhân cũng có lợi, như không sát sinh th́ các chúng sinh khác cảm thấy được an toàn về sinh mạng hơn. Nhưng cái lợi của người khác chỉ là kết quả chứ không phải là mục đích. Luật Tiểu thừa gồm có:

a) Ngũ giới: là 5 luật Phật chế ra cho những người sơ cơ, những người tu theo nhân thừa. Đó là những luật căn bản mà tất cả mọi người tu hành đều phải giữ. Tu cao hơn th́ có thêm những luật khác, những luôn luôn phải giữ 5 luật này: 1. cấm sát sinh, 2. cấm trộm cướp, 3. cấm tà dâm, 4. cấm nói bậy, 5. cấm uống rượu.

b) Bát quan trai giới: là 8 luật cho người muốn tiến bộ hơn nữa, để họ tập sống giống như người tu sĩ xuất gia. Gồm 5 luật căn bản trên, cộng thêm 3 luật mới nữa là:

1. Không quá lưu tâm tới diện mạo bên ngoài như trang sức bằng phấn son…

2. Hạn chế các tiện nghi đời sống như giường êm nệm ấm…

3. Tự chủ trong ăn uống như không ăn nhiều quá, không ăn quá ngọ, đồng thời ăn chay trường…

c) Sa-di giới Sa-di-ni giới: 10 giới cho người mới xuất gia.

d) Tỳ-kheo giới Tỳ-kheo-ni giới: 250 giới cho người nam tu theo hạnh xuất gia, và 348 giới cho người nữ tu xuất gia. Hai loại này c̣n gọi là Cụ-túc giới.

2. Luật Đại thừa: là những giới luật nhắm mục đích lợi tha, nhằm đem lại lợi ích và giải thoát cho nhiều người khác. Những giới luật này nhằm phát triển tâm vị tha, vô vị lợi, luôn luôn nghĩ tới nhu cầu, ích lợi và sự giải thoát của người khác. Chẳng hạn như:

a) Bồ-Tát giới: gồm 58 giới, trong đó có 10 đại giới và 48 tiểu giới.

b) Tam tụ tịnh giới: gồm 3 giới căn bản: 1. Không làm điều ác, 2. Làm các việc lành, 3. Làm những việc lợi ích cho chúng sinh (như những việc có tính cách từ thiện xă hội… )

Tất cả các giới luật của Đại Thừa, hay các hạnh của Bồ Tát, hay có thể nói tinh thần của Phật giáo Đại thừa, có thể tóm gọn lại trong sáu hạnh sau đây gọi là «Lục độ ba-la-mật». (1) V́ Phật giáo Việt Nam nói chung là Phật giáo Đại thừa, nên trong mục đích hội nhập văn hóa, chúng ta nên t́m hiểu sâu hơn sáu hạnh này.

Lục độ ba-la-mật

Trong Phật giáo Tiểu thừa cũng có «lục độ». Lục độ là sáu hạnh mà người Phật tử cần phải thực hành trong đời sống để tinh tấn trên con đường đạo. Nhưng lục độ trong Đại thừa là «lục độ ba-la-mật», là lục độ đưa thẳng người ta tới «bờ bên kia», tức giải thoát. Lục độ ba-la-mật vẫn chính là lục độ theo nghĩa thường, nhưng khác ở chỗ làm với một tinh thần «vô ngă»: chính ḿnh làm v́ thấy đó là việc nên làm hay cần làm, nhưng làm mà không chấp rằng ḿnh làm, nên không kể công, thậm chí làm xong rồi quên luôn, không c̣n nhớ cũng không c̣n thấy rằng ḿnh đă làm, cho dù việc đó to tát đến đâu. Do đó, không cầu mong được báo đáp, trả ơn, thậm chí không cầu mong được thưởng do nghiệp báo hay do một thần linh nào. Nói tóm lại, tính chất ba-la-mật trong lục độ, nói theo từ ngữ của Trang tử, là vô kỷ (không làm v́ ḿnh, không chấp rằng ḿnh đă làm, không tự măn v́ ḿnh đă làm được điều tốt), vô công (không làm v́ công, để lập công đức, hay để mong phần thưởng), vô danh (không làm v́ danh, để được khen tặng, nổi tiếng).

1. Bố thí: là biểu hiện ḷng từ bi của ḿnh đối với các chúng sinh khác, bằng cách giúp đỡ, an ủi, khuyến khích, bằng tinh thần hay vật chất. Nói nôm na là «làm ơn» bằng cách này hay cách khác. Có ba cách bố thí: tài thí (bố thí của cải, vật chất, những ǵ ḿnh có), pháp thí (bố thí sự giảng dạy, lời khuyên, an ủi để soi sáng, đem lại b́nh an tâm hồn cho người khác), vô úy thí (giúp người ta thoát khỏi những nỗi sợ hăi do vô minh gây ra như sợ chết, sợ đau khổ, sợ mất mát… ). Trong ba cách bố thí, th́ bố thí cao nhất là vô úy thí, rồi tới pháp thí, và thấp nhất là tài thí.

«Bố thí ba-la-mật» là bố thí một cách tự nhiên, hành động phát xuất từ ḷng từ bi thương người của ḿnh. Thấy nhu cầu của người khác th́ giúp đỡ. Coi đó như một phản xạ tự nhiên của ḿnh, tương tự như khi ḿnh bị ngứa ở chỗ nào th́ găi đúng chỗ nấy. Khi găi xong là quên luôn, không ai găi xong lại kể công với ḿnh là ḿnh đă làm ơn cho ḿnh. Nghĩa là không mong một phần thưởng nào khác ngoài việc thấy chỗ ngứa đă hết ngứa. Niềm vui của người bố thí với tinh thần ba-la-mật, nếu có, chỉ là thấy người ḿnh bố thí được thỏa măn nhu cầu của họ. Thế là đủ, không mong ǵ hơn nữa. Thật ra, đối với người phá được chấp ngă, th́ người khác và ḿnh chỉ là hai h́nh tướng khác nhau của một bản thể duy nhất, giống như các chi thể trong một thân. Có bao giờ cái tay găi ngứa cho cái lưng mà không phải là găi cho «chính ḿnh» đâu? V́ tay và lưng cũng đều là «ḿnh». Đâu có vấn đề ân huệ giữa tay và lưng. Bố thí ba-la-mật là bố thí mà không cần người chịu ơn hay ai khác biết ḿnh là ai, nên sẵn sàng dấu tên ẩn mặt, không mong lời khen thưởng tán thành.

Trong «bố thí ba-la-mật», th́ đối với chính người bố thí, không có bố thí nào cao hơn bố thí nào. Tài thí, pháp thí, hay vô úy thí th́ tùy nhân duyên, tùy hoàn cảnh mà làm, không chọn làm cái cao hơn. Người ta cần thứ nào th́ giúp người ta thứ ấy. Mọi thứ bố thí đều b́nh đẳng.

2. Tŕ giới: là chấp hành nghiêm chỉnh những giới luật trong bậc sống của ḿnh, những bổn phận, nghĩa vụ của ḿnh đối với chính ḿnh, tha nhân, gia đ́nh, xă hội, quốc gia…

«Tŕ giới ba-la-mật» là tŕ giới v́ thấy việc tŕ giới ích lợi cho ḿnh và cho người, tŕ giới một cách tự nhiên v́ thấy ḿnh cần phải tŕ giới, chứ không để tỏ ra ḿnh là người đạo đức, tốt lành, hay để được thưởng công. Tương tự như quả tim đập đúng theo qui luật của nó, v́ nó vốn phải đập như vậy mới đem ích lợi cho thân thể. Khi đă nhận ra tính tất yếu của việc tŕ giới, th́ ḿnh tŕ giới mà không c̣n thấy ḿnh tŕ giới nữa. Cũng như hít thở, ăn uống là qui luật tự nhiên của con người để sinh tồn, ta hít thở, ăn uống mà đâu có cảm thấy ḿnh phải làm như vậy để phù hợp với qui luật. Giữ luật như vậy th́ cũng tương tự như tinh thần của thánh Âu Tinh: «Cứ yêu đi rồi muốn làm ǵ th́ làm», khi đă yêu hay có ḷng từ bi, bác ái (giả thiết là người ấy có trí huệ), th́ bất cứ hoạt động nào của người ấy (đương nhiên làm v́ yêu) th́ cũng đều đúng lề luật. Lúc ấy ḿnh luôn luôn đúng luật mà lại chẳng để ư cũng chẳng tự hào về việc đúng luật của ḿnh.

3. Nhẫn nhục: là vui ḷng chịu đựng những đau khổ, buồn phiền, khiêu khích, lăng nhục mà người khác gây ra cho ḿnh, cũng như sẵn sàng gánh chịu những hậu quả tai hại do lầm lỗi của người khác.

«Nhẫn nhục ba-la-mật» là nhẫn nhục mà không cảm thấy ḿnh nhẫn nhục, v́ nhận ra thực tướng của những điều gây bực bội, khó chịu ấy là «không», không đáng cho ḿnh phải mất đi sự an tĩnh tâm hồn. Vả lại, v́ không chấp ngă, luôn luôn sống trong tâm trạng «vô ngă», không c̣n «cái tôi», nên không đặt nặng vinh, nhục… do đó, luôn luôn nh́n cuộc đời bằng con mắt thản nhiên, điềm đạm. Do trí huệ ḿnh biết điều xảy đến là nhục, nhưng cũng do trí huệ mà không thấy và cũng không lấy đó làm nhục, nên không có tâm trạng chịu đựng, nén ḷng. Nhẫn nhục mà ḷng thanh thản, khác hẳn với sự nhẫn nhục b́nh thường của người đời, trong đó nhẫn nhục chỉ là đè nén không biểu lộ ra ngoài sự tức giận, buồn phiền đang đầy ắp trong tâm hồn.

4. Tinh tấn: là ḷng quyết tâm, chuyên cần, siêng năng, cố gắng để đạt cho kỳ được mục tiêu cuối cùng là «trí huệ giải thoát».

«Tinh tấn ba-la-mật» là tinh tấn tới mức sự tinh tấn đă trở thành bản chất của ḿnh, nên ḿnh cố gắng, siêng năng một cách tự nhiên, không c̣n thấy là ḿnh cố gắng nữa. Hơn nữa, tuy tinh tấn là để đi đến thành công, nhưng tâm hồn không c̣n nóng ruột mong thành công mau tới, làm như tinh tấn để mà tinh tấn, chứ không c̣n là để thành công nữa. Nhờ vậy mới tinh tấn được lâu bền, và dù đích c̣n xa thăm thẳm vẫn cứ b́nh thản đi tới. Nếu quá mong mỏi thành công, mà thấy thành công c̣n quá xa, th́ sẽ nản chí bỏ cuộc.

5. Thiền định: là tập trung tư tưởng, cột tâm ḿnh lại, không để cho tư tưởng ḿnh chạy lung tung, hoặc bằng cách không nghĩ ǵ hết, hoặc chỉ nghĩ về một điều nào đó.

«Thiền định ba-la-mật» là tập trung tất cả tư tưởng của ḿnh vào Chân Như, bản thể của ḿnh, cũng là bản thể của vạn pháp, để luôn luôn sống với bản lai diện mục của ḿnh, đồng thời thấy ḿnh là một với Chân Như, với vạn pháp, tâm không c̣n bị chi phối, ảnh hưởng bởi thế giới hiện tượng nữa. Tuy sống giữa thế giới hiện tượng, vô thường, biến đổi, nhưng tâm không c̣n biến đổi theo thế giới hiện tượng nữa. Nhờ đó, trí huệ ba-la-mật mở ra, khiến ta phát sinh «Tâm vô sai biệt» và «Tâm b́nh đẳng»..

6. Trí huệ (hay Bát-nhă) (2*): là sự sáng suốt, phân biệt chân giả.

«Trí huệ ba-la-mật» là sự hiểu biết rơ ràng và đúng đắn, thấu triệt được chân tướng của vạn pháp. Trí huệ này vượt khỏi cảnh giới «nhị nguyên», khác hẳn với thứ lư trí «biện biệt» b́nh thường, cho dù lư trí ấy có siêu đẳng đến đâu. Đây là thành tựu cuối cùng của việc tu học Phật, là điều kiện cần thiết để được giải thoát thành Phật.

Khi thi hành lục độ đúng với tinh thần «ba-la-mật», hành giả đă được giải thoát một phần nào, hay nói đúng hơn, phải có tâm hồn giải thoát mới có thể có tinh thần «ba-la-mật».

Tính cách của giới luật

Luật hay giới là những nguyên tắc căn bản để những ai tu hành cứ việc tuân thủ, không cần phải suy tư học hỏi nhiều mà vẫn có thể đi đúng đường. Nó tạo cho người tu hành một thói quen, một lề lối sống, lề lối tư tưởng, ăn nói, hành động hợp với đạo giải thoát, để rồi một ngày kia lối sống đó trở thành bản tính của họ. Lúc đó họ giữ luật mà không c̣n cảm thấy luật lệ g̣ bó ḿnh nữa. Và nhờ giữ luật lệ như thế, trí huệ họ sẽ dần dần mở ra, khiến họ nhận ra được cái cốt tủy của lề luật là thực hiện «bi, trí, dũng, (3*)» tức những yếu tố rất cần thiết để đạt được giải thoát. Lúc đó họ sẽ nhận ra rằng luật lệ dẫu sao cũng chỉ là những nguyên tắc chung, cứng ngắc, không phải lúc nào, trường hợp nào cũng phù hợp với những hoàn cảnh đặc thù của đời sống và thực hiện được mục đích của nó là «bi, trí, dũng». Ư thức được như vậy, họ sẽ không c̣n nô lệ cho lề luật nữa, và họ được giải thoát khỏi lề luật. Lúc đó, họ không c̣n hành động, nói năng, suy nghĩ theo lề luật nữa, nhưng theo ḷng từ bi bao la và trí huệ thông suốt của họ, là điều mà họ thành tựu được sau bao năm tu tập theo giới luật.

Không câu chấp măi vào giới luật

Lề luật dẫu sao cũng chỉ là phương tiện nâng đỡ họ lúc đầu, khi đời sống tâm linh của họ chưa vững mạnh, tương tự như những cọc gỗ nâng đỡ cho cái cây c̣n non luôn luôn mọc thẳng. Nhưng khi cây đă vững mạnh, nó không cần tới những cọc đó nữa, nó cứ mọc theo bản tính tự nhiên của nó mà vẫn cứ thẳng, và những cơn gió dù mạnh đến đâu cũng không làm cho nó mọc xiên hay cong được. Như vậy có nghĩa là vai tṛ của lề luật có giới hạn, nó có tính cách thời gian và phương tiện, nó chỉ có nhiệm vụ dẫn ta đi trên một khoảng đường của hành tŕnh tâm linh. Khoảng đường đó giống như một khúc sông phải đi qua, c̣n luật lệ - cũng như các pháp môn phương tiện khác - giống như chiếc đ̣ ta phải dùng để đi qua khúc sông ấy. Sau khi đi hết khúc sông đó, lộ tŕnh mới không c̣n là đi trên nước nữa, th́ ta phải bỏ đ̣ lại bờ sông, chứ không nên v́ quí chiếc đ̣ đă giúp ḿnh đi một quăng đường dài mà vác đ̣ đi theo. Trên lộ tŕnh mới này, chiếc đ̣ không những chẳng lợi cho ḿnh mà c̣n cản trở bước tiến của ḿnh nữa. Đó là giai đoạn ta phải tự giải phóng ḿnh «khỏi ách của lề luật», nói theo ngôn từ Kinh Thánh.

Một câu chuyện thiền minh họa cái lư trên. Hai vị tăng khi trở về tu viện phải băng qua một ḍng suối rộng đầy nước. Lúc đó, trời sắp tối, có một cô gái cũng muốn băng qua suối nhưng không biết làm cách nào được v́ không có phương tiện. Thấy thế, vị sư già bèn bồng cô gái qua suối. Khi về tới cổng tu viện, vị sư trẻ hỏi vị sư già: «Tại sao thầy lại phạm giới cấm đụng chạm tới thân thể phụ nữ như vậy?». Vị sư già trả lời: «Tôi đă bỏ cô gái đó ở ngay bờ suối, tại sao thầy lại đem cô gái về tới tận đây?».

Cả hai vị sư đó đều đúng. Vị sư trẻ đúng v́ tŕnh độ của ông đang thích hợp với việc tuân thủ lề luật một cách tuyệt đối, trí huệ chưa thấy được cái lư phải giải thoát khỏi lề luật. C̣n vị sư già cũng đúng, và đúng trong tŕnh độ cao hơn, tŕnh độ không c̣n nô lệ cho lề luật nữa. Nếu vị sư trẻ mà làm như vị sư già là lỗi luật, là không đúng, là có hại cho tâm linh ḿnh. Ông không bế cô gái mà tâm trí ông đă bị nhiễm h́nh ảnh của cô ấy cho tới khi về tới tu viện, huống ǵ khi ông phạm luật là bế cô gái. Nhưng nếu vị sư già ở tŕnh độ của ḿnh - bế cô gái nhưng tâm không bị nhiễm - mà không làm như vậy th́ cũng không đúng, và như thế là kém trí huệ. Tương tự như việc ăn đồ cúng trong thư Phaolô (1 Cr 8): có người ăn đồ cúng th́ đúng, người khác ăn th́ sai (4*).

Tuy nhiên, bao lâu luật lệ vẫn ích lợi cho hành giả th́ hành giả nên giữ luật. Trên con đường tu tập (cũng như trong cuộc đời), những người có căn trí lanh lợi thường hay ỷ vào sức ḿnh, không chịu ép ḿnh vào khuôn phép kỷ luật, nên cuối cùng chẳng thu hoạch được kết quả ǵ tốt đẹp. Trái lại, có những kẻ căn trí chậm lụt, nhưng lại dễ thành công trên đường đời cũng như trong việc tu tập, là v́ họ nhận biết sự yếu kém của ḿnh, nên chịu khó ép ḿnh vào kỷ luật, vào luật lệ, không tự măn tự cao. Hạng người lanh lợi trên giống như người vẫn c̣n phải đi trên sông mà tưởng đă tới bờ nên bỏ đ̣ để rồi bị ch́m nghỉm giữa ḍng nước.

Tịnh Độ Tông

Một pháp môn dễ dàng mà bảo đảm

Đây là một pháp môn của Phật có đặc điểm là dễ tu dễ chứng, thích hợp với đại đa số quần chúng. Với pháp môn này, bất luận hạng người nào, căn cơ cao hay thấp, trong thời gian hoàn cảnh nào cũng đều tu hành được. Nếu so sánh các tông phái khác như những con đường đi đến giác ngộ và giải thoát, th́ Tịnh Độ tông là một đại lộ bằng phẳng, rộng răi, mát mẻ, an toàn, dễ đi và mau đến, không sợ gặp nguy hiểm hay chướng ngại giữa đường. Chính v́ thế, từ xưa đến nay, các Phật tử cũng như các Tăng Ni, rất nhiều người đă lựa chọn pháp môn này để tu hành. Và tông phái này một phần nào tương tự với lối tu hành và sống đạo Kitô giáo.

Cương yếu

Cương yếu của pháp môn Tịnh Độ tông là Tín - Nguyện - Hạnh (cũng như cương yếu của Thiền tông là Giới - Định - Huệ). Ba điểm này ví như ba chân của một cái vạc, thiếu một chân th́ vạc không đứng được.

1. Tín:

Tín là đức tin vững chắc, là niềm tin tưởng sâu xa, tin đến độ không ǵ lay chuyển được. Đức tin vững chắc sẽ tạo nên một sức mạnh rất lớn. Trong hai cuốn Khởi Tín Luận Tín Tâm Minh, đức tin đă được Mă Minh và Tăng Xán (hai vị tổ của Phật giáo Trung Hoa) đề cao và đặt nặng trong việc tu hành, coi Tín Tâm là yếu tố quan trọng đầu tiên để nhập đạo. Niềm tin trong Phật giáo là tin vào những ǵ đáng tin, những ǵ hợp lư. Thí dụ: về phương diện sức khỏe, tin vào một vị thầy thuốc nổi danh, ai đến với ông cũng đều hết bệnh, là tin hợp lư và sáng suốt. Đó là chánh tín. Chánh tín khác với mê tín. Mê tín là tin một cách mù quáng, không hợp lư, tin những điều không đáng tin, không có cơ sở, thiếu bằng chứng.

Xét về mặt nhân bản th́ đức tin trong Tịnh Độ tông có phần nào tương tự như đức tin Kitô giáo, nghĩa là khác với thứ đức tin trong các pháp môn khác. Ở một số pháp môn khác, Phật giáo lại không chấp nhận loại đức tin này, chẳng hạn có lúc Phật nói: Đừng tin một điều ǵ khi chính ḿnh chưa chứng nghiệm, cho dẫu là Phật nói, cho dẫu cả thế giới đều tin, hay một cuốn kinh điển có uy tín nói… Nhưng để biểu dương pháp môn Tịnh Độ này, Phật lại đề cao đức tin, một đức tin chỉ dựa vào sự khả tín, sự hợp lư chứ không dựa trên chứng nghiệm. Thứ đức tin này rất giống với niềm tin Kitô giáo, nếu có khác th́ khác ở đối tượng tin. Trường hợp này là cứ tin trước rồi sẽ chứng nghiệm sau. Phật nói: «Đức tin là mẹ sinh ra các công đức. Người có đức tin có thể thành tựu quả Bồ Đề» (kinh Hoa Nghiêm), «Đức tin là hạt giống, là của cải tốt lành cho con người ở trần gian». Đức tin trong Tịnh Độ tông có 3 đối tượng:

- Tin vào Phật: v́ Phật hoàn toàn sáng suốt, biết các việc quá khứ, hiện tại cũng như tương lai, thấy tất cả mọi thế giới trong vũ trụ, những điều sâu kín nhất trong ḷng dạ chúng sinh, hiểu biết các pháp rơ ràng, Ngài lại có ḷng từ bi vô hạn trên tất cả mọi chúng sinh, và Ngài không bao giờ dối trá lường gạt ai. Ngài đă quả quyết có một cơi cực lạc gọi là cơi A-Di-Đà, một cơi cực kỳ trang nghiêm thanh tịnh do Đức Phật A-Di-Đà cai quản, thế giới đó cũng có thật như thế giới chúng ta đang sống đây. Như vậy, chắc chắn điều Ngài quả quyết đó phải có thật.

- Tin vào Pháp: nghĩa là tin vào pháp môn Tịnh Độ là pháp môn dễ tu chứng, có bảo đảm chắc chắn, và nếu thực hành đúng theo pháp môn này, chắc chắn sẽ được văng sinh về cơi cực lạc A-Di-Đà.

- Tin vào ḿnh: Tin rằng ḿnh có đầy đủ khả năng và nghị lực để tu pháp môn này, v́ pháp môn này không có ǵ khó vượt sức của ḿnh. Chỉ cần ḿnh tu tập cho đúng và luôn luôn cố gắng là đủ.

2. Nguyện:

Nguyện là ước nguyện, mong muốn, là ư chí quyết tâm thực hiện pháp môn này. Đó là động cơ thúc đẩy hành giả tu hành cho tới khi thành quả. Người ta vẫn nói: «Quyết tâm là mẹ thành công», mọi thành công trên đời đều do quyết tâm, do đó phải lập nguyện cho vững, cho thiết tha. Một kiểu mẫu về «nguyện» là 48 lời nguyện của Phật A-Di-Đà khi c̣n là tỳ-kheo (tu sĩ xuất gia), mà chúng tôi xin trích ra hai lời:

- «Sau khi Ta thành Phật, chúng sinh ở mười phương một ḷng tin theo muốn về cơi của Ta, niệm từ 1 đến 10 niệm, nếu chúng sinh ấy không được văng sinh, th́ Ta thề không thành bậc Chánh Giác».

- «Sau khi Ta thành Phật, chúng sinh ở mười phương nghe danh hiệu Ta, nếu chuyên niệm cơi nước Ta mà không được thỏa nguyện, th́ Ta thề không thành bậc Chánh Giác».

3. Hạnh:

Hạnh là chuyên cần thực hiện pháp môn này theo như chí nguyện đă lập trên, nghĩa là ngày đêm, tâm trí luôn luôn quán tưởng tới Phật, tới các đặc tính siêu việt của Phật…

Nếu tin (tín) mà không ước ao mong muốn và đi đến quyết tâm thực hiện (nguyện) th́ chỉ là tin xuông, vô bổ. Nhưng nếu mong muốn ao ước (nguyện) mà không đem ra thực hành (hạnh) th́ không đem lại kết quả ǵ. Có đủ ba yếu tố Tín, Nguyện, Hạnh là có thể bước lên đường đi đến cơi Cực Lạc. Cuộc hành tŕnh ấy có thể mau hoặc chậm, dễ dàng hoặc khó khăn, nhưng hễ đă có đủ ba yếu tố ấy, th́ chắc chắn sẽ thành công.

Phương pháp thực hành: 5 cách niệm Phật

Tịnh Độ là một pháp môn rất giản dị chỉ cần niệm Phật là đủ. Nhưng niệm Phật có rất nhiều cách nhiều kiểu. Tùy theo căn cơ trí huệ mà mỗi người hiểu và thực hành niệm Phật khác nhau. Sau đây là một vài cách niệm Phật:

1. Tŕ danh niệm Phật:

Tŕ danh niệm Phật là chỉ việc niệm danh hiệu của Đức Phật A-Di-Đà, hay đọc câu «Nam-mô A-Di-Đà Phật». Hành giả cứ chuyên tâm tŕ niệm như vậy suốt ngày, từ khi mới thức dậy cho đến lúc đi ngủ. Lúc nào cũng niệm không để cho gián đoạn, cho dẫu đi, đứng, nằm, ngồi, ăn… Không niệm ngoài miệng th́ niệm trong tâm trí… Và đương nhiên cố gắng tập trung tư tưởng vào việc niệm được chừng nào hay chừng nấy. Tránh niệm như một con vẹt hay như một cái máy. Phải để hết tâm trí vào việc niệm, niệm với tất cả tâm hồn. Đây là cách niệm đơn giản nhất, dễ nhất.

2. Tham cứu niệm Phật:

Tham cứu niệm Phật là vừa niệm vừa suy gẫm câu ḿnh niệm, chẳng hạn quán xem câu niệm nghĩa là ǵ, niệm để làm ǵ, nó từ đâu đến, sẽ đi về đâu, niệm đây là ai niệm, v. v… Nhờ niệm Phật kiểu này, vọng tưởng càng ngày càng ch́m lắng, tâm càng ngày càng định, và dần dần sẽ đạt được «nhất tâm bất loạn».

3. Quán tượng niệm Phật:

Quán tượng niệm Phật là tưởng tượng như ḿnh đang ở trước tượng Phật hay trước mặt Phật, chú tâm chiêm ngưỡng, quán xét các tướng tốt của Ngài đồng thời liên tưởng tới các đức tính của Ngài. Chẳng hạn khi chiêm ngưỡng đôi mắt Phật th́ liên tưởng tới trí huệ Phật, sự thông sáng của Ngài trong cách nh́n sự vật và cách giải quyết vấn đề, chiêm ngưỡng trí huệ của Ngài, cách Ngài sử dụng trí huệ vào lời nói, hành động… Khi chiêm ngưỡng nụ cười hiền ḥa của Phật th́ liên tưởng tới đức tính từ bi hỉ xả của Ngài, chiêm ngưỡng ḷng từ bi hỉ xả đó toát ra thế nào trong mọi cử chỉ, phong thái, lời ăn tiếng nói… Nhờ quán về trí huệ của Ngài mà trí huệ ta càng ngày càng mở ra, tánh «si» của ta nhạt dần. Nhờ quán tâm từ bi của Ngài mà tâm từ bi ấy lây lan sang ta, khiến tính «sân» của ta cũng bớt đi dần.

Càng chiêm ngưỡng các tính tốt của Ngài th́ những đức tính đó càng ảnh hưởng sâu đậm đến con người của ta đến độ trong ta có sự biến đổi nên giống Ngài. Đó là một phương pháp tâm lư rất hay, phần nào tương tự như phương pháp chiêm niệm trong linh hạnh Kitô giáo… Nhờ tập trung tinh thần quán tưởng những cái hay cái đẹp của Ngài, mà những cái hay cái đẹp đó càng ngày càng ăn sâu vào tâm thức ta, thấm nhuần vào tận tiềm thức, vô thức của ta, lâu dần tâm ta sẽ thanh sạch, không c̣n những ư niệm ác độc, và tự động trở nên giống tâm Phật, không cần cố gắng nhiều. Đây là một phương pháp tự kỷ ám thị tuyệt diệu.

4. Quán tưởng niệm Phật:

Quán tưởng niệm Phật là quán tưởng Đức Phật A-Di-Đà ở trước mặt, ngồi hay đứng trên hoa sen, phóng tỏa hào quang, và ta hoàn toàn tràn ngập trong ánh sáng của Ngài. Ta quán tưởng Ngài đang dùng thần lực truyền sức mạnh sang cho ta, biến đổi thân tâm ta, tẩy rửa tâm thức ta, tăng cường trí huệ, ḷng từ bi và can đảm cho ta. Ta quán tưởng sau này ḿnh cũng sẽ thành Phật như Ngài, đầy trí huệ, từ bi, can đảm như Ngài, và ta quán tưởng ḿnh sẽ hành xử như Ngài trong những trường hợp cụ thể của đời sống ta. Ta quán tưởng ḿnh trở thành một với Ngài, ḿnh là Ngài và Ngài là ḿnh.

Ta cứ quán tưởng như thế măi, trong lúc ta đi đứng nằm ngồi cũng như trong lúc làm việc, giải trí, đối nhân xử thế, giải quyết vấn đề, ta cứ quán tưởng ḿnh với Đức Phật A-Di-Đà là một: Ngài đang suy tưởng, nói năng, hành động trong con người ta với tất cả trí huệ, ḷng từ bi và dũng lực của Ngài. Cứ tu tập như thế cho đến khi mở mắt hay nhắm mắt, lúc nào ta cũng thấy h́nh ảnh và phong cách của Đức Phật A-Di-Đà hiện diện trong tâm thức ta, và ta không c̣n thấy con người của ta nữa, mà chỉ c̣n thấy Đức Phật A-Di-Đà chiếm trọn bầu trời ư thức của ta. Được như thế là ta đă tu tập thành thục pháp quán này. Hiệu quả của phương pháp này thật tuyệt vời, biến đổi tâm thức ta mau chóng đến chỗ giác ngộ giải thoát.

5. Thật tướng niệm Phật:

Sau khi đă tu tập thuần thục pháp môn «quán tưởng niệm Phật» trên, ta đạt tới chỗ giác ngộ rằng ta với Phật là một, và từ đó đi tới giác ngộ ta và thế giới vũ trụ này là một. Lúc đó ta không c̣n cảm thấy có ta có người, có tự thể và tha thể, không c̣n thấy có người niệm và Phật là đối tượng niệm nữa, mà chỉ thấy hiện hữu có các MỘT, cái DUY NHẤT, chỉ c̣n có một cái TÂM yên lặng chiếu soi, hoàn toàn tịch tịnh, trong đó không c̣n có hai, không c̣n đối đăi (có-không, thiện-ác, cao-thấp, năng-sở, bỉ-thử, nhĩ-ngă, v. v… ). Đến chỗ này, kinh Di-Đà gọi là được «nhất tâm bất loạn», là đạt đến chỗ «vô niệm».

Vô niệm không phải là không niệm, mà niệm được tới cái không, tức niệm tới Bản Thể Chân Như, là Chân Tâm không sinh diệt, không khứ lai, b́nh đẳng như như, không phải hư không cũng không phải thực hữu: đây là một ư niệm hoàn toàn xa lạ với năo trạng nhị nguyên, với nguyên lư đồng nhất, triệt tam của luận lư học. Cái MỘT đó chính là thật tướng của vũ trụ vạn vật. Thật tướng là không có tướng, nghĩa là không có h́nh tướng, h́nh thể, đặc tính… Tất cả những ǵ ta thấy được nơi vạn vật đều là tướng, là những giả tướng (giả hay huyễn trong Phật giáo có nghĩa là chóng qua, hay thay đổi, không trường tồn). Kinh Tứ Thập Nhị Chương có chép: «Niệm đến chỗ vô niệm mới là chân niệm». Niệm Phật tới mức độ này mới hoàn toàn rốt ráo, cao siêu. Khi đạt tới đây ta mới chứng nghiệm được sự an lạc trong tâm hồn và sự giải thoát ngay tại thế.

Qua những cách niệm Phật như thế, ta thấy Tịnh Độ tông là một pháp môn rất dễ dàng, ai tu theo cũng được, dù là một người thất học, trí huệ chậm lụt, hay một bậc thức giả quán chúng, v́ trong pháp môn này có đủ mọi tŕnh độ. Pháp môn này sẽ dần dần đưa dẫn người tu theo nó lên một tŕnh độ tâm linh rất cao. Chính v́ thế, pháp môn này rất phổ biến.

Đó là Tịnh Độ Tông, một tông phái của Đại Thừa rất thịnh hành tại Việt Nam và tại những nơi Đại Thừa thịnh hành. Song song với Tịnh Độ Tông, c̣n một tông phái Đại thừa khác rất quan trọng là Thiền Tông.

Thiền Tông

Thiền là ǵ?

Thiền tông là một tông phái Phật giáo lấy Thiền làm phương pháp tu tập của ḿnh. Mà Thiền là ǵ th́ các vị đạo sư, thiền sư không mấy ai định nghĩa rơ ràng cả. Cứ tu thiền đến khi giác ngộ người ta sẽ hiểu Thiền là ǵ, tùy theo sự giác ngộ của ḿnh. Chánh niệm và chánh định trong Bát Chánh Đạo của Tứ Diệu Đế là một cửa ngơ dẫn ta vào Thiền.

Tuy nhiên, chữ Thiền hiểu theo nghĩa gốc của nó là «để tâm vắng lặng không cho khởi các vọng tưởng tư lự», do tiếng Phạn là Dhyâna, phiên âm sang tiếng Việt là Thiền, hay Thiền-na. Và b́nh thường, người ta hiểu ThiềnThiền định. Thiền định là chữ ghép tắt của hai từ Thiền-na (Dhyâna) và Định tâm (Samadhi), có nghĩa: tập trung tư tưởng vào một đối tượng duy nhất, không cho tán loạn, để cho tâm thể được vắng lặng, tâm dụng được sáng tỏ, mạnh mẽ, để quan sát và suy nghiệm chân lư. Nhưng, tu Thiền tông càng cao, chữ Thiền càng được hiểu xa nghĩa gốc của nó. Lúc đó Thiền có thể có nghĩa là trí huệ, là chân lư, là Đạo, là Phật tánh, là Tâm…

Thiền tông nói chung được chia làm hai tŕnh độ: Tiểu thừa và Đại thừa. Thiền Tiểu thừa chỉ thực hành Thiền theo nghĩa gốc của từ ngữ, là tham thiền nhập định, ngồi thiền (tọa thiền) để trụ tâm vào một ư tưởng, một chân lư, một đức tính nào đó, nhờ đó trí huệ ngày càng sáng ra. Tuy nhiên, Thiền Tiểu thừa không đem lại những chứng quả mau lẹ, lớn lao và toàn diện như Thiền Đại thừa, mà chỉ đem lại những kết quả hạn hẹp, chậm chạp, tuần tự, tu một pháp th́ chỉ trừ được một phiền năo. Trong phạm vi hạn hẹp của tiểu luận này, chúng tôi không muốn nói nhiều hơn về Thiền Tiểu thừa, v́ nó không đem lại nhiều ích lợi cho độc giả. Chúng tôi xin nói về Thiền Đại thừa.

Thiền Đại thừa là pháp môn chỉ dành riêng cho những người thượng căn rất thông minh và lanh lợi tu hành. Yếu tố căn bản của Thiền Đại thừa là trí huệ. Thiền giả phải lấy trí huệ để quay về với chính ḿnh, với ư thức, với tâm thức, với những ǵ sâu thẳm nhất, căn bản nhất của hiện hữu ḿnh. Nếu thiếu trí huệ, thiền giả khó thâu hái được kết quả, và tốt hơn, nên theo một pháp môn dễ hơn.

Tâm: cốt lơi của mọi tông phái Phật giáo

Sách Đại Học có câu: «Dục b́nh thiên hạ, tiên trị kỳ quốc. Dục trị kỳ quốc, tiên tề kỳ gia. Dục tề kỳ gia, tiên tu kỳ thân. Dục tu kỳ thân, tiên chánh kỳ tâm». Nghĩa là: Muốn làm cho thiên hạ thái b́nh th́ trước tiên hăy làm cho nước ḿnh được b́nh an thịnh trị đă. Muốn nước thịnh trị th́ phải làm cho gia đ́nh ḿnh trên dưới thuận ḥa đă. Muốn nhà ḿnh thuận ḥa th́ ḿnh phải tu thân thành người hoàn hảo đă. Muốn tu thân th́ phải làm cho TÂM ḿnh ngay thẳng, trong sáng đă. Như vậy, muốn thành tựu được việc lớn như b́nh thiên hạ cho đến việc nhỏ như tu thân, th́ cái khởi đầu quan trọng nhất là TU TÂM.

Đó là câu nói của Đạo Nho, nhưng rất phù hợp với chủ trương của Đạo Phật. Và theo đạo Phật, muốn tu tâm th́ trước hết phải biết được cái tâm của ḿnh. V́ tu tâm mà không biết tâm là ǵ th́ cũng giống như muốn sửa chữa một vật mà không biết vật ấy là vật nào, ở đâu, như thế làm sao tu sửa được? Do đó, căn bản của mọi pháp môn tu hành là giác ngộ được tâm ḿnh. Thật vậy, khi luận về Tối Thượng thừa, Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn quả quyết: «Không biết được bản tâm, không thấy được bản tánh, học đạo vô ích».

Vấn đề thật rơ ràng: nội dung quyết định của việc tu tập là phải «NGỘ TÂM KIẾN TÁNH». Người cố gắng tu hành hết sức chuyên cần, tu đủ mọi pháp môn, nếu không ngộ được tâm ḿnh hầu lấy đó làm căn bản để tu, th́ cũng giống như một nông dân kia muốn trồng lúa, nên sớm tối cày ruộng, nhổ cỏ, bón phân, tưới nước đầy đủ, nhưng không hề biết điều cốt yếu là phải gieo hạt giống xuống, nên không gặt được hạt lúa nào, và tất cả công lao sức lực bỏ ra hoàn toàn vô ích. Trong kinh Lăng Nghiêm, Phật ví những người tu hành mà không giác ngộ bản tâm giống như người muốn nấu cơm mà lại dùng cát để nấu. V́ TÂMNhân, là hạt giống sinh ra Phật Quả. Việc tu hành và các pháp môn chỉ là Duyên, là những ǵ tạo điều kiện thuận lợi cho nhân, cho hạt giống phát triển thành cây và sinh hoa kết quả. Có nhân mà không duyên, hay có duyên mà không nhân đều không thành tựu được quả. Cũng vậy, giác ngộ bản tâm mà không tu, hay tu mà không giác ngộ được bản tâm, đều không thể thành tựu Phật Quả.

Có thể nói TÂM là một của cải rất lớn, là kho tàng quí nhất của con người, nhưng lại là cái mà con người hay bỏ quên, nhiều khi không biết tới. Nó là trụ cột, là cốt lơi của đời sống tâm linh: không ư thức được bản tâm ḿnh, làm sao dám nói là ḿnh có đời sống tâm linh? Và cái mà người tu Phật đắc được sau bao nhiêu năm tu hành là cái ǵ? Chính là cái mà ai cũng có sẵn: BẢN TÂM của ḿnh. Đắc Đạo là đắc cái ḿnh vốn có sẵn, là thấy được cái «ở ngay trước mắt» ḿnh, cái mà ḿnh sử dụng hằng ngày hằng phút trong đời sống: cái TÂM của ḿnh. H́nh ảnh nhà Thiền dùng để chỉ những người tu hành, t́m đạo mà chưa giác ngộ được bản tâm là «cưỡi trâu t́m trâu» hay «cá ngoài biển đi t́m nước».

«Tâm» là ǵ?

Chữ TÂM trong Phật giáo có rất nhiều nghĩa. Theo Phật Học Từ Điển của Đoàn Trung C̣n, TÂM được định nghĩa như sau:

1. Về vật chất: Tâm là:

a) trái tim.

b) chỗ chính giữa: như trung tâm, tâm điểm.

2. Về tinh thần: Tâm là:

a) ḷng dạ, nỗi niềm cảm động (như: an tâm, loạn tâm, ưu tâm, hỷ tâm).

b) nội (bề trong), trái nghĩa với ngoại (bề ngoài) (như tâm nhăn: con mắt bên trong).

c) chí, ḷng cương quyết (như: nhất tâm, chuyên tâm).

d) ư (citta), tức tâm ư (như: tham tâm, sân tâm, si tâm, bồ-đề tâm).

e) thức (vijnna), tức tâm thức (người ta vẫn thường gọi A-lại-da thức tâm).

g) trí, trí thức, tâm trí (như: phàm tâm, thánh tâm, Phật tâm).

h) cái linh giác chung của chúng sinh, vạn vật, vũ trụ, tức là tâm linh, thần hồn (như trong kinh Niết Bàn, quyển 34, Phật nói: «Những chúng sinh ở đời làm thiện làm ác, khi xả thân th́ tứ đại đều tan ră hư hoại, lúc ấy người nào đă làm nghiệp thiện th́ cái tâm đi lên, kẻ nào làm nghiệp ác th́ cái tâm đi xuống»).

i) căn bản, chỗ phát sinh, chỗ trụ cốt (như: tâm địa, tâm vương).

k) tánh, tức tâm tánh (như: tâm b́nh, tâm trực).

l) chỗ bí mật (như: tâm sự, tâm truyền. Tâm ở đây đối lại với sắc, trần, cảnh, thân).

Tất cả những định nghĩa trên chỉ đưa ra cho chúng ta một ư niệm về TÂM mà Phật muốn nói đến, v́ không định nghĩa nào diễn tả được cái TÂM ấy.

Cái TÂM mà chúng ta muốn nói tới ở đây là một điều rất khó định nghĩa. Người ta chỉ có thể nói những ǵ không phải là TÂM, mà không thể nói TÂM là ǵ. Nhưng cái TÂM đó được quan niệm (chứ không phải định nghĩa) như sau: TÂM không có h́nh tướng nên không thể thấy được, nghe được, ngửi được, cảm nhận được, nhưng chính nhờ TÂM mà ta thấy, nghe, cảm nhận, biết được mọi thứ. Có thể nói TÂM là cái ǵ sâu thẳm nhất nơi con người, sâu thẳm hơn cả cái «tôi», cái bản ngă của ta nữa. Không thể nhận thức được cái TÂM một cách trực tiếp, mà chỉ có thể nhận thức được cách gián tiếp qua những biểu hiện muôn h́nh vạn trạng của nó. Có thể dùng h́nh ảnh ḍng điện để một phần nào minh họa cái TÂM đó. Ḍng điện không thể nh́n thấy, nghe thấy, ngửi thấy… nhưng người ta có thể biết được là có ḍng điện khi rờ vào thấy bị giật, khi thấy bóng đèn sáng, thấy quạt máy quay, thấy bàn ủi hay bếp điện nóng lên, thấy tủ lạnh tỏa hơi lạnh ra… Điện th́ sinh ra ánh sáng, sức nóng, chuyển động… Đó chỉ là những biểu hiện của ḍng điện chứ không phải là chính ḍng điện. Và chỉ qua những biểu hiện đó ta mới biết là có ḍng điện hay không. Cũng vậy, nghe, thấy, biết, nhận thức, ư thức… chỉ là những biểu hiện của TÂM chứ TÂM không phải là những cái đó. Và nhờ những biểu hiện đó mà trí huệ ta mới nhận thức được có cái TÂM. Chỉ có trí huệ mới nhận ra cái TÂM đó thôi.

Nhưng giác ngộ được TÂM không phải chỉ là có một ư niệm về TÂM như thế. Ngôn ngữ chỉ có thể đưa ta tới một giới hạn nào đó, để rồi trí huệ của con người phải vượt qua giới hạn đó mới giác ngộ được. Sự vượt qua này là một bước nhảy vọt. Giác ngộ bản tâm cũng chính là «kiến tánh». Tánh ở đây là tánh của TÂM. Kiến tánh là thấy được tánh của TÂM, là giác ngộ được «Bản Lai Diện Mục» của ḿnh, là thấy được cái căn bản của chính ḿnh, cái nền tảng của hiện hữu ḿnh. Giác ngộ được tự tâm, hay kiến tánh, chính là khởi điểm của pháp môn Thiền tông.

Giác ngộ

Giác ngộ và cảm nghiệm được «Tự Tâm» ḿnh là bước đầu cần thiết phải thực hiện để có thể phát triển đời sống tâm linh lên cao măi. Trong việc tu hành của Phật giáo, việc giác ngộ được «Tự Tâm» này ví như hạt giống, là yếu tố tối cần để việc tu hành đi đến thành công, tức thành Phật và giải thoát. Không có hạt giống th́ việc trồng trọt trở thành vô ích, cho dù có chăm chỉ cày bừa, nhổ cỏ, bón phân, tưới nước đầy đủ.

1. Tâm ḿnh là Phật

Tổ dạy: «Tự Tâm ḿnh là Chân Phật, Tự Tánh ḿnh là Chân Pháp. Ngoài Tâm không có Phật, và ngoài Tánh không có Pháp», và «Tánh tức là Tâm, Tâm tức là Phật, Phật tức là Đạo, Đạo tức là Thiền, một chữ Thiền thánh phàm suy lường chẳng đặng». Nghĩa là sau khi giác ngộ được tâm ḿnh, hành giả phải quay vào bên trong để thấu suốt nội tâm ḿnh. Lúc này hành giả không c̣n cầu Phật ở ngoài ḿnh nữa, v́ Phật không thể có được ở ngoài tâm ḿnh. Tâm ḿnh chính là một kho tàng trí huệ, là nguồn mạch từ bi, là nơi phát sinh ra sức mạnh vô tận. V́ thế, không cần phải t́m trí huệ, từ bi, hay sức mạnh ở đâu khác, tất cả đều ở tâm ḿnh mà ra. Và tâm ḿnh chính là Phật. Phật chính là bản lai diện mục của ḿnh. Một câu chuyện thiền minh họa cái bản lai diện mục này:

Một con sư tử có thai sắp tới ngày sinh con. Hôm đó nó phải nhảy qua một con suối rộng. V́ quá ráng sức, nên khi nhảy qua được ḍng suối, nó liền sinh ra một con sư tử con rồi chết. Sư tử con được một bầy nai đem về nuôi. Sư tử con lớn lên giữa bầy nai và sinh hoạt y như những con nai khác: cũng ăn cỏ, cũng kêu be be. Sư tử con càng ngày càng lớn, nhưng không hề biết «bản lai diện mục» của ḿnh. Một hôm, một con sư tử khác trông thấy con sư tử nai cũng to như ḿnh, nhưng lại hiền lành ăn cỏ giữa bầy nai, nó bèn chạy tới xem sao. Sư tử nai thấy sư tử thực tới th́ cũng sợ hăi chạy bán sống bán chết như những con nai khác. Con sư tử thực bèn bắt cho bằng được con sư tử nai, và chỉ cho nó thấy rằng nó là sư tử chứ không phải nai. Con sư tử nai mới đầu hết sức ngạc nhiên, không thể tin được. Nhưng khi con sư tử thật cho nó nh́n thấy bóng ḿnh dưới mặt hồ trong, tập cho nó ăn thịt uống máu những con thú khác, và tập cho nó gầm lên, bấy giờ nó mới hoàn toàn thấy nó là sư tử. Từ khi «giác ngộ» được ḿnh là sư tử, thấy được «bản lai diện mục» của ḿnh là sư tử, con sư tử nai bỗng nhiên cảm thấy như sức mạnh, sự oai vệ hùng hổ của một con sư tử đến với ḿnh. Thế là từ đó, nó là sư tử, nó không c̣n sống cái kiếp nai như trước nữa.

Người chưa giác ngộ được Phật tánh của ḿnh, th́ thấy ḿnh là chúng sinh, phải cầu lụy Phật, v́ cảm thấy ḿnh yếu đuối, dốt nát, cũng như con sư tử nai tưởng ḿnh là nai, thấy sư tử thật hay những thú dữ khác th́ sợ hăi chạy trốn. C̣n người giác ngộ được tâm ḿnh là Phật, thấy được thật tánh của ḿnh, th́ nhận ra ḿnh không c̣n là chúng sinh yếu đuối nữa, không c̣n thấy phải cầu lụy Phật ở bên ngoài ḿnh nữa, mà thấy ḿnh chính là Phật, với tất cả ḷng từ bi, trí huệ và dũng lực của một vị Phật, tương tự như con sư tử nai kia khi nhận ra được «bản lai diện mục» của ḿnh, thật tánh của ḿnh là sư tử vậy.

Câu chuyện trên chỉ minh họa phần nào thực tế thôi, chứ thực tế không nhanh chóng được như vậy, trừ trường hợp ḿnh đă dứt được hết «nghiệp chướng oan khiên» mới có thể «kiến tánh thành Phật» ngay được như trường hợp Huệ Năng. C̣n b́nh thường th́ sau khi giác ngộ, cần phải có một thời gian tu tập lâu dài nữa mới đi đến kết quả. Cũng như trong thực tế, một con sư tử nai, khi «giác ngộ» ḿnh là sư tử, th́ không phải chỉ trong một ngày một phút nó có thể bỏ được thói quen ăn cỏ kêu be be của loài nai, hay bỏ được tính nhát đảm sợ sệt mà nó đă huân tập từ khi bắt đầu sống với bầy nai. Thời gian đầu khi con sư tử nai mới «giác ngộ» ḿnh là sư tử, chắc chắn nó vẫn cảm thấy run sợ khi gặp một con chó sói hay một con cáo. Muốn thành một con sư tử chính hiệu, nó cũng cần một thời gian «tu tập».

Cũng vậy, con người v́ sống trong vô minh biết bao đời bao kiếp, đă huân tập không biết bao nhiêu điều ác điều xấu, nhiễm tập không biết bao nhiêu thói quen không tốt, lề lối tư tưởng không đúng, nên cũng cần có một thời gian khá lâu mới có thể bỏ được tư cách và phong cách chúng sinh để tập lấy tư cách và phong cách của một vị Phật. Nhưng chắc chắn một điều là khi đă biết bản chất ḿnh là Phật th́ việc tu tập để «trở nên» một vị Phật chính hiệu sẽ dễ dàng và mau chóng hơn khi chưa giác ngộ rất nhiều. Cũng như con sư tử nai nếu không bao giờ «giác ngộ» ḿnh là sư tử, th́ cũng không bao giờ trở thành sư tử chính hiệu được, phải biết bản chất của ḿnh là sư tử th́ mới có thể thành sư tử đúng nghĩa được.

2. Chân Tâm và vọng tâm

Tâm ta chính là Phật. Nhưng sở dĩ cho tới nay ta chưa phát huy được hết khả năng của tâm Phật đó, là v́ nó như một kho tàng bị chôn sâu dưới đất, bị cả một lớp đất thật dày che kín. Lớp đất đó chính là «vọng tâm», là cái mà chúng ta thường tưởng lầm là tâm ḿnh. Thật vậy, rất nhiều người lấy những cái không phải là tâm ḿnh làm tâm ḿnh. Tất cả những định nghĩa về TÂM trong tự điển (đă nói trên): như tâm ư, tâm thức, tâm trí, ngay cả cái bản ngă mà ta đang ư thức đây… đều không phải là «Chân Tâm», đừng nói ǵ đến tư tưởng, kiến thức, hay thất t́nh lục dục của ḿnh… Tất cả những giả tướng hay vọng tưởng ấy che lấp Chân Tâm ḿnh giống như đám mây che lấp mặt trời, khiến ánh sáng và năng lực mặt trời không chiếu xuống được. V́ thế, muốn hiển lộ Chân Tâm th́ phải dẹp trừ vọng tâm, vọng tưởng.

Thực ra, Chân Tâm vọng tâm chỉ là hai mặt của cùng một thực tại duy nhất là TÂM, tương tự như mặt trước mặt sau của cùng một tờ giấy. Nếu mắt ta bám chắc vào mặt trước th́ không thể thấy được mặt sau. Vọng tâm là cái sinh diệt thay đổi, là cái tâm bám chặt vào ngoại vật, thay đổi theo ngoại vật: khi ngoại vật phù hợp với ḿnh th́ vui, bất lợi cho ḿnh th́ buồn, giận… C̣n Chân Tâm là cái tâm không sinh diệt, không thay đổi, bất biến, không dính với ngoại vật, độc lập không thay đổi theo ngoại vật. Vọng tâm và Chân Tâm, cả hai chỉ là hai «cách nh́n» (tạm dùng từ này để diễn tả) về cùng một thực tại: một đằng là cái nh́n của phàm phu, một đằng là cái nh́n của người giác ngộ. Chỉ cần thay đổi cái nh́n th́ lập tức phàm phu biến thành giác ngộ, chúng sinh thành Phật.

Như vậy, Ngộ chỉ khác nhau ở cách nh́n, ở vị thế nh́n. Do đó, từ mê biến thành ngộ có thể chỉ cần một tích tắc, mà cũng có thể là muôn ngh́n kiếp. Rất dễ mà cũng rất khó. Đối với người đại căn, có trí huệ sắp thành tựu, th́ chỉ trong tích tắc, chỉ cần một lời nói nào đó là đủ để họ nhận ra được Chân Tâm của ḿnh, tương tự như một quả xoài chín mùi, chỉ cần một làn gió nhẹ đủ làm nó rời khỏi cành cây. Kinh Phật có nói: «Niệm trước là chúng sinh, niệm sau là Phật». Nhưng đối với người tiểu căn thiểu trí th́ việc đó quả là khó, họ có thể nghe không biết bao nhiêu bài thuyết pháp về Chân Tâm, đọc không biết bao nhiêu kinh điển, mà vẫn không sao ngộ được Chân Tâm, y như một quả xoài c̣n non, gió có mạnh đến đâu cũng không làm rụng được.

3. Huệ Năng và Thần Tú

 

Trong lịch sử Thiền tông, ta thấy có hai trường hợp điển h́nh cho hai loại người trên, đó là Huệ Năng và Thần Tú. Thần Tú là một nhà trí thức Trung Hoa đă từng làm quan ở triều đ́nh, tu theo Phật làm đệ tử Hoằng Nhẫn (tổ thứ năm của Thiền Trung Hoa). Thần Tú thông minh, học rộng, biết nhiều, rất tài giỏi. Ông là người biết nhiều kinh điển Phật nhất trong đám đệ tử của Hoằng Nhẫn, và cũng đă tu theo Hoằng Nhẫn lâu năm, được Ngũ Tổ cho làm Giáo Thọ Sư cho đám đệ tử. Thế mà ông vẫn không thấy được Chân Tâm của ḿnh. Trong bài kệ bầy tỏ sự chứng ngộ của ḿnh cho Thầy xem, Thần Tú viết:

Nguyên văn:

Thân thị Bồ Đề thụ,

Tâm như minh cảnh đài,

Thời thời thường phất thức,

Dật sử nhá trần ai.

Dịch nghĩa:

Thân là cây Bồ Đề,

Tâm như đài gương sáng,

Thường ngày hằng lau quét,

Chớ cho dính bụi trần.

Rơ ràng là cái tâm mà Thần Tú nói chỉ là vọng tâm, là cái tâm sinh diệt thay đổi, là cái tâm có h́nh có tướng. V́ đài gương là h́nh tướng, mà sáng cũng là h́nh tướng, dù gương có trong có sáng tới đâu th́ cũng đă có ngày sinh ra và sẽ có ngày hư hoại. Hoằng Nhẫn xem xong, phê b́nh là ông chưa thấy được tự tánh, tức bản tâm.

C̣n Huệ Năng là một tiều phu, vừa nghèo nàn vừa thất học, khi chưa gặp Hoằng Nhẫn, chỉ mới nghe người khác đọc kinh Kim Cương, tới câu: «Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm», liền giác ngộ ngay bản tâm ḿnh. Khi đến tu với Hoằng Nhẫn được mấy tháng, thấy Thần Tú làm bài kệ trên, Huệ Năng bèn chê rằng: «C̣n đứng ngoài cửa rào», và ông làm một bài kệ khác họa lại vần bài kệ trên:

Nguyên văn:

Bồ Đề vô bổn thụ,

Tâm phi minh cảnh đài,

Bổn lai vô nhất vật,

Hà xứ nhá trần ai.

Dịch nghĩa:

Bồ Đề vốn không cây,

Tâm không phải đài gương,

Xưa nay không một vật,

Chỗ nào dính bụi trần.

Ngũ tổ đọc xong bài kệ, biết Huệ Năng tuy mới tu mà đă giác ngộ được tự tâm, nên về sau được Ngũ tổ chọn làm người nối truyền của ḿnh, và Huệ Năng sau là Lục tổ. Điều đó cho thấy trong Phật giáo, kiến thức uyên bác về Phật học là một chuyện, mà việc giác ngộ được «TỰ TÂM» lại là một chuyện khác. Không phải cứ những người có tiến sĩ Phật học, hiểu rộng biết nhiều, giảng dạy nhiều về Phật học là đương nhiên giác ngộ cao sâu đâu. Và cũng không phải không biết nhiều về Phật học là không thể giác ngộ được. Sự giác ngộ không nhất thiết tùy thuộc vào tŕnh độ văn hóa hay Phật học, mà tùy thuộc vào căn trí (5*) lanh lợi hay chậm lụt cũng như ḷng quyết tâm đi t́m chân lư của mỗi người. Trong lịch sử Phật giáo, có nhiều trường hợp tṛ giác ngộ trước thầy, hoặc giác ngộ thâm sâu hơn thầy, và thầy nhờ tṛ mà giác ngộ, hoặc nhờ tṛ mà giác ngộ thâm sâu hơn (6*).

Sau khi giác ngộ được TÂM, Huệ Năng đă diễn tả nhận thức của ông về cái TÂM đó như sau: «Không ngờ TÂM ḿnh vốn sẵn thanh tịnh, vốn không sinh diệt, có sẵn đủ các pháp, vốn không lay động và hay sinh muôn pháp».

4. Đốn ngộ rồi tiệm tu

Sau khi thấy được bản tâm (tức kiến tánh) th́ lại bắt đầu tu tập trên căn bản cái TÂM đó. Nhà Thiền nói: «Kiến tánh rồi khởi tu» hay «đốn ngộ rồi tiệm tu». Đốn ngộ là ngộ ngay tức khắc, chỉ trong giây lát, c̣n tiệm tu là tu từ từ, phải có thời gian. Và phương pháp tu của Thiền là: «Dĩ TÂM vi tông, dĩ vô môn vi pháp môn», nghĩa là lấy TÂM ḿnh làm căn bản, lấy «cửa không» làm cửa pháp. Cổ Đức có nói: «Tức TÂM tức Phật, không TÂM vi đạo», nghĩa là TÂM ḿnh chính là Phật, lấy «TÂM không» làm con đường tu hành. «TÂM không» là cái TÂM trống rỗng, có tâm mà làm như không có, nghĩa là không chứa đựng ǵ cả: dùng «TÂM không» để ứng xử với ngoại cảnh, nên gặp nghịch cảnh không buồn, không giận, không nổi nóng, và tâm lúc nào cũng b́nh an.

Khởi tu là luôn luôn ư thức và sống với bản tâm ḿnh, nghĩa là sống hoàn toàn ư thức như đă nói ở phần chính định và chính niệm. Nhờ luôn luôn ư thức được bản tâm, ta sẽ không để cho vọng tưởng và ngoại cảnh lôi kéo, ảnh hưởng ḿnh. Sở dĩ phải tiệm tu là v́ tập quán sai lầm đă in quá sâu vào bản tính ta lâu năm nhiều kiếp, không thể một lúc mà buông bỏ hết được, chỉ có thể buông bỏ dần dần. Đốn ngộ hay kiến tánh mới chỉ là ngộ được , là biết được lư lẽ, lư thuyết, tức chỉ mới thành tựu về mặt lư thuyết. C̣n tiệm tu là thực hành về SỰ, là thực tế, là dữ kiện. Kiến tánh là ngộ được để tu hành, c̣n tiệm tu là thực hiện chính SỰ tu. LƯ SỰ gồm đủ mới đúng là chánh pháp của Thiền tông.

Đốn ngộ và tiệm tu phải đi với nhau. Tu hành mà chưa đốn ngộ, chưa nhận ra được Chân Tâm, th́ cũng giống như người làm ruộng mà chưa có hạt giống, hay lấy sỏi đá làm hạt giống: cứ cày bừa, bón phân, nhổ cỏ… mà không bao giờ có được hạt lúa. C̣n người đă giác ngộ mà không chịu tu hành, tức không áp dụng vào đời sống những điều ḿnh đă giác ngộ, th́ cũng giống như người làm ruộng tuy có hạt giống, nhưng không chịu cày bừa, tưới nước, bón phân, nhổ cỏ… khiến cho hạt giống không nảy mầm hoặc không phát triển được.

Mê và Ngộ

Như thế, điểm khởi đầu của tu Thiền Đại thừa là giác ngộ được tự tâm, tức tánh giác của ḿnh. Không thấy được tự tâm, không biết ḿnh có tánh giác là , là lầm chấp, c̣n trái lại, thấy được tự tâm, nhận ra ḿnh có tánh giác hằng hữu là Ngộ, là Giác. Người mê không nhận ra tự tâm hằng hữu, th́ hay chấp vào h́nh tướng bên ngoài, nên tâm thường bị dính mắc vào ngoại cảnh, bị ngoại cảnh chi phối. Mà ngoại cảnh th́ khi thuận lợi khi bất lợi, do đó, tâm trở nên điên đảo theo ngoại cảnh, phát sinh đủ thứ buồn phiền, đau khổ. C̣n người giác ngộ được tự tâm hằng hữu th́ nhận ra được thực tướng hay bản chất đích thực của vạn pháp - tức vạn sự vạn vật -huyễn, là giả (7*), là do chính cái tâm hằng hữu duyên sinh ra (8*). V́ thế, người giác ngộ không c̣n bị ngoại cảnh chi phối, thân tâm trở nên an tịnh, nhờ đó trí huệ sáng suốt và được giải thoát. Tổ dạy: «Bởi chấp tướng nên sa địa ngục, v́ xem các pháp là không, nên được giải thoát. (9*)»

Tuy nhiên, việc giác ngộ có thể có nhiều tŕnh độ khác nhau, có thể cạn hoặc sâu. Theo