Chương 5

 

SUY TƯ, ĐỐI CHIẾU GIỮA HAI LINH HẠNH

 

Nguyễn Chính Kết

 

Hai linh hạnh của hai tôn giáo có nhiều điểm tương đồng, nhưng cũng có nhiều điểm dị biệt. Chúng ta thử nêu lên một số những điểm đồng dị ấy để đào sâu sự hiểu biết của chúng ta về linh hạnh hai tôn giáo này.

Về mục đích tu tập

Thoát khổ và con đường thoát khổ

Mục đích các pháp môn tu tập của Phật giáo là giải thoát, nói nôm na là thoát khổ, là được hạnh phúc. Muốn được giải thoát, con người phải diệt trừ những nguyên nhân gây ra đau khổ, tức những lối sống xấu xa độc ác, nhất là sự dốt nát, vô minh, và tích cực hơn nữa là làm những điều tốt, ích lợi cho ḿnh và tha nhân, trở nên người tốt, hoàn hảo, nhưng nhất là phải có trí huệ sáng suốt.

Trí huệ sáng suốt là yếu tố chính yếu giúp con người giải thoát. Khi có trí huệ sáng suốt, người ta sẽ nhận ra con đường nào dẫn tới hạnh phúc, giải thoát, và đường nào dẫn tới đau khổ, trói buộc. Trong Phật giáo, thứ trí huệ mà người tu hành phải nhắm tới là trí huệ rốt ráo hay trí huệ cứu cánh, là trí huệ giúp người ta t́m ra giải pháp tốt nhất có thể để vừa lợi ḿnh, vừa lợi người, vừa lợi trước mắt, vừa lợi lâu dài. Để t́m ra được giải pháp ấy, trí huệ sẽ giúp người ta phân biệt được đúng đắn cái nào chân, cái nào giả. Trong Phật giáo, nguồn gốc cuối cùng của đau khổ là «vô minh», là «tà kiến», là tưởng giả là chân, và không nhận ra cái chân đích thực. Do đó, chỉ cần thay đổi cách nh́n cho sáng suốt, nghĩa là đạt được trí huệ rốt ráo, tự khắc người ta sẽ được giải thoát ngay giữa cảnh khổ mà người ta đang sống. Có thể nói, linh hạnh Phật giáo nhắm đạt đến trí huệ ấy.

Tu tập theo Kitô giáo đồng nghĩa với nỗ lực trở nên hoàn hảo, trọn lành, trở nên Chân, Thiện, Mỹ, hay nói theo từ chuyên môn của Kitô giáo là nên thánh. Nên thánh là trở nên trọn lành hoàn hảo, nhưng không phải thứ trọn lành hoàn hảo theo nghĩa không có khuyết điểm, làm được nhiều việc thiện, cho bằng nên giống Thiên Chúa, (1) hay cụ thể hơn là nên giống Chúa Giêsu. Và để nên giống Ngài, người Kitô hữu chỉ cần nhận ra được t́nh yêu bao la của Ngài đối với ḿnh, đáp lại t́nh yêu ấy bằng cách chân thành yêu mến Ngài, đồng thời tạo nên một tương quan sống động, thân mật và cá nhân với Ngài. Nhờ t́nh yêu ấy thúc đẩy và nhờ sức mạnh hay ân sủng phát sinh từ tương quan mật thiết ấy, người Kitô hữu dễ dàng bắt chước Ngài, làm những ǵ Ngài muốn ḿnh làm, và dần dần trở nên giống Ngài. Trong khi yêu mến và nỗ lực nên giống Ngài, th́ hạnh phúc sẽ đến như một hậu quả tất yếu: một thứ hạnh phúc siêu nhiên, bất chấp nghịch cảnh, đau khổ. Hạnh phúc đó là tiền thân cho thứ hạnh phúc tràn đầy và bất diệt sau cái chết. Như vậy, có thể nói linh hạnh Kitô giáo nhắm phát triển t́nh yêu đối với Thiên Chúa và tương quan thân mật với Ngài.

Kitô giáo không nhấn mạnh nhiều đến khía cạnh đau khổ, cho dù đó là một thực tế phũ phàng không ai phủ nhận được, và tự nhiên theo bản năng th́ ai cũng muốn thoát khổ. Mục đích của việc tu tập Kitô giáo là nhắm thực hiện chân, thiện, mỹ trong đời sống của ḿnh, để ḿnh cũng trở nên chân, thiện, mỹ. Cái gương mẫu chân thiện mỹ mà người Kitô hữu lấy làm lư tưởng là chính Thiên Chúa, như Đức Kitô đă nói: «Các con hăy nên toàn thiện như Cha các con trên trời là Đấng Toàn Thiện» (2*). Người Kitô hữu trở nên toàn thiện nhờ t́nh yêu của họ đối với Thiên Chúa. Giống như một đứa con, v́ yêu cha mẹ, nên làm tất cả những ǵ cha mẹ mong muốn, nhờ đó trở thành đứa con ngoan, hoàn hảo.

 

Thoát khổ bằng cách chấp nhận đau khổ

Qua một số lời Phật nói cho những người sơ cơ, thuộc loại «ăn sữa», nhiều người Kitô hữu - thậm chí cao cấp - cũng như một số Phật tử, thường hiểu mục đích quan trọng nhất của đạo Phật là giải thoát con người khỏi đau khổ, chứ không thấy được mục đích thứ hai quan trọng hơn, chính yếu hơn, và là điều kiện phải có để đạt được sự giải thoát. Và phải hiểu được cách đạo Phật thực hiện mục đích thứ hai này như thế nào mới nắm được cốt tủy của đạo Phật. Đối với mục đích thứ nhất, người ta càng coi trọng việc giải thoát và hạnh phúc của bản thân th́ càng bị ràng buộc vào đau khổ. Phải coi nhẹ những mục đích vị kỷ ấy, con người mới có thể giải thoát và hạnh phúc. Điều đó được diễn tả qua câu chuyện của Triệu Châu (3*) và bà lăo:

Một bà lăo hỏi Triệu Châu:

- Tôi mang cái thân nữ này bị năm giây ràng buộc, gây chướng ngại cho Phật Tánh, làm sao thoát ly được những phiền trược ấy?

- Xin nguyện cho mọi người sanh lên cơi trời, c̣n thân tỳ tiện này nguyện tiếp tục chịu trầm luân một ḿnh trong biển khổ (4*).

Sẵn sàng «chịu trầm luân một ḿnh trong biển khổ», coi nhẹ giải thoát và hạnh phúc của ḿnh, không sợ đau khổ, đồng thời sẵn sàng hy sinh bản thân cho hạnh phúc của người khác, th́ mới được giải thoát và hạnh phúc.

Cũng vậy, nhiều Phật tử - cũng như nhiều người Kitô hữu chưa thông đạt giáo lư Kitô giáo - hiểu mục đích cuối cùng của Kitô giáo là «lên thiên đàng», một mục đích rất vị kỷ, với những phương tiện rất ư là buồn cười của giới Kitô hữu b́nh dân, mà không thấy được phần cốt tủy của Kitô giáo là tương quan thân mật đầy yêu thương giữa ḿnh với Thiên Chúa. Quả thật, trong giới Kitô hữu b́nh dân, nhiều người coi mục đích cuối cùng của việc giữ đạo là được lên thiên đàng, được hạnh phúc vĩnh cửu, và để đạt mục đích ấy, người ta phải giữ đạo, phải phụng thờ Thiên Chúa, phải tuân theo ư Ngài (5*). Như thế, rơ ràng là người ta lấy ḿnh làm mục đích, c̣n Thiên Chúa chỉ là phương tiện.

Nhưng thực ra, chỉ có Thiên Chúa mới xứng đáng làm mục đích tối hậu cho con người, chứ con người không thể lấy ḿnh làm mục đích cho ḿnh được. Lấy ḿnh làm mục đích, coi Thiên Chúa và tha nhân chỉ là phương tiện, đó cũng chính là bản chất của tội lỗi, từ tội nguyên tổ đến các thứ tội khác. Đó là muốn đảo lộn trật tự vốn có ở trong vũ trụ, muốn «đảo chính», phản nghịch, nổi loạn. Với một mục đích vị kỷ như thế, th́ việc tuân hành những luật lệ tôn giáo, việc tuân phục thánh ư Thiên Chúa - để được hạnh phúc - đều mang tính cách g̣ ép, bó buộc, và tôn giáo trở thành một cái ǵ g̣ bó, phản tự do. Chứ thực ra tôn giáo vốn làm cho con người tự do hơn.

Kitô giáo là đạo t́nh yêu chứ không phải là đạo vị kỷ. Mà t́nh yêu th́ có chiều hướng ngược hẳn với vị kỷ. Lấy hạnh phúc của ḿnh làm mục đích, coi Thiên Chúa và tha nhân chỉ là phương tiện để thực hiện mục đích ấy th́ không phải là tinh thần của Kitô giáo. Chính Chúa Kitô đă nói lên sự bất hợp pháp của tinh thần vị kỷ ấy: «Ai muốn cứu mạng sống ḿnh th́ sẽ mất, c̣n ai liều mất mạng sống ḿnh v́ Thầy th́ sẽ t́m được mạng sống ấy» (6*), hay «Ai yêu quí mạng sống ḿnh th́ sẽ mất, c̣n ai coi thường mạng sống ḿnh ở đời này th́ sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời» (7*). Như thế, càng coi trọng hạnh phúc hay sự giải thoát của ḿnh, th́ nó càng dễ vuột ra khỏi tay ḿnh, và càng coi nhẹ hạnh phúc hay sự giải thoát ấy để gắn bó với Thiên Chúa, th́ càng dễ đạt được nó.

Như vậy, hạnh phúc vĩnh cửu hay thiên đàng chỉ có thể là hậu quả hay phần thưởng tất yếu của tương quan thân mật và tốt đẹp với Thiên Chúa, chứ không thể là mục đích của tương quan ấy. Khi coi Thiên Chúa và tha nhân chỉ là phương tiện để đạt được hạnh phúc của ḿnh, dù đời sống ḿnh có vẻ tốt đẹp đến đâu, có làm được nhiều việc tốt đến đâu, th́ cũng chẳng có giá trị bao nhiêu trước mặt Thiên Chúa v́ nó không phát xuất từ t́nh yêu đích thực: «Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt mà không có t́nh yêu thương, th́ cũng chẳng ích ǵ cho tôi» (8*). Chỉ có t́nh yêu đích thực mới làm đẹp ḷng Chúa: «Ta muốn t́nh yêu chứ không muốn lễ vật» (9*).

Khía cạnh tích cực của đau khổ

Tuy nhiên, cả Phật giáo và Kitô giáo nhấn mạnh đến khía cạnh tích cực của đau khổ. Đau khổ không phải là một cực h́nh vô ích, mà nó thường mang lại nhiều lợi ích. Phật nói: «Phiền năo tức Bồ Đề (… ) Tất cả các phiền năo đều là hạt giống Phật. Tỷ như nếu ḿnh chẳng lặn xuống biển sâu, th́ không thể được châu báu vô giá. Cũng vậy, nếu ḿnh chẳng vào trong biển phiền năo, ắt ḿnh không thể được của báu là cái Trí huệ biết hết tất cả» (10*). Như vậy, giải thoát của Phật giáo vẫn là chấp nhận đau khổ cuộc đời này một cách anh dũng: giải thoát mà không ĺa đau khổ, đó mới là giải thoát đích thực. Muốn «khỏi mặc áo ăn cơm» th́ cách tốt nhất vẫn là «cứ mặc áo ăn cơm» với tâm hồn thanh thản, vui tươi chấp nhận (11*). «Tự do chính là ung dung trong mọi ràng buộc, và hạnh phúc chính là tự tại giữa bao khổ đau» (12*). Như vậy, theo Phật giáo, giải thoát hay hạnh phúc oái oăm thay lại nằm ngay trong đau khổ, ngay giữa khổ đau, đến nỗi có thể nói «phiền năo tức Bồ Đề» (13*). Thiền sư Suzuki viết: «Dầu có tranh đấu mấy đi nữa, Niết Bàn vẫn phải t́m trong bánh xe sinh tử luân hồi. Dù là một thiền sư đă chứng đạo hay là một gă thất phu, không ai thoát được ngoài định luật thiên nhiên. Hễ bao tử lép th́ ai cũng đói như nhau, hễ trời rét th́ ai cũng phải mặc thêm áo ấm» (14*). Ông cũng viết: «Phải nhờ những cơn đau khổ thắt ruột và những xáo trộn nội tâm, ta mới gột sạch tất cả những uế trệ của nội tâm, và con người mới hồi sinh lại với một nhăn quan hoàn toàn mới lạ phóng vào cuộc sống… Thiền sẽ trở nên sáng tỏ như ban ngày một khi tinh thần đă trải qua những cuộc chiến đấu ấy» (15*). Không có giải thoát đích thực nào ngoài khổ đau. Thật là một thực tế bi hùng! Và giải thoát thật sự chính là sự thay đổi cái nh́n về những khổ đau đó.

Kitô giáo th́ nhận ra đau khổ có giá trị cứu chuộc, đền tội. Chính Đức Kitô đă dùng đau khổ để cứu chuộc nhân loại. Bài học của mầu nhiệm «Vượt Qua» nằm ở chỗ này: muốn hạnh phúc th́ phải vượt qua đau khổ, muốn sống lại th́ phải trải qua tử nạn, «không có đổ máu, không có ơn cứu chuộc». Đó là định luật tất yếu nằm trong ư định của Thiên Chúa, đến nỗi chính Thiên Chúa cũng phải dùng con đường ấy. Thiên Chúa đă không dùng phương cách không đau khổ để cứu lấy hạnh phúc của con người. Nếu đó không phải là sự khôn ngoan, nếu đó không phải là định luật tất yếu của Ngài, th́ Ngài đă không làm như vậy. Sướng và khổ không thể tách rời nhau: muốn sướng th́ phải chấp nhận khổ, không chấp nhận khổ th́ không thể sướng được.

Sự hoán chuyển giữa hạnh phúc và đau khổ

1. Nơi cá nhân

Hạnh phúc chỉ có thể đổi được bằng đau khổ, và không có hạnh phúc nào mà không được đánh đổi bằng đau khổ. Một thành công rực rỡ, một tương lai sáng lạn chỉ dành cho những người biết chịu khó, biết chăm chỉ làm việc, biết chấp nhận đau khổ. Khổ trước th́ sướng sau, c̣n nếu muốn sướng trước th́ tất cái khổ sẽ đến sau (16*). Sự song đối và gắn liền nhau giữa hai nguyên lư mâu thuẫn nhau ấy đă được Đức Kitô nói đến nhiều lần, chẳng hạn qua những câu như: «Hăy qua cửa hẹp mà vào, v́ cửa rộng và đường thênh thang đưa đến diệt vong… C̣n cửa hẹp và đường chật th́ đưa đến sự sống…» (17*), hay «Ai đưa ḿnh lên sẽ bị hạ xuống, ai hạ ḿnh xuống sẽ được nâng lên» (18*), hay « (Đức Kitô) lại c̣n hạ ḿnh, vâng lời cho đến chết và chết trên thập tự. Chính v́ thế, Thiên Chúa đă siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu» (19*).

2. Giữa người với người

Hạnh phúc và đau khổ có thể hoán chuyển lẫn nhau giữa người này và người kia. Hạnh phúc của người này có thể là kết quả do đau khổ của người kia, và ngược lại. Do đó, rất nhiều người chấp nhận ḿnh đau khổ để người ḿnh yêu thương được hạnh phúc. Chẳng hạn, cha mẹ hy sinh (tức chịu khó, chịu nhục, chịu khổ) để con cái được ấm no, đầy đủ. Chấp nhận đau khổ để người ḿnh yêu được hạnh phúc, đó là một cách tuyệt vời nhất để tỏ lộ t́nh thương. Thực tế này giải thích sự cứu chuộc của Thiên Chúa qua sự đau khổ và cái chết của Đức Giêsu Kitô: «Không t́nh yêu nào cao cả hơn t́nh yêu của người đă hy sinh tính mạng (hay đau khổ) cho người ḿnh yêu» (20*).

3. Hai thứ công bằng

Trong Phật giáo, theo luật tuyệt đối công bằng của nghiệp báo, người khác không thể gánh chịu đau khổ do tội lỗi ta gây ra, cũng không thể hưởng những hạnh phúc do việc thiện ta làm. Ai làm người ấy chịu (hay hưởng) những hậu quả (hay kết quả) việc ḿnh làm, không ai chịu (hay hưởng) thay thế ai được (21*). Luật nhân quả, nghiệp báo tác động một cách hết sức máy móc, vô ngă trên tất cả mọi người, không trừ ai. Điều này thật hết sức hợp lư.

Nhưng trong Kitô giáo, vừa có luật công bằng vừa có t́nh yêu (22*): do t́nh yêu, người này có thể gánh dùm hậu quả do tội lỗi của người kia, và đương nhiên một người cao thượng như vậy sẽ không mất phần thưởng của ḿnh cho dù không có ư nhắm tới phần thưởng ấy. Và phần thưởng của người ấy sẽ vô cùng lớn lao khi người ấy làm điều đó chỉ v́ t́nh yêu chứ không phải v́ phần thưởng (23*). Một sự công bằng tương đối và thấm nhuần t́nh yêu tuy không hợp lư bằng một sự công bằng tuyệt đối và máy móc, nhưng nó dung ḥa được lư và t́nh. Công bằng có t́nh yêu là thứ công bằng của cha mẹ đối với con cái (24*), là thứ công bằng kiểu «làm theo khả năng và hưởng dụng theo nhu cầu» mà rất nhiều nhà xă hội học muốn thực hiện cho xă hội (25*).

Trong hai thứ công bằng trên, mỗi thứ đều có cái hay cái dở của nó, đó là lẽ thường, ta không nên phê b́nh chỉ trích cái nào (26*). Thực ra, hai thứ công bằng trên chỉ là những cách giải thích của con người để thỏa măn sự đ̣i hỏi của lư trí con người (vốn có nhiều chiều hướng khác nhau). Nói theo Phật giáo, đó là pháp «giả lập», là kiến giải, cần phải biết «rời mắt khỏi ngón tay để thấy mặt trăng». Sự công bằng tối hậu trong vũ trụ sẽ tốt hơn, tuyệt vời hơn, và không thể diễn tả phù hợp được với những ư niệm thiên lệch và nghèo nàn của con người.

Về nguồn gốc năng lực để thoát khổ

Con đường tự lực

Nhiều người cho rằng có một điểm khác biệt căn bản giữa Phật giáo và Kitô giáo về nguồn gốc năng lực để giải quyết vấn đề đau khổ. Để giải quyết vấn đề đau khổ, để đi đến giải thoát, người Phật tử phải hoàn toàn tin tưởng vào chính ḿnh, quy hết trách nhiệm cho ḿnh: ḿnh khổ là do ḿnh gây ra (27*), và ḿnh có hết khổ hay không cũng là do ḿnh. Nguyên nhân của cái khổ hiện tại (hay kiếp này) có thể do ḿnh gây ra trong quá khứ (hay kiếp trước), và hậu quả của một việc thiện ḿnh làm trong hiện tại (hay kiếp này) có thể là quả «hết khổ» cho ḿnh mà trong tương lai (thậm chí qua kiếp sau) mới hưởng được (28*). Đó là chủ trương tự lực của Phật giáo. V́ thế, cần phải có đại hùng, đại lực, nghĩa là ư chí sắt đá để quyết tâm tự ḿnh thoát khổ, không trông chờ sự giúp đỡ của ai cả.

Con đường phối hợp tự lực và tha lực

Đang khi đó, Kitô giáo cho rằng mọi sự không chỉ tùy thuộc vào ḿnh mà c̣n tùy thuộc vào ơn Chúa nữa: «Không có Ta, các con không làm được việc ǵ cả» (29*). Nhưng nhiều người quên điều này: Kitô giáo cũng cho rằng mọi sự không chỉ tùy thuộc vào Thiên Chúa, mà c̣n tùy thuộc vào chúng ta nữa. Thánh Âu-Tinh nói: «Để dựng nên ta, Thiên Chúa không cần tới ta. Nhưng Thiên Chúa không thể cứu chuộc được ta nếu không có ta cộng tác». Lập trường của Kitô giáo về vấn đề này có thể được diễn tả bằng câu thơ của Nguyễn Du trong Truyện Kiều:

«Có Trời mà cũng có ta!»

Không phải chỉ có Trời, mà c̣n có ta. Cũng không phải chỉ có ta, mà c̣n có Trời nữa. Do đó, con người vừa phải nỗ lực thực hiện tất cả những ǵ ḿnh phải làm, vừa phải cậy trông vào Thiên Chúa trong mọi chuyện, phải cầu nguyện xin Chúa giúp sức, ban ân, ban sức mạnh, thúc đẩy. Không chỉ nỗ lực mà không cậy trông, cũng không chỉ cậy trông mà không nỗ lực, nhưng phải vừa nỗ lực vừa cậy trông. Chính khi tin tưởng và phó thác mọi sự cho Chúa, chính khi xác tín rằng ḿnh được Thiên Chúa giúp sức ban ơn để đi đến thành công, người Kitô hữu sẽ nhận được sức mạnh thật sự để hoàn thành việc của ḿnh. Nghĩa là với sự trợ giúp của Chúa do niềm tin vững chắc và sự quyết tâm thực hiện của ta, ta có thể làm được bất cứ việc ǵ, dẫu là chuyện chuyển núi dời non (30*). Tóm lại, vừa phải nỗ lực vừa phải cậy trông.

Hai con đường một mục đích

Xét trên b́nh diện nhân loại - theo tâm lư học - th́ cả hai phương thức trên đều tạo nên sức mạnh tinh thần để đi đến thành công. Khi qui hết trách nhiệm cho ḿnh, qui hết khả năng thành công vào ḿnh, con người mới dễ tập trung hết mọi năng lực của ḿnh vào công việc, nhờ vậy mà thành công. Đó là một cách hữu hiệu để có năng lực. Nhưng cũng có cách khác có vẻ như ngược lại. Khi có một niềm tin chắc chắn ḿnh được ơn trên ban sức, phù trợ, niềm tin này sẽ tác động vào tâm lư con người, khiến con người vững tâm tin tưởng, nhờ đó, sức mạnh tinh thần tự động tăng lên và tập trung lại dễ dàng.

Mỗi phương thức trên đều tạo ra được những bậc thánh nhân có sức mạnh tâm linh phi thường. Những người chưa chứng ngộ được một sức mạnh phi thường như thế bằng một trong hai con đường trên, thiết tưởng chưa có đủ thẩm quyền để phê b́nh, khen chê về bất kỳ con đường nào. Thực ra con đường nào cũng đều có những sở trường sở đoản riêng của ḿnh, và mỗi con đường thích hợp với khuynh hướng tâm linh của từng người. Vấn đề không phải là chọn con đường nào tốt cho bằng chọn con đường thích hợp. Tuy nhiên, một người hiểu ư Phật th́ sẽ không chấp vào từ ngữ Phật dùng. Để phá chấp cho những người quá tin tưởng vào tha lực - đây là thái độ chung của những người tin vào tôn giáo - Phật nhấn mạnh đến thái độ tự lực. Nhưng con đường Trung Đạo (31*) mà Phật chủ trương không cho phép ta hiểu Phật theo một chiều như thế (32*). Con đường của Kitô giáo không duy tự lực, cũng không duy tha lực, chắc chắn không đi ngược lại chủ trương của Phật.

Về Bát Chánh Đạo

Bát Chánh Đạo và Tám Mối Phúc

Phải nói rằng tinh thần của Bát Chánh Đạo không xa lạ ǵ với tinh thần Kitô giáo. Và một Kitô hữu áp dụng triệt để Bát Chánh Đạo vào trong đời sống ḿnh th́ chỉ làm cho đời sống Kitô hữu của ḿnh thêm phong phú, có giá trị và đúng với tinh thần Kitô giáo hơn nữa. Phật giáo có Bát Chánh Đạo làm nền tảng cho tinh thần Phật giáo, Kitô giáo có «Tám Mối Phúc Thật» (33*) làm nền tảng cho tinh thần Kitô giáo (34*). Mỗi tinh thần đều có cái hay riêng của nó: Bát Chánh Đạo nhấn mạnh tới khía cạnh trí huệ và phát triển trí huệ nhiều hơn (với Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Định, Chánh Niêm); Tám mối Phúc Thật lưu tâm tới khía cạnh t́nh thương và nhẫn nhục nhiều hơn. Người Phật tử hay Kitô hữu nào có tinh thần cởi mở có thể áp dụng cả hai vào trong linh hạnh của ḿnh.

Để giúp người Phật tử có thể cảm nghiệm được phần nào vẻ đẹp của Tám Mối Phúc của Kitô giáo, tôi xin tạm chuyển ư của bản văn của Kitô giáo sang ư nghĩa tương đối tương đương trong Phật giáo. Người đọc xin đừng chấp vào từ ngữ:

1. «Phúc cho ai có tinh thần nghèo khó, v́ Nước Trời là của họ» = Những ai có tinh thần siêu thoát, không bị của cải vật chất ràng buộc quả là những con người hạnh phúc, v́ tâm hồn họ sẽ được an lạc.

2. «Phúc cho ai hiền lành, v́ sẽ được Đất Hứa làm cơ nghiệp» = Những ai có ḷng nhân hậu, hiền từ, không muốn một chúng sinh nào bị đau khổ quả là người hạnh phúc, v́ họ sẽ thành tựu những ǵ họ đang chủ tâm thực hiện.

3. «Phúc cho ai sầu khổ, v́ sẽ được Thiên Chúa ủi an» = Những ai đang đau khổ - nhất là đau khổ tự nguyện để mưu hạnh phúc cho tha nhân - là những người có phúc, họ sẽ được an ủi khi biết rằng «tất cả các phiền năo đều là hạt giống Như Lai» (35*).

4. «Phúc cho ai khát khao nên người công chính, v́ họ sẽ được Thiên Chúa cho thỏa ḷng» = Những ai mong muốn và quyết tâm t́m chân lư và sống phù hợp với chân lư ấy là những người có phúc, v́ họ sẽ được toại nguyện.

5. «Phúc cho ai biết thương xót người, v́ họ sẽ được Thiên Chúa xót thương» = Những ai có ḷng từ bi, thương mọi người như thương ḿnh là người có phúc, họ là người đáng được thương mến, tin cậy.

6. «Phúc cho ai có tâm hồn trong sạch, v́ họ sẽ nh́n thấy Thiên Chúa» = Những ai có tâm thanh tịnh, sống trong trần gian nhưng không bị nhiễm trần là người có phúc, v́ họ sẽ giác ngộ được «Chân Tánh» của ḿnh.

7. «Phúc cho ai xây dựng ḥa b́nh, v́ họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa» = Những ai đem lại an vui, ḥa thuận cho mọi người là những người có phúc, v́ họ chứng tỏ Phật tính đang thật sự tác động trong họ.

8. «Phúc cho ai bị bách hại v́ sống công chính, v́ Nước Trời là của họ» = Những ai luôn luôn sống đúng với sự đ̣i hỏi của trí huệ, của lương tâm ḿnh, bất chấp nghịch cảnh khó khăn, là những người có phúc, v́ họ sẽ đạt được trí huệ cứu cánh.

Biết bao đau khổ sẽ không xảy ra trong đời sống người Kitô hữu, nếu họ biết áp dụng Bát Chánh Đạo vào trong đời sống. Và đời sống tâm linh, đời sống «trọn lành» của họ sẽ phát triển hơn biết bao! Nhất là đời sống tâm linh nhân bản sẽ được nuôi dưỡng «mập mạnh» hơn nhờ những «món ăn lạ miệng» như Chánh Kiến, Chánh Niệm, Chánh Định! Những «món ăn» đó không phải là không có trong «thực đơn tâm linh» Kitô giáo, nhưng chúng không được dùng thường xuyên lắm trên «bàn ăn Kitô giáo». Những ư niệm tương tự với Chánh Kiến, Chánh Niệm, Chánh Định cũng đă từng được đề cập đến trong các tác phẩm tu đức của các giáo phụ, các thánh, các nhà tu đức học Kitô giáo, nhưng có lẽ không được đặt nặng và nhắc tới thường xuyên như trong linh hạnh Phật giáo. Chánh Niệm, Chánh Định có phần nào tương tự như đường hướng chiêm niệm, cầu nguyện của linh hạnh Kitô giáo, đương nhiên vẫn có sự khác biệt. Chính sự khác biệt này mới là những ǵ bổ túc cho chúng ta, nếu chúng ta có tinh thần cởi mở như chủ trương của Công Đồng Vatican II, là «đón nhận tất cả những ǵ là phong phú trong các dân tộc, những lẽ khôn ngoan trong các nền đạo lư, để góp phần tổ chức tốt đẹp đời sống Kitô hữu» (36*).

Về Luật tông

Giới luật cần thiết cho đời sống tâm linh

Trong linh đạo Phật giáo, việc giữ giới luật là điều kiện tiên quyết để bước vào con đường tu tập. Giới luật vừa bảo vệ vừa phát triển đời sống tâm linh của hành giả. Dù ở tŕnh độ nào, người tu đạo cũng phải có những giới luật nào đó thích hợp để tuân giữ, cho dù là hàng Bồ Tát. Giới luật là một trong ba phương tiện cần thiết để đi đến giải thoát - giới, định, huệ - trong đó giới đứng đầu. Có giữ giới luật th́ tâm mới định, tâm có định th́ trí huệ mới mở ra, trí huệ mở th́ sự giải thoát mới thành tựu được.

Trong linh hạnh Kitô giáo, việc giữ luật lệ cũng đóng một vai tṛ quan trọng. Muốn tiến trên con đường chân thiện mỹ, con đường thánh thiện toàn hảo, th́ phải tuân hành những luật lệ của Thiên Chúa, của Giáo Hội, của xă hội, của tu viện, của chính ḿnh… Trong tu viện, các tu sĩ thường được nhắc nhở: «Con giữ luật th́ luật giữ con». Thật vậy, luật lệ là thành tŕ bảo vệ đời sống tâm linh các tín hữu. Ngày xưa, một xứ sở phải có thành lũy bao quanh để bảo vệ người trong thành. Do đó, người trong thành lũy phải bảo vệ thành lũy, để thành lũy bảo vệ trở lại họ. Một Kitô hữu không chịu tuân giữ luật của Đức Kitô và Giáo Hội, đời sống tâm linh của người ấy dễ bị băng hoại. Người ấy sẽ trở nên tội lỗi. Đối với người Kitô hữu, luật lệ là lệnh truyền, là giới răn của Thiên Chúa và của Giáo Hội. V́ thế, vi phạm lề luật chính là chống lại Thiên Chúa và Giáo Hội, đó chính là tội lỗi. Và tội lỗi gây nên những hậu quả rất tai hại, chẳng những cho chính người phạm tội, mà c̣n cho những người chung quanh, cho cộng đoàn Giáo Hội nữa.

Theo Thánh Kinh, tội lỗi đầu tiên của con người là tội của nguyên tổ, do ông bà nguyên tổ bất tuân lệnh Chúa, tức vi phạm luật của Ngài. Và hậu quả thật là tai hại, con người đă làm băng hoại chính bản chất của ḿnh. Tội lỗi do vi phạm luật Chúa đă làm con người không c̣n là chủ như Thiên Chúa mong muốn (37*), mà đă trở nên nô lệ cho sự ác, cho bản thân, cho nhau, cho ngoại vật. Tội lỗi đă khiến con người, từ bản chất, không xứng đáng với địa vị và hạnh phúc của con cái Thiên Chúa nữa. Từ đó, tương quan giữa con người với Thiên Chúa trở nên xấu đi, và con người đă đánh mất hạnh phúc nguyên thủy của ḿnh. Tuy nhiên, nhờ Đức Kitô, con người có thể phục hồi lại bản chất thánh thiện tốt lành nguyên thủy và hạnh phúc ban đầu của ḿnh, bằng cách tuân hành lề luật của Thiên Chúa.

Chính Đức Kitô đă nói: «Ai yêu mến Thầy th́ tuân giữ các giới luật của Thầy» (38*). Thật vậy, yêu Chúa là một trong những điều cốt tủy của Kitô giáo, mà t́nh yêu đối với Thiên Chúa đ̣i hỏi người Kitô hữu phải luôn luôn cố gắng thực hiện thánh ư Ngài trong đời sống thực tế hằng ngày, và thánh ư của Ngài được biểu hiện chủ yếu trong lề luật của Ngài. Do đó, tuân giữ lề luật là một linh hạnh căn bản của Kitô giáo.

Những điểm đồng dị

Về nội dung của các luật, ta thấy giữa Kitô giáo và Phật giáo có nhiều điểm tương tự như nhau. Chẳng hạn, so sánh ngũ giới của Phật giáo với sáu điều răn sau cùng của thập giới của Kitô giáo, ta thấy hầu như cùng một ư tưởng:

- 1. Cấm sát sinh, tương tự như điều răn thứ 5: Chớ giết người,

- 2. Cấm trộm cướp, tương tự như điều răn thứ 7: Chớ lấy của người, và điều răn thứ 10: Chớ tham của người,

- 3. Cấm tà dâm, tương tự như điều răn thứ 6: Chớ làm sự dâm dục và điều răn thứ 9: Chớ muốn vợ chồng người,

- 4. Cấm nói bậy, tương tự như điều răn thứ 8. Chớ làm chứng dối.

- 5. Cấm uống rượu, tương tự như đức thứ 7: Kiêng bớt chớ mê ăn uống (trong «Cải tội bảy mối có bảy đức»).

Trong Ngũ giới không có tương đương với điều răn thứ tư của Thập giới, nhưng việc hiếu thảo với cha mẹ được Phật nói đến rất nhiều, đặc biệt trong Kinh Vu Lan. Phật dạy: «Hiếu vi vạn hạnh chi tiên» (39*), «Hiếu tâm tức Phật tâm, hiếu hạnh tức Phật hạnh» (40*), hay «Phụ mẫu tại đường như Phật tại thế» (41*). C̣n 3 điều răn đầu nói về những bổn phận của con người đối với Thiên Chúa tức Thực Tại Tối Hậu, th́ tuy quan niệm của Phật giáo về Thực Tại Tối Hậu không giống như quan niệm về Thiên Chúa của Kitô giáo, nhưng Phật giáo vẫn chủ trương phải có những nỗ lực để giác ngộ và sống trọn vẹn với Thực Tại Tối Hậu ấy. Điều này sẽ được bàn tới sau này.

Các luật dành riêng cho các tu sĩ xuất gia bên Phật giáo, như Bát quan trai giới, gồm ngũ giới và thêm 3 giới sau đây:

1. Không quá lưu tâm tới diện mạo bên ngoài như trang sức bằng phấn son…

2. Hạn chế các tiện nghi đời sống như giường êm nệm ấm…

3. Tự chủ trong ăn uống như không ăn nhiều quá, không ăn quá ngọ, đồng thời ăn chay trường…

cũng đều nằm trong nội dung của đức thanh bần của tu sĩ Kitô giáo. Chắc chắn, đức vâng phục và trong sạch (độc thân, trinh khiết) của Kitô giáo cũng có những điều luật tương tự trong đời sống của các tu sĩ Phật giáo.

Tam tụ tịnh giới của Phật giáo, gồm 3 giới căn bản:

1. Không làm điều ác,

2. Làm các việc lành,

3. Làm những việc lợi ích cho chúng sinh (như những việc có tính cách từ thiện xă hội… )

cũng chính là những điều căn bản trong luân lư Kitô giáo. Tinh thần của Bát Chánh Đạo (kể cả chánh niệm và chánh định) quả thật không xa lạ ǵ với các Kitô hữu đang quyết tâm vươn tới đỉnh thánh thiện để nên trọn hảo theo lời Đức Kitô mời gọi.

Nói chung, về nội dung các luật, nếu không chấp vào tiểu tiết, ta sẽ thấy hai tôn giáo có rất nhiều tương đồng.

Tinh thần ba-la-mật

Về tinh thần «ba-la-mật», tức tinh thần «vô kỷ, vô công, vô danh» (nói theo từ của Trang Tử) trong việc giữ luật, hay trong mọi việc làm của đời sống hằng ngày, mà Đại thừa chủ trương, ta thấy Kitô giáo cũng đ̣i hỏi tương tự như thế, tuy có vẻ không triệt để như Phật giáo Đại thừa. Chẳng hạn, Chúa nói: «Khi làm việc lành phúc đức, anh em phải coi chừng, chớ có phô trương cho thiên hạ thấy. Bằng không, anh em sẽ chẳng được Cha của anh em, Đấng ngự trên Trời ban thưởng (… ) Khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm, để việc anh em bố thí được kín đáo. Và Cha của anh em, Đấng thấu suốt những ǵ kín đáo, sẽ trả công cho anh em. Và khi cầu nguyện, anh em hăy vào pḥng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh em, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh em, Đấng thấu suốt những ǵ kín đáo, sẽ trả công cho anh em» (42*).

Về câu Kinh Thánh trên, Thiền sư Suzuki phê b́nh: «Chúa Kitô nói: “Khi ngươi bố thí, đừng để tay mặt biết việc của tay trái: hăy bố thí một cách thầm kín”. Đó là mật hạnh của đạo Phật. Nhưng nếu Chúa nói thêm rằng: “Cha chúng ta thấy rơ tất cả nỗi thầm kín ấy sẽ thưởng ngươi”, th́ một hố sâu mở ra ngay giữa đạo Phật và đạo Chúa. Hễ c̣n có mảy may ư nghĩ đến người nào đó, dầu là Chúa, hoặc quỉ, biết việc làm của ông th́ Thiền c̣n nói với ông: “Ông chưa phải là người của bản môn”. Hễ hành động c̣n kèm theo một tâm niệm, th́ chưa phải là “hành động không công đức”, v́ c̣n đầy tỳ vết và bóng tối (… ) Trong Thiền không thể có một ư thức nào lưu dấu lại sau khi việc bố thí đă xong, huống nữa là ư thức khen thưởng, dầu là Chúa thưởng» (43*).

Điều Suzuki nói thật là xác đáng, nếu làm một việc phúc đức nào, cho dù kín đáo tới đâu, nếu vẫn c̣n mong muốn Chúa biết hay Chúa thưởng, th́ chưa phải là mật hạnh của Phật giáo. Tuy nhiên, cần phải biết Đức Giêsu nói câu này với những hạng người nào, nếu không nói như vậy e rằng không thích hợp. Đối tượng của câu nói này không phải là những người có tŕnh độ tâm linh cao như các hành giả thiền tông, mà là đám đông dân chúng theo Đức Giêsu lên núi (44*). Nếu Đức Phật đă «tùy duyên hóa độ», th́ Đức Giêsu cũng vậy thôi. Nếu câu «Y kinh thuyết pháp th́ oan cho ba đời chư Phật, mà ĺa kinh thuyết pháp th́ là ma thuyết» đúng cho các pháp môn Phật, th́ tại sao câu đó lại không thể đúng cho những lời của Chúa? Trong kinh Phật, có biết bao lần Phật nói tới chuyện hành pháp này pháp kia th́ được hưởng những ǵ những ǵ (45*), nhất là trong pháp môn Tịnh Độ. Điều đó đâu có nghĩa là Phật không có tinh thần «ba-la-mật»? Chỉ v́ thích ứng với tŕnh độ của đối tượng thuyết pháp mà Phật nói như vậy.

Tuy nhiên, lời phê b́nh của Suzuki cũng đáng cho những người Kitô hữu - cũng như Phật tử - c̣n hành động v́ phần thưởng hay h́nh phạt phải suy gẫm. Hành động như thế th́ chỉ là v́ hạnh phúc của ḿnh, chứ không phải v́ t́nh yêu. Việc dùng sự thưởng phạt làm động lực để con người làm thiện tránh ác là thời của Cựu Ước (46*). Đức Kitô đến để nâng tŕnh độ ấy lên: động lực mới phải là t́nh yêu. Thánh Phaolô viết: cho dù làm được đủ mọi thứ, to tát hay tốt lành đến đâu, nếu không v́ t́nh yêu đối với Thiên Chúa hay tha nhân mà làm th́ chẳng có giá trị ǵ (47*).

Đức Giêsu chỉ rao giảng có ba năm (48*), mà lời Ngài lại nhắm nói cho đủ mọi tŕnh độ, từ thấp nhất đến cao nhất. Người thấp có quyền hiểu theo nghĩa đen, điều đó không đáng trách và đương nhiên là thế, v́ nghĩa đó dành cho họ, nhưng nếu người cao mà cũng hiểu theo nghĩa đen th́… thật đáng tiếc! Đó không phải là mẫu người mà Trang tử mong gặp được: «Được cá hăy quên nơm, được thỏ hăy quên ḍ, được ư hăy quên lời. Ta t́m đâu được người như thế để cùng nhau trao đổi!».

Luật lệ v́ con người, chứ không phải…

Về tinh thần trong việc tuân giữ các giới luật: cũng như chủ trương của Luật tông Phật giáo, luật lệ trong Kitô giáo không phải là những nguyên lư tuyệt đối phải tuân theo, nó chỉ là một phương tiện bất toàn, v́ trong nhiều trường hợp, phương tiện này lại đi ngược lại với mục đích (49*). Chẳng hạn, luật Chúa đ̣i hỏi người Kitô hữu phải luôn luôn nói sự thật, v́ sự dối trá thường gây thiệt hại cho tha nhân hoặc cho chính ḿnh. Mục đích của luật này là thực hiện đức ái. Nhưng trong một số trường hợp cá biệt, lời nói thật có thể gây thiệt hại nghiêm trọng cho xă hội, cho ích lợi chung, hay cho người vô tội, th́ lúc đó, việc nói sự thật đi ngược lại với mục đích của luật buộc nói sự thật. Những trường hợp đó, người Kitô hữu không nên câu chấp vào lề luật: «Ngày sabát (hay lề luật) được làm ra v́ con người, chứ không phải là con người được dựng nên v́ ngày sabát (hay lề luật)» (50*). Theo Phaolô, lề luật tự nó là tốt, v́ nó diễn tả ư muốn của Thiên Chúa (51*), nhưng cũng nên nhớ rằng «lề luật không phải được lập ra cho những người công chính», mà cho những người c̣n yếu đuối, non nớt về trí huệ, về tâm linh (52*). Và «sự công chính không hệ tại việc giữ luật pháp, v́ nếu như vậy th́ cái chết của Đức Kitô trở nên vô ích» (53*).

Sự lợi hại của lề luật

Lề luật có thể là một con dao hai lưỡi: một đằng rất cần thiết và có lợi cho tâm linh, nhưng đằng khác có những bất lợi. Chẳng hạn khi người ta giữ luật một cách hoàn hảo th́ họ lại dễ ỷ vào đó để tự hào, kiêu căng, tự cho ḿnh là công chính, như trường hợp người Pharisiêu vào đền thờ cầu nguyện cùng với người thu thuế (54*). Chính sự tự hào đó đă phá đổ tất cả mọi công tŕnh giữ luật của ông. Một nhược điểm khác của lề luật là: tuy soi sáng cho tâm trí, nhưng lại không đem lại sức mạnh nội tâm để sống theo sự soi sáng đó. Người ta có thể biết rất rơ lề luật dạy phải làm thế này thế kia, nhưng người ta không có động lực thúc đẩy để làm những điều tốt lành ấy, mà lại bị thúc đẩy làm những điều xấu, trái với Lề Luật: «Điều tôi muốn th́ tôi không làm, nhưng điều tôi ghét th́ tôi lại cứ làm» (55*). Chính v́ thế mà người Do Thái, tuy có Lề Luật của Thiên Chúa (Luật Môsê), nhưng họ cũng tội lỗi không kém ǵ dân ngoại (56*). Cũng chính v́ chấp vào lề luật, nô lệ cho lề luật, mà họ không nhận ra Đức Kitô để đến với Ngài (57*). Và càng hiểu rơ luật lệ bao nhiêu, th́ việc vi phạm lề luật càng trở nên nặng nề bấy nhiêu do «minh tri cố phạm» (58*).

Áp dụng việc giữ luật vào tu đức, vào linh hạnh, người Kitô hữu cần phải nắm vững sự lợi hại của lề luật, nhất là những người hướng dẫn đời sống tâm linh, làm linh hướng… Mặc dù lề luật rất cần thiết, nhưng nếu Đức Kitô đến để giải phóng con người khỏi ách của lề luật, th́ chúng ta cũng đừng biến những người sống dưới sự hướng dẫn của chúng ta trở thành nô lệ cho lề luật, cho tôn giáo, và cho chính chúng ta. Đó là những điều tai hại mà chúng ta rất dễ rơi vào. Tất cả những phương tiện dẫn con người đến với Thiên Chúa, với Đức Kitô, như Kinh Thánh (59*), giáo lư, lề luật, tôn giáo, cơ chế… vẫn luôn luôn là những con dao hai lưỡi. Nếu không khéo, chúng ta lại biến chúng trở nên chướng ngại cản trở người ta đến với Thiên Chúa, với chân lư. Chẳng hạn như chính Kinh Thánh, tuy mục đích của nó là làm chứng về Đức Kitô (60*), nhưng nó lại làm cớ cho những người Pharisiêu và các Rabbi Do Thái mù quáng, cản trở họ đến với Ngài. Chính v́ họ quá thông thạo Kinh Thánh, lề luật, và tự hào, cố chấp vào những kiến thức tôn giáo của họ, mà họ không nhận ra được Đức Kitô. Họ đă dùng chính Kinh Thánh và lề luật để phủ nhận Đức Kitô (61*). Tôn giáo, giáo lư, cơ chế, tín điều… cũng tương tự như thế.

Tính cách phương tiện của lề luật

Trong giáo lư của Đức Phật, tất cả mọi pháp môn của Ngài (trong đó có lề luật), đều chỉ là những phương tiện giả lập và tạm thời, dùng trong một giai đoạn nào đó. Tương tự như con đ̣ chỉ dùng trong thời gian phải đi trên nước, tới khi lên đường bộ th́ phải bỏ đ̣.

Trong Kinh Thánh Kitô giáo, ta thấy: Khi Đức Kitô tới, con người đă tới lúc phải lên một tŕnh độ tâm linh cao hơn. Thời Môsê, tŕnh độ trí huệ và tâm linh của Dân Chúa c̣n thấp, Thiên Chúa phải dùng sự sợ hăi (thưởng và phạt) làm động lực giúp Dân Chúa tiến hóa (62*), tương tự như khi con cái c̣n nhỏ, cha mẹ phải dùng roi vọt và khen thưởng để giúp con ngoan. V́ thế, Luật Môsê dựa trên sự sợ hăi. Nhưng tới thời Đức Kitô, Dân Chúa đă có một tŕnh độ trí huệ và tâm linh cao hơn xưa, cần phải thay đổi phương pháp sư phạm trong vấn đề giáo dục. Tương tự như khi con cái lớn lên, cha mẹ không c̣n dùng roi vọt nữa, mà kêu gọi sự ư thức, hiểu biết và t́nh thương của con cái để giáo dục chúng. V́ thế, Đức Kitô đến để đưa ra một luật mới, không c̣n căn cứ trên sự sợ hăi hay thưởng phạt nữa, mà căn cứ trên t́nh yêu. Nhưng người Do Thái v́ quá tôn trọng và bám cứng vào Luật Môsê, nên đă không chấp nhận được luật mới của Đức Kitô. Họ tưởng Luật Môsê phát xuất từ Thiên Chúa, nên luật đó phải là duy nhất và có giá trị vĩnh cửu, chứ không ngờ rằng Luật đó được lập ra sao cho phù hợp với tŕnh độ của dân. Khi tŕnh độ dân thay đổi, th́ luật lệ cũ cũng phải thay đổi. V́ thế, sau thời Đức Kitô, các Tông Đồ đă băi bỏ Luật Môsê và phép cắt b́ (63*), là những cái mà người Do Thái tưởng không thể thay đổi được. Đúng như dụ ngôn của Phật: muốn lên bờ th́ phải bỏ thuyền ở lại.

Như thế, ta thấy trong linh hạnh Kitô giáo và Phật giáo, việc giữ lề luật có những điểm rất giống nhau, từ nội dung các điều luật đến tinh thần giữ luật. Cả hai bên đều coi lề luật như một phương tiện cần thiết, nhưng muốn tiến tới trên con đường tâm linh, tiến đến hoàn hảo th́ phải vượt qua lề luật. Không được câu chấp vào lề luật, không giữ luật v́ luật, mà giữ luật để thể hiện một cái ǵ cao hơn. Thánh Âu-Tinh nói: «Cứ yêu đi rồi muốn làm ǵ th́ làm». Giữ luật mà không có t́nh yêu th́ việc giữ luật không có giá trị. Mà khi đă có t́nh yêu và trí huệ th́ lề luật không c̣n cần thiết nữa, lúc đó, người ta hành động theo sự hướng dẫn của t́nh yêu và trí huệ chứ không theo lề luật thành văn nữa. Lề luật chỉ dùng để hướng dẫn những người chưa trưởng thành trong t́nh yêu và trí huệ. Tuy nhiên, t́nh yêu và trí huệ được đào tạo và thành h́nh nhờ việc tuân giữ lề luật trước đó. Phật giáo không đề cao t́nh yêu, nhưng đề cao «Bi, Trí, Dũng» (64*). Lề luật giúp thể hiện và đạt được «Bi, Trí, Dũng», khi có «Bi, Trí, Dũng» th́ hành động theo «Bi, Trí, Dũng» chứ không theo lề luật nữa. Người tu hành phải đạt tới tŕnh độ này chứ không nên ở măi trong tŕnh độ lúc nào cũng phải lệ thuộc vào lề luật.

Về Tịnh Độ tông

So sánh pháp môn Tịnh Độ với linh hạnh Kitô giáo và với cách sống đạo của người Kitô hữu ta thấy có rất nhiều điểm tương đồng. Trước hết, Tịnh Độ tông lấy Tín, Nguyện, Hạnh làm căn bản, và niềm tin trong pháp môn này không giống với niềm tin của các pháp môn khác.

Tin tưởng, hy vọng, yêu mến trong Tịnh Độ và trong Kitô giáo

Niềm tin trong các pháp môn khác tương tự như niềm tin của khoa học thực nghiệm: chỉ chấp nhận sau khi đă chứng nghiệm, như lời Phật nói: Đừng tin một điều ǵ khi chính ḿnh chưa chứng nghiệm, cho dẫu là Phật nói, cho dẫu cả thế giới đều tin, hay một cuốn kinh điển có uy tín nói… (65*) Nhưng niềm tin trong pháp môn Tịnh Độ lại không phải là thứ niềm tin đó, mà là niềm tin dựa trên sự khả tín: Tin vào Phật, v́ Phật sáng suốt và không lừa dối ai. Niềm tin trong pháp môn Tịnh Độ là tin rằng có cơi Tây Phương Cực Lạc của Phật A-Di-Đà, và tin rằng cứ thực hành pháp môn này th́ chắc chắn sẽ đạt đến cơi ấy. Thay v́ chứng nghiệm rồi mới tin, th́ ở đây, cứ tin rồi sẽ chứng nghiệm sau. Niềm tin này tương tự như niềm tin của Kitô giáo.

Linh hạnh Kitô giáo cũng lấy đức tin làm căn bản: trước hết là tin vào Thiên Chúa, vào Đức Giêsu, vào Giáo Hội, sau đó là tin vào Tin Mừng của Chúa, vào giáo huấn của Giáo Hội, các bí tích. Và sau cùng là tin vào chính ḿnh: với ơn Chúa phù trợ, ta có thể làm được tất cả mọi sự (66*), cho dẫu là việc chuyển núi đời non (67*). Đó là Đức Tin Kitô giáo.

Cũng như trong Tịnh Độ tông, các Phật tử đều hy vọng cậy trông vào kết quả việc tu tập của ḿnh là được sống trong một Thế Giới Cực Lạc - Cơi Tịnh Độ A-Di-Đà - th́ người Kitô hữu cũng hy vọng vào phần thưởng Chúa hứa ban là Thiên Đàng sau này (68*), «v́ Chúa là Đấng phép tắc và ḷng lành vô cùng, đă phán hứa sự ấy, chẳng có lẽ nào sai được» (69*). Đó là Đức Cậy Kitô giáo.

Và trên căn bản Đức Tin Đức Cậy đó, người Kitô hữu sẽ «kính mến Chúa hết ḷng hết sức, trên hết mọi sự, v́ Chúa là Đấng trọn tốt trọn lành vô cùng» (70*). Đó là Đức Mến Kitô giáo. Hành giả của pháp môn Tịnh Độ cũng phải đem ḷng yêu mến Phật A-Di-Đà th́ mới có thể trở nên giống như Ngài, kết hiệp nên một với Ngài. Đó là đỉnh cao của pháp môn Tịnh Độ, rất giống với đỉnh cao của linh hạnh Kitô giáo (71*), và một cách nào đó cũng là đỉnh cao của tất cả các pháp môn khác của Phật giáo.

Tương quan liên vị - trở nên một

Với ḷng Tin - Cậy - Mến, người Kitô hữu luôn tưởng nhớ đến Chúa, nâng tâm hồn lên với Ngài, để cầu nguyện, bắt chước gương Ngài, trở nên trọn lành như Ngài, sống kết hợp với Ngài, trở nên một với Ngài giống như Chúa Kitô đă nên một với Ngài (tức Chúa Cha) (72*). Đời sống tâm linh của người Kitô hữu sẽ phát triển tới độ cảm thấy «tôi sống, nhưng không c̣n là tôi sống, mà là Đức Kitô sống trong tôi» (73*). Với đức Tin - Cậy - Mến, đời sống thần linh (la vie théologale) của người Kitô hữu sẽ nở hoa, thành tựu trong sự thần hiệp với Thiên Chúa. Xét về những mặt tự nhiên và nhân bản, đời sống tu đức, linh hạnh Kitô giáo rất giống với những phương pháp niệm cũng như cương yếu của Tịnh Độ tông. Từ việc đọc kinh ngoài miệng, đến việc «miệng đọc tâm suy», từ việc lần chuỗi Môi Khôi đến việc suy gẫm, chiêm niệm, từ việc nâng tâm hồn lên tới Chúa, cầu nguyện, đến việc kết hiệp làm một với Chúa, của một bà nhà quê chí đến những nhà chiêm niệm, thần bí, hay những nhà vừa chiêm niệm vừa hoạt động… tất cả đều có những mảng tương tự trong pháp môn Tịnh Độ tông.

Trong Kitô giáo, Đức Kitô gọi Thiên Chúa là Cha, có tương quan hết sức thân mật với Thiên Chúa, thân mật đến độ Ngài thấy ḿnh là một với Thiên Chúa, và Ngài dạy các môn đệ cũng làm như vậy. V́ thế, người Kitô hữu cũng cố gắng tạo nên một tương quan thân mật như thế với Thiên Chúa và với Đức Kitô qua việc cầu nguyện, tâm sự với Ngài. Trong Tịnh Độ tông, hành giả niệm Phật A-Di-Đà, là một vị Phật ở cơi Tây Phương Cực Lạc (74*), đă thành Phật trước Phật Thích Ca rất nhiều kiếp. Phật A-Di-Đà tượng trưng cho trí huệ sáng suốt, Ngài được gọi là «Vô Lượng Thọ» (nghĩa là tuổi sống lâu không số lượng) và «Vô Lượng Quang» (nghĩa là có hào quang sáng suốt khôn lường). Hành giả theo pháp môn Tịnh Độ coi Phật A-Di-Đà là hiện thân của Chân Như Phật tánh, tức Thực Tại Tối Hậu, v́ Ngài đă giác ngộ và thực nghiệm được ḿnh là một với Thực Tại Tối Hậu ấy. Hành giả có thể tin cậy vào Phật A-Di-Đà như một người cha nhân từ, và có tương quan liên vị với Ngài, v́ Phật A-Di-Đà là một Đấng, một Vị, một bản ngă hẳn hoi. Do đó, hành giả có thể niệm danh Phật A-Di-Đà với ḷng tin yêu của một người con. Pháp môn Tịnh Độ khác với nhiều pháp môn khác của Phật ở điểm này (75*).

Một con đường dễ dàng

Tại sao Đức Kitô và Giáo Hội lại chủ trương một linh hạnh, một đường hướng sống đạo, sống Tin Mừng một phần nào rất giống với pháp môn Tịnh Độ tông như thế? Theo Phật giáo, Tịnh Độ tông là pháp môn dễ nhất, bảo đảm nhất, thích hợp cho bất cứ tŕnh độ tâm linh nào (76*). Một pháp môn như thế chắc chắn sẽ phù hợp với chủ trương của Thiên Chúa và Giáo Hội, là dùng phương cách nào dễ nhất, bảo đảm nhất, cứu độ được nhiều người nhất, ai cũng áp dụng được. Để cứu độ chúng ta, Thiên Chúa và Giáo Hội không đ̣i hỏi chúng ta phải làm những việc khó khăn, mà chỉ cần tin vào Ngài, đồng thời giữ trọn những điều cần thiết dễ làm nhất. Cũng như khi đ̣i hỏi con cái ḿnh những điều ích lợi cho chúng, có bao giờ chúng ta lại bắt chúng làm những điều khó khăn đang khi có những cách dễ dàng hơn không? Phải chọn những cách dễ dàng nhất. Thiên Chúa và Giáo Hội cũng theo cách thế ấy.

Năm tŕnh độ

Trở lại với phương pháp thực hành của Tịnh Độ tông, ta thấy có 5 cách niệm Phật khác nhau, cho 5 tŕnh độ tâm linh khác nhau. 5 cách niệm này cũng tương ứng với 5 cách cầu nguyện bên Kitô giáo.

1. Tŕ danh niệm Phật:

Tŕ danh niệm Phật là niệm danh hiệu Đức Phật A-Di-Đà, hay đọc câu «Nam mô A-Di-Đà Phật». Cách niệm này tương ứng với cách cầu nguyện bằng các kinh, bằng các bài thánh ca bên Kitô giáo. Ở tŕnh độ này, hành giả cố tập trung tinh thần vào việc đọc kinh hay hát thánh ca chừng nào hay chừng nấy, để không nghĩ ǵ khác. Tŕnh độ này thích hợp với trẻ em, với những người mới chập chững bước vào đời sống tâm linh, chưa có khả năng tập trung tinh thần và suy nghĩ lâu. Đây là một bài tập tương đối dễ dàng đối với họ: mỗi ngày, họ chỉ cần dành ra một số th́ giờ để đọc kinh. Nhờ vậy, tâm trí họ bắt đầu làm quen hướng về đời sống tinh thần, hướng về Thiên Chúa. Đời sống tâm linh của họ bắt đầu có một chỗ trụ, và bắt đầu được xây dựng. Lời kinh họ đọc hằng ngày dần dần sẽ ảnh hưởng vào tâm trí họ, v́ sẽ có những lúc họ suy nghĩ về ư nghĩa lời kinh, và nhờ đó ảnh hưởng lên cách họ suy nghĩ, hành động, khiến họ trở nên tốt hơn.

Bên Phật có chuỗi 81 hạt (77*), tương ứng với 81 câu niệm «Nam mô A-Di-Đà Phật» hay «Nam-mô Quan Thế Âm Bồ Tát»… hay có những bài kinh (78*), bài chú (79*), có thể vừa tụng vừa gơ mơ để đọc có nhịp điệu, dễ tập trung tinh thần hơn, tránh lo ra, ngủ gật. Bên Kitô giáo (công giáo) có rất nhiều kinh và thánh ca có sẵn để đọc và hát trong mọi t́nh huống một cách thích hợp, để diễn tả mọi trạng thái tâm hồn đối với Thiên Chúa. Đặc biệt có chuỗi Môi Khôi 150 hạt tương ứng với 150 kinh Kính Mừng kính Đức Maria…

Tuy nhiên, đây chỉ là tŕnh độ ban đầu, hành giả không nên bằng ḷng ở tŕnh độ này măi, cần phải tiến lên tŕnh độ tâm linh cao hơn. Rất nhiều Phật tử cũng như Kitô hữu từ khi nhỏ tới lúc già, vẫn chỉ ở tŕnh độ này.

2. Tham cứu niệm Phật:

Tham cứu niệm Phật là cũng niệm danh hiệu Phật như trên, nhưng vừa niệm vừa suy gẫm xem câu ḿnh niệm nghĩa là ǵ, niệm để làm ǵ, ai niệm… Cách này tương tự như cách đọc kinh, vừa đọc vừa suy niệm, của Kitô giáo. Hành giả đọc hoặc nhẩm những câu kinh có sẵn giống như tŕnh độ trên, nhưng ở tŕnh độ này th́ phải để hết tâm hồn vào những lời kinh ấy, để cho lời kinh hướng dẫn tư tưởng, tâm t́nh ḿnh: khi th́ chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa với tâm t́nh cảm phục, thờ lạy, lúc th́ cảm tạ với tâm t́nh biết ơn, yêu mến, lúc lại nói lên những khó khăn, nhu cầu của ḿnh để xin Ngài ban ơn với tâm t́nh trông cậy… Nhờ chú ư vào lời kinh, tư tưởng đi theo lời kinh, ư nghĩa lời kinh sẽ thấm sâu vào tâm hồn người đọc, và dần dần thay đổi đời sống họ nên tốt đẹp hơn, tương quan giữa họ với Thiên Chúa ngày càng chặt chẽ hơn.

Ở một tŕnh độ cao hơn, thay v́ dùng những lời kinh hay bài ca có sẵn, hành giả có thể tự ḿnh nói với Thiên Chúa, không phải bằng những lời kinh có sẵn nữa, mà bằng những lời tự phát, phản ánh tâm t́nh, nguyện vọng đích thực của ḿnh là ngợi khen, cảm tạ, yêu mến, xin lỗi, xin ơn… Con người coi Thiên Chúa như một người Cha luôn luôn vui thích lắng nghe con cái ḿnh nói chuyện, tâm sự, tỏ t́nh yêu, ḷng hiếu thảo, nói lên những nhu cầu của chúng, hoặc xin điều này điều nọ. Ngài mong muốn được con người yêu thương, sống thân t́nh với ḿnh, trong một tương quan Cha với con, bạn với bạn, thậm chí người yêu với người yêu, chồng với vợ. Tuy có nhiều điểm tương đồng với Tịnh độ tông của Phật giáo, nhưng có điểm dị biệt là linh hạnh Kitô giáo đặc biệt nhấn mạnh đến tương quan thân thiện giữa hành giả với Thiên Chúa hay với Đức Kitô. Người theo pháp môn Tịnh Độ có thể coi Đức Phật A-Di-Đà như một gương mẫu, một nguồn lực, và có thể đồng hóa ḿnh với Phật A-Di-Đà (80*), trở nên một với Phật A-Di-Đà, coi Phật A-Di-Đà là Bản Lai Diện Mục của ḿnh (tương tự như bên Kitô giáo), nhưng không coi Ngài như một người hết sức gần gũi để có thể tṛ chuyện thân mật, trao đổi, tâm sự như người Kitô hữu đối với Đức Kitô. Có thể nói, linh hạnh Kitô giáo chủ yếu là một tương quan liên vị, sâu đậm và thân thiện với Thiên Chúa, với Đức Kitô. Và bản chất của tương quan ấy là một t́nh yêu chân thành, vị tha, hữu hiệu, nồng thắm, có thể khiến hành giả hy sinh tất cả, dù là mạng sống ḿnh, dù là sự ràng buộc t́nh cảm của những người thân yêu nhất.

3. Quán tượng niệm Phật:

Hành giả tưởng tượng Phật đang ở trước mặt, đồng thời chiêm ngưỡng những tính tốt, phong cách, cách hành xử đầy trí huệ, từ bi và dũng lực của Phật trong mọi t́nh huống, và đồng thời tưởng tượng nếu Phật ở trong những hoàn cảnh y trang như của ḿnh th́ Ngài sẽ hành động hay xử trí ra sao. Bên Kitô giáo, cách niệm Phật này có một phần nào tương tự như cách thức suy niệm trong linh thao của thánh Ignatiô. Khi suy gẫm một đoạn Kinh Thánh, hành giả dựng lại khung cảnh sống động của đoạn Kinh Thánh ấy trong trí ḿnh, với tất cả mọi h́nh ảnh, âm thanh, cử điệu, tâm t́nh, cách phản ứng của những người trong cuộc… nhất là của Đức Kitô. Điều này đ̣i hỏi hành giả phải có óc tưởng tượng, càng phong phú càng tốt. Trong khung cảnh đó, với những khó khăn và éo le đó, thái độ, tâm t́nh, cách hành xử của Đức Kitô ra sao. Chiêm ngắm thái độ, tâm t́nh, cách hành xử đó, để chúng thấm nhập vào tâm hồn ḿnh, đồng thời cầu nguyện: chúc tụng, ngợi khen. Rồi đặt ḿnh trong hoàn cảnh của Đức Kitô, hoặc đặt Đức Kitô trong hoàn cảnh của ḿnh, và so sánh cách hành xử của ḿnh với cách của Đức Kitô xem khác nhau chỗ nào. Rồi hối hận, xin lỗi, quyết tâm chừa cải, theo gương Ngài trong những hoàn cảnh tương tự sẽ gặp lần sau…

Hoặc tưởng tượng Thiên Chúa hay Đức Kitô đang ở trước mặt ḿnh, đầy t́nh thương yêu của một người Cha, đă từng sẵn sàng chết để cứu độ ḿnh: ánh mắt Ngài tŕu mến ḿnh, cử chỉ Ngài âu yếm ḿnh… Hăy tŕnh bày cho Ngài nghe những biến cố ḿnh gặp, những khó khăn, những t́nh huống, những mong ước, nhu cầu, và lắng nghe Ngài nói với ḿnh, nghe Ngài chỉ dạy… Đây là cách cầu nguyện có đối thoại, Chúa và ḿnh nói chuyện, tâm sự với nhau như Cha-con, rất thân mật. Nhờ đó, tương quan giữa ḿnh với Chúa càng ngày càng thắm thiết, chặt chẽ hơn. Chúa trở thành người yêu, lẽ sống, và luôn luôn hiện diện, ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống, cách hành xử của ḿnh. Hành giả sẽ vui hưởng t́nh yêu của Ngài là một người Cha, đồng thời cũng là người yêu, và sự trao đổi t́nh yêu với Ngài. Thật hạnh phúc, êm ái, ngọt ngào! Hành giả cũng sẽ nhận được sức mạnh, sự trợ giúp thần linh, sự biến đổi và thánh hóa sâu xa từ bên trong. Chỉ khi có tương quan thân mật với Ngài như thế, đời sống tâm linh của hành giả mới bắt đầu phát triển mạnh mẽ, và đó mới chính là đời sống Kitô hữu đúng nghĩa.

4. Quán tưởng niệm Phật:

Quán tưởng niệm Phật là quán tưởng Đức Phật A-Di-Đà ở trước mặt và Ngài đang phóng thần lực biến đổi, tẩy rửa tâm thức ta, truyền sức mạnh, trí huệ, ḷng từ bi, sự dũng cảm cho ta. Ta tưởng tượng sau này ḿnh cũng sẽ thành Phật như Ngài, sẽ suy nghĩ, nói năng, phản ứng, hành xử như Ngài. Ta quán tưởng ḿnh thành một với Ngài, ḿnh là Ngài, Ngài là ḿnh. Ngài đang suy tưởng, nói năng, hành động trong con người ḿnh. Cứ quán tưởng ḿnh với Ngài là một trong mọi lúc, mọi hoàn cảnh trong ngày.

Bên linh hạnh Kitô giáo, hành giả cũng có thể tưởng tượng Đức Kitô ở trước mặt ḿnh, thậm chí ở ngay trong bản thân ḿnh. Ngài chính là sự sống, là t́nh yêu, sức mạnh và sự khôn ngoan. Do liên kết mật thiết với Ngài, Ngài đang truyền tất cả những tính chất ưu việt ấy sang cho bản thân ta. Và ta đang được biến đổi nên giống y như Ngài, nghĩa là cũng đầy t́nh yêu, sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa như Ngài, được thể hiện ra trong cách sống, cách suy nghĩ, nói năng, cách đối nhân xử thế, v. v…

Không những thế, ta c̣n tưởng tượng rằng ḿnh với Đức Kitô chỉ c̣n là một, ḿnh đă được đồng hóa với Đức Kitô, đúng như thánh Phaolô đă diễn tả: «Tôi sống nhưng không c̣n là tôi sống, mà là Đức Kitô sống trong tôi» (81*). Nghĩa là tôi suy nghĩ, nói năng, hành động, nhưng không c̣n là chính tôi suy nghĩ, nói năng, hành động nữa, mà là chính Đức Kitô suy nghĩ, nói năng, hành động trong tôi. Tôi chỉ c̣n là một khí cụ để qua đó Đức Kitô muốn làm ǵ th́ làm. Cũng tương tự như tôi là cây viết, tôi viết ra đủ mọi bài văn, bài thơ, nhưng thực ra không phải là chính tôi viết những bài đó, mà người viết những bài đó chính là ông thi sĩ hay văn sĩ đă dùng tôi để viết. Trong hành động viết ấy, cây viết với ông thi sĩ hay văn sĩ chỉ là một. Lư tưởng của người Kitô hữu là ǵ nếu không phải là kết hiệp, hay trở nên một với Thiên Chúa, với Đức Kitô?

5. Thật tướng niệm Phật:

Trong Quán tưởng niệm Phật, ta mới quán tưởng Phật là ta, ta là Phật, chứ chưa thấy được ta với Phật, hay Phật với ta vốn không hai. C̣n trong pháp môn «Thật tướng niệm Phật», hành giả giác ngộ ḿnh với Phật là một, từ đó giác ngộ luôn ḿnh với thế giới vũ trụ này là một: «Vũ trụ vạn vật đồng nhất thể». Lúc đó, ta không c̣n thấy có ta có người, có tự thể và tha thể, mà chỉ thấy hiện hữu có cái «Một», cái «Duy Nhất»: tất cả mọi sự mọi loài hiện hữu đều chỉ c̣n là một. Đạt đến mức này, người ta bước vào một cảnh giới vô sai biệt, không c̣n tâm phân biệt nữa, nghĩa là tuy vẫn có thể đứng trên quan điểm b́nh thường để phân biệt một cách chi li những ǵ khác nhau, nhưng đồng thời vẫn thấy được tất cả những khác nhau ấy chỉ nằm trên b́nh diện hiện tượng, chóng qua, giả tạm.

Quan niệm tất cả mọi hữu thể - bao gồm cả Thực Tại Tối Hậu (tức Thiên Chúa) và vũ trụ vạn vật - chỉ là một, là một quan niệm xa lạ với quan niệm của Kitô giáo. Người Kitô hữu coi quan niệm này là một thứ «phiếm thần», và không chấp nhận quan niệm ấy. Giáo Hội đă dựa trên nghĩa đen của sách Sáng Thế về việc Thiên Chúa sáng tạo vũ trụ vạn vật từ hư vô và dựa trên căn bản triết học Kinh viện hay Hy Lạp để minh giải vấn đề này, coi đó là một chân lư Đức Tin. Quan niệm về sự hiệp nhất giữa Thiên Chúa và vũ trụ vạn vật chỉ là sự hiệp nhất trong tinh thần, trên b́nh diện tâm lư chứ không phải là sự hiệp nhất về bản thể, trên b́nh diện hữu thể học. Đây là sự khác biệt khá quan trọng về lư thuyết giữa Kitô giáo và Phật giáo. Theo Kitô giáo th́ Thiên Chúa và vũ trụ vạn vật là hai. C̣n theo Phật giáo th́ Chân Như và vạn pháp là một: Chân Như là vạn pháp, vạn pháp là Chân Như, Chân Như là bản thể của vạn pháp, vạn pháp là hiện tướng của Chân Như.

Như vậy, xét về mặt linh hạnh, th́ giữa Tịnh Độ tông và Kitô giáo ta thấy có sự tương tự rất lớn. Tuy nhiên, điểm cuối cùng, xét về mặt triết lư, quan niệm, th́ có sự khác biệt. Cũng là kết hiệp nên một, nhưng một đằng có tính cách hữu thể học c̣n đằng kia chỉ mang tính cách tâm lư. Tóm lại, ta có thể kết luận rằng hai đằng chỉ khác nhau ít nhiều về kiến giải, nhưng kết quả thực hành th́ rất giống nhau. Bây giờ chúng ta bước sang phần đối chiếu giữa Kitô giáo và Thiền tông.

Về Thiền tông

Điều căn bản nhất: giác ngộ Chân Tâm

Điều căn bản nhất trong pháp môn Thiền là nhận ra được Chân Tâm của ḿnh. Cái Tâm ở đây không phải hiểu theo nghĩa b́nh thường là cơi ḷng, hay nội tâm, hay tâm thức của mỗi người. Nó làm cái ǵ sâu thẳm nhất, là cái không sinh diệt, không biến đổi nơi con người. Theo Kinh Lăng Nghiêm - kinh đặc biệt nói về Tâm - th́ tất cả mọi sự nơi con người ta, dù là tinh thần hay vật chất, cũng đều biến đổi, sinh diệt, chỉ có cái Tâm đó là không biến đổi sinh diệt. Nó không biến đổi, nhưng làm nền tảng cho tất cả những ǵ biến đổi, và không sinh diệt, nhưng làm nền tảng cho tất cả mọi thứ sinh diệt. Tâm đó chính là nền tảng hiện hữu của con người. Nếu câu của thánh Âu Tinh: «Deus intimior intimo meo» (tạm dịch: Thiên Chúa c̣n thân mật với tôi hơn cả chính bản thân tôi) là đúng, nghĩa là Thiên Chúa là cái ǵ sâu thẳm nhất ở trong tôi, sâu thẳm hơn cả chính bản thân tôi, làm nền tảng cho hữu thể tôi, th́ cái Tâm mà chúng ta đang đề cập tới chính là Thiên-Chúa-ở-trong-tôi. Đó chính là cái mà Ấn giáo gọi là «Atman» (tạm dịch là Tiểu Ngă). C̣n «Brahman» (tạm dịch là Đại Ngă) chính là Thiên-Chúa-ở-trong-vũ-trụ. Mà Thiên-Chúa-ở-trong-tôi Thiên-Chúa-ở-trong-vũ-trụ là một. V́ thế, một trong những xác nhận quan trọng nhất của Ấn giáo là: «Brahman là Atman, Atman là Brahman, Brahman và Atman là một». Phật giáo cũng quan niệm không khác: cái Tâm của tôi, cái Tâm của người khác, và cái Tâm của vũ trụ là một. Một câu chuyện Thiền minh họa chân lư đó:

Thần Quang nghe danh Tổ Đạt Ma, bèn đến cầu đạo. Nhưng Tổ không tiếp. Thần Quang qú đợi luôn mấy năm ở ngoài hiên chùa, nhưng Tổ cũng không đoái hoài tới. Cuối cùng, để tỏ ḷng chí thành tột mức của ḿnh, dám xả thân cầu đạo, Thần Quang đă chặt đứt cánh tay của ḿnh. Bấy giờ Tổ mới nhận Thần Quang làm đệ tử. Một hôm, Thần Quang vừa mới đi đâu ở núi gần đó về, Tổ hỏi:

- Con từ đâu đến? (82*)

Nghe hỏi thế, Thần Quang bỗng nhiên đại ngộ, và chỉ c̣n thấy có một ḿnh - không c̣n thấy thầy, thấy «cái tôi» nhỏ bé của ḿnh, hay thấy ai khác, mà chỉ c̣n thấy hiện hữu duy nhất cái «Bản Thể của vũ trụ» hay cái TÂM (83*).

Một thực tại duy nhất, nhưng được gọi tên và quan niệm khác nhau

Phật v́ đại sự nhân duyên đến trần gian này là để «khai thị ngộ nhập tri kiến Phật tánh», nghĩa là để tỏ cho mọi người thấy được, giác ngộ được, và sống được với cái «Phật tánh» đó. Phật tánh, tức «tánh biết», chính là tánh của Tâm, hay nói cách khác là chính cái Tâm đó. Đương nhiên, quan niệm về Tâm của Phật giáo và quan niệm về Thiên Chúa của người Kitô giáo, cũng như quan niệm về Brahman-Atman của Ấn giáo khác xa nhau lắm. Người nào chấp vào danh từ, vào lời nói, vào ư niệm th́ không thể thấy tất cả những quan niệm khác biệt nhau ấy, được gọi bằng những danh từ khác nhau ấy, đều chỉ về cùng một thực tại duy nhất. Ta cứ lấy một thực tế gần gũi nhất thường xảy ra trong gia đ́nh để minh họa cho dễ hiểu:

Bản thân hay con người tôi chỉ là một thực thể duy nhất. Thế nhưng, mỗi người trong gia đ́nh tôi lại gọi tôi bằng một danh xưng khác nhau, và đương nhiên, cái nh́n hay quan niệm của mỗi người về tôi cũng khác nhau. Cha mẹ tôi gọi tôi là con, tuy dù tôi đă lớn, nhưng trong cái nh́n của các ngài tôi vẫn c̣n là nhỏ bé, dại khờ. Vợ tôi gọi tôi là chồng, nàng coi tôi như một người hiền lành, bản lănh, có thể bao bọc cho cuộc đời nàng. Con tôi gọi tôi là cha, nó coi tôi như một người vĩ đại, lư tưởng, biết tất cả, làm được tất cả mọi sự. Bạn bè tôi gọi tôi là bạn, đối với họ, tôi là người tốt bụng, sẵn sàng giúp đỡ mọi người. Những đối thủ của tôi, những người ghét tôi gọi tôi là kẻ thù, họ nghĩ tôi là người rất lợi hại, mưu mô, thậm chí ác độc. Những người làm công cho tôi gọi tôi là ông chủ, họ thường cho rằng tôi nghiêm khắc, khó tính, kỹ lưỡng. C̣n ông giám đốc sở tôi làm gọi tôi là nhân viên, ông vẫn nghĩ rằng tôi hay cẩu thả, chưa có tinh thần trách nhiệm đủ… Cái nh́n của tất cả những người đó về tôi thật khác biệt, thậm chí mâu thuẫn nhau nữa, nhưng tôi thấy tất cả đều đúng, v́ tôi đă đối xử với mỗi người mỗi cách. Chẳng hạn đối với bạn bè, những người tôi thương mến, tôi có thể cho, tặng không suy tính, họ đâu có biết rằng đối với những người tôi ghét, th́ tôi tính toán từng ly từng chút, không chịu để cho ḿnh bị thiệt chút nào…

Tất cả những danh từ con, chồng, cha, bạn, kẻ thù, ông chủ, nhân viên, là những danh từ khác nhau, với những nội dung, ư nghĩa khác nhau, và cái nh́n của mỗi người ứng với từng danh từ đó cũng rất khác nhau. Nhưng chúng ta có thể v́ những khác biệt về từ ngữ, về ư nghĩa, về quan niệm ấy mà nhất thiết phải kết luận rằng chúng không thể qui về một thực tại duy nhất chăng? Không. Qua minh họa trên, ta có thể kết luận rằng: một thực tại duy nhất có thể được gọi bằng nhiều tên khác nhau, mỗi tên đó có một nội dung hay ư nghĩa khác nhau, và cũng có thể được quan niệm nhiều cách khác nhau, và mỗi cách đều đúng và có lư riêng của nó.

Như thế, Tâm hay Phật tánh của Phật giáo, Thiên Chúa hay Thượng Đế của Kitô giáo, Brahman hay Atman của Ấn giáo, Đạo hay Thường Đạo của Lăo Tử, Thiên hay Trời của Khổng Tử, Nguyên Lư Tuyệt Đối trong vũ trụ của người vô thần, đ