Thiên Tính của người Công Giáo là ǵ?
Đang bữa ăn trưa với một số đồng nghiệp, câu hỏi tôi đặt ra với một chị bạn, cũng là một giảng viên giáo lư Công Giáo khiến chị có vẻ sửng sốt.
Ø Sao em lại nói vậy, chúng ta là tạo vật, là những vật hèn mọn trước mặt Thiên Chúa, sao lại có Thiên Tính ? Nói vậy tội chết.
Chị trả lời một cách vội vă và bật cười nho nhỏ với câu trả lời của chính ḿnh. Trong khi đó, các đồng nghiệp lảng sang chuyện khác như để trốn tránh một đề tài DỄ GÂY NÊN CẢM GIÁC MẠNH.
Thiên Tính của người Công Giáo là ǵ?
Lần thứ hai, tôi hỏi một người bạn học đă quen biết gần 20 năm. Anh ngẩng đầu nh́n tôi với cặp mắt soi mói đến quái lạ. Cuối cùng, anh đưa ra hàng loạt câu hỏi thay v́ câu trả lời:
1. Mày c̣n đi nhà thờ không?
2. Mày có Xưng Tội và Rước Lễ thường xuyên không?
Và cuối cùng, anh giáng cho tôi một câu hỏi tối quan trọng:
3. Mày c̣n tin Giê Su là Con Thiên Chúa không?
MỘT... HAI... BA... thế là hết! Những lời chất vấn và khiển trách nối đuôi nhau khiến tôi như bị CHẬN ĐỨNG LẠI bởi một bức tường của thân t́nh thay v́ câu trả lời đứng đắn cần phải có.
Nhưng rồi, câu hỏi vẫn c̣n đó.
(i) Thiên Tính của người Công Giáo là ǵ?
Và tại sao người Công Giáo b́nh thường, những "phó thường dân nước trời" lại luôn cố lảng tránh sự t́m hiểu về Thiên Chúa?
I. Thiên Tính Của Người Công Giáo là ǵ?
Thay v́ phải lảng tránh, là giáo dân Công Giáo, chỉ cần mở Thánh Kinh hay nhớ lại truyền thống Công Giáo, ai trong chúng ta cũng trả lời được sau vài phút suy nghĩ qua tŕnh tự rất đơn giản:
(i) Thiên Tính của Thiên Chúa là ǵ?
(ii) Và chúng ta giống ngài ở những điểm nào?
Nói đến đây, trong chúng ta ai cũng có thể h́nh thành một câu trả lời rất đa dạng về Thiên Tính của người Công Giáo:
Thiên Chúa là T́nh Yêu (God is love ) [1]. Chúng ta, những tạo vật thừa hưởng tính Yêu Thương của ngài, chúng ta cũng biết yêu và cũng là t́nh yêu, cho dù t́nh yêu của chúng ta nhiều khi không trọn vẹn. T́nh Cha cao như núi Thái Sơn. T́nh mẹ bao la không thua biển Thái B́nh. T́nh vợ chồng thắm thiết măi ngàn năm, vv.
Trong Tâm Linh Vào Đời 25, có nhiều tác giả cho rằng: khi Thiên Chúa ở lại trong tôi, tiềm tàng nội tại và nên một với tôi nên tôi có Thiên Tính . V́ đó, v́ đó, tôi có hành động YÊU THƯƠNG bởi ngài. Tôi có hành động thánh thiện cũng bởi ngài.
Nhưng ở một khía cạnh khác, lịch sử Ki Tô Giáo là chuỗi ngày t́m kiếm sự cân bằng giữa ÂN SỦNG và TỰ DO. Hay nói một cách khác, ngoài những hành động yêu thương do Thiên Chúa tác động, hành động Yêu Thương nào thuộc về sự Tự Do Yêu Thương của nhân loại?
Theo thiển ư của người viết, trong mỗi sinh vật, mỗi người đều tiềm tàng tiềm năng MUỐN YÊU và MUỐN ĐƯỢC YÊU. Phải chăng bản năng đó không mang ư nghĩa ǵ với Thiên Chúa trong công cuộc tạo dựng? Lại cũng theo thiển ư của người viết, phải chăng Tính Yêu Thương đó chính là một phần Thiên Tính chúng ta thừa hưởng từ Thiên Chúa. Lẽ dĩ nhiên, chúng ta không nên phạm thượng đem so sánh T́nh Yêu Nhân Loại với t́nh yêu Thiên Chúa. Nhưng chắc hẳn, t́nh yêu nhân loại, ước muốn đó là nền tảng Chúa muốn chúng ta ǵn giữ và phát triển.
Từ ngàn xưa, con người ngỡ ngàng với đất trời, với vạn vật, nên họ tin nhận Chúa là Cha.
Cũng từ ngàn xưa, Thiên Chúa nhiều lần đến và tỏ ḿnh với nhân loại qua h́nh ảnh sấm sét, bụi lửa, vv. Nhưng lần gần đây nhất, ngài đến với thế gian như một người con trong một gia đ́nh nhỏ, một cậu bé Giê Su trong xóm nhỏ, một bạn hữu Giê Su, một vị thầy Giê Su, và một Giê Su chịu chết cho nhân loại.
Lần ngài đến với chúng ta qua h́nh ảnh nhân loại đó, t́nh yêu nhân loại đó, dường như đă dạy cho chúng ta biết: Thiên Chúa là T́nh Yêu. Có lẽ, sợ dây liên kết của con người với Thiên Chúa trở nên trọn vẹn khi chúng ta ĐƯỢC YÊU (ÂN SỦNG) và YÊU (t́nh yêu do sự tự do đem lại). Việc chúng ta ĐƯỢC YÊU bởi Thiên Chúa và MUỐN YÊU bởi sự tự do h́nh thành mối liên kết loài người với Thiên Chúa, loài người với nhau và cho các sinh vật khác.
Thiên Chúa Là Siêu Việt (transcendent) [2]. Chúng ta, loài người, cũng thừa hưởng phần nào Sự Khôn Ngoan, Hiểu Biết, Thông Minh, Biết Lo Liệu từ Thiên Chúa. Trên quả đất này, thế giới này, loài người đă tạo nên cho chính họ biết bao kỳ quan. Loài người thông minh và khôn ngoan vượt trội bao loài khác. Họ t́m hiểu về Thiên Chúa. Họ khám phá ra biết bao qui luật tự nhiên. Loài người biết lo liệu cho chính ḿnh, cho hiện tại và mai sau.
Vấn đề là ở chỗ đó, ngoài sự khôn ngoan thuộc về Thiên Chúa, c̣n có sự khôn ngoan thuộc về loài người, mọi sinh vật. Ngoài những "SỰ THẬT SIÊU NHIÊN" con người không thể nghĩ và với đến, vẫn c̣n những "SỰ THẬT", những QUY LUẬT có thể khám phá, những kỳ công có thể xây dựng hoàn toàn do trí óc, bàn tay, và lao công con người và các sinh vật tạo nên. Bởi v́ khôn ngoan nhân loại chỉ là phản ánh khôn ngoan Thiên Chúa. Một đằng phát xuất từ trí óc, một đằng phát xuất từ Thần Khí Thiên Chúa, kỳ công của con người khác với kỳ công của Thiên Chúa
Một khi chúng ta quá TÍN NGƯỠNG để cầu xin ân sủng, cầu xin sự khôn ngoan, hiểu biết, thông minh, chúng ta đă đánh mất tiềm năng nơi chính bản thân, trở nên ù lỳ và không c̣n BIẾT LO LIỆU.
Và là một giáo dân Công Giáo, chúng ta đều có cùng một quan niệm: trong mỗi một người, đă tiềm tàng sự sống vĩnh cửu - đó là linh hồn (linh hồn bất tử do chính Thiên Chúa tạo nên cho chúng ta - CCC 366). [3]
II. Tiềm Năng Bị Lăng Quên Của Người Công Giáo Dưới Lớp Bụi Thời Gian
Từ ngàn xưa, các Giáo Phụ tiên khởi đă nhận ra rằng: t́m đến Thiên Chúa là t́m về nội tại [2].
Thomas Aquinas gọi tiềm năng t́m đến Thiên Chúa đó là “Tiềm Năng Phục Tùng” (potentia obedientialis, obediential potency) [4].
Nhà thần học danh tiếng Karl Rahner gọi đó là “tồn tại siêu việt” (supernatural existential).
Theo lời giải thích của linh mục Cao Phương Kỷ, một giáo sư thần học, tiềm năng đó chính là "sự biến đổi thường xuyên nơi đời sống nghĩa là sự biến đổi thường xuyên nơi đời sống con người (existential) nơi thâm tâm con người, nhờ đó, con người được cải hóa từ nội tâm để qui hướng về Thiên Chúa (supernatural).
Trải dài suốt ḍng lịch sử Thiên Chúa Giáo và Ki Tô Giáo chuỗi tháng ngày t́m hiểu và thực thi lời Chúa qua các biến cố do ngài mạc khải. Khi Cựu Ước được xem là sự mở đầu biến cố mạc khải với những nhận thức về Thiên Chúa c̣n nhiều khiếm khuyết, th́ Tân Ước được xem là sự kết thúc trọn vẹn của mạc khải. Cũng v́ lư do đó, đă hơn hai ngàn năm, không ai có thể thêm hay bớt Kinh Thánh.
Ở đây, người viết bài này dựa trên những biến cố xảy ra trong ḍng lịch sử Thiên Chúa Giáo để dựng nên cốt chuyện "ĐẦY LƯ SỰ" để chúng ta cùng tham khảo.
(1) Từ việc Cựu Ước và Tân Ước được xem là nguồn suối phong phú và vô tận, hết thế hệ này đến thế hệ khác, những người TIN CHÚA luôn Quy Chiếu Nội Dung nguồn suối này để t́m hiểu và thực thi LỜI CHÚA. Nhiều tập đoàn của những người Tin Chúa liên tiếp đề xướng và ghi nhận các luồng tư tưởng khác biệt. Họ ra công gắng sức để kiến tạo những khuôn khổ đạo đức và luân lư cho đời này và cho mai hậu bằng cách đặt ra các qui ước mà họ gọi là: LUẬT CHÚA.
* Lẽ dĩ nhiên, v́ có nhiều đoàn thể, nhiều giáo hội khác nhau mà chúng ta cũng có những Bộ Luật Chúa khác biệt.
(2) Là những con người của Yếu Đuối và Tham Vọng, trong tôn giáo, chúng ta thấy việc xảy ra VA CHẠM là việc không thể tránh khỏi giữa các Giáo Hội, các tôn giáo lớn nhỏ:
(i)có nhiều khi, các Giáo Hội Lớn mặc sức thao túng, sử dụng mọi thủ đoạn;
(ii) có khi c̣n mượn cả vũ khí và gót giầy "ĐẾ QUỐC" hầu để chinh phục thế giới.
* Cái lợi ích do ḷng tham đem lại nhiều khi không nhỏ: TIỀN và QUYỀN LỰC. Một thời, lợi ích đó bao gồm việc thu góp Đồng Đá đủ để xây RÔ MA VINH CƯỜNG: với đầy đủ sức mạnh Kinh Tế, Chính Trị và Quân Sự.
(iii) Lại cũng có khi, khi Nền Giáo Dục Suy Đồi và Có Giáo Hội Mất Uy Tín đến độ nhiều đoàn thể hay cá nhân muốn tách rời th́ "SỰ GIẬN DƯ" lẫn nhau, với đủ phương pháp HĂM DỌA và nhiều phương pháp thực thi bạo lực nhằm để vô hiệu hoá các đoàn thể hay cá nhân được thi hành. Họ gọi đó là: "Diệt Cỏ Lùng", "Làm Sạch Đạo", "Diệt Lạc Giáo", "Diệt Ly Giáo", hay là "TOÀ ÁN DỊ GIÁO” mà ngày nay, khi nh́n lại, chúng ta chỉ có thể gọi là: KI TÔ HỮU TƯƠNG TÀN;
(4) Cứ mỗi lần uy tín của một bộ LUẬT CHÚA bị giảm sút, những lănh tụ được mời về KIỆN TOÀN LUẬT CHÚA thêm một lần nữa qua tên gọi: Công Đồng Canh Tân (Ecumenical Council).
Qua câu truyện trên, chúng ta có thể đúc kết vài đặc điểm:
- V́ tiếng Chúa vẫn không ngừng " TÂM SỰ" trong lương tâm và lư trí nhân loại, nên chúng ta không ngừng thấy những BỘ LUẬT CHÚA được canh tân và sửa đổi để tránh các SAI LẦM, các di hại về sau;
- V́ tiếng Chúa vẫn không ngừng "TÂM SỰ" với nhân loại, nên cứ một thời gian, chúng ta lại thấy: DƯỜNG NHƯ BỘ LUẬT NÀY KHÔNG C̉N HỢP THỜI NỮA.
V́ người ta cứ tưởng Chúa nói qua lương tâm. Không phải thế. Lương tâm chỉ nằm trong lănh vực lề luật tốt – xấu, Đúng-sai theo tiêu chẩn lề luật – chứ không theo tiêu chuẩn thần Khí – tiêu chuẩn Thiên Tính . V́ thế người ta phải củng cố lề luật bằng mọi cách để lương tâm được yên. Người ta tự xây một Ngục thất Lề luật giam hăm chính ḿnh và dùng Ngục thất Lề luật ấy dọa nạt, kềm kẹp, loại trừ người khác
Những sai sót của các Bộ Luật Chúa được đề xướng luôn kèm theo những hậu quả đáng tiếc: nước mắt, lao công, vật chất, nhiều khi c̣n là xương máu của Ki Tô Hữu, của những người trong và ngoài Giáo Hội Công Giáo.
Ở một thái độ biện giáo, là những con người c̣n nhiều giới hạn về hiểu biết, trí tuệ và tài năng, ai trong chúng ta không từng có lỗi lầm và sai sót?
THẾ NHƯNG, ở một khía cạnh trọng thiết hơn, câu hỏi được nhiều người trong và ngoài Công Giáo đặt ra luôn là:
- Điều sai sót ǵ khiến uy tín của Giáo Hội Công Giáo bị giảm sút?
- Điều sai sót ǵ khiến Giáo Hội đánh mất luôn sự tin tưởng và tôn trọng của Giáo Dân Công Giáo cho các bộ Luật Chúa do các lănh tụ Công Giáo đề xướng?
(i) Phải chăng, Nền Giáo Dục Công Giáo, dựa trên nguyên lư "ĐIỀU KIỆN HOÁ ĐỨC TIN" - khuôn khổ và mực thước Đạo Đức Do Người Khác Đặt Ra và Bắt Buộc Phải Tin đă khiến nhiều giáo dân và nhiều người chán ngán?
* Lấy nước Ư với 87% dân số là Công Giáo, điều ǵ đă khiến chưa đầy 20% giáo dân đi nhà thờ? [5]
(ii) phải chăng, nguyên lư làm LUẬT CHÚA của Giáo Hội Công Giáo, thường chỉ do các tông đồ kế vị (Giám Mục) thực hiện, KHÔNG GHI NHẬN ĐỦ TIẾNG CHÚA NÓI TRONG L̉NG MỌI GIÁO DÂN và nhân loại?
Là con người, chúng ta thường chọn giải pháp đặt ra những qui ước và Luật Lệ để có thể cùng chung sống mà không cần phải làm HẠI NHAU. Một BỘ LUẬT TỐT, có thể bảo đảm hạnh phúc cho đại đa số, cũng là những qui luật có được đại đa số tôn trọng, trong khi bộ luật đó vẫn c̣n nhiều thiếu sót. Ở vấn đề này, Các Lănh Tụ Giáo Hội nói chung đă đánh mất sự tôn trọng cho Luật Chúa nói chung, và cho cá nhân họ nói riêng chỉ v́: HỌ ÍT LẮNG NGHE, TÔN TRỌNG TIẾNG CHÚA NÓI trong nhân loại, TIẾNG NÓI TỪ LƯƠNG TÂM (aboriginal vicar of Christ [6]) của giáo dân.
(i) Giáo Hội Công Giáo trở thành “vật sở hữu” của các Lănh Tụ Giáo Hội. Thân phận của Giáo Dân trong giáo hội là học hỏi và vâng phục,ĐỪNG BAO GIỜ LÊN TIẾNG v́ đó sẽ được gọi là: Chống Chúa và Chống Giáo Hội.
* “Phúc Cho Ai Không Thấy Mà Tin”! Câu thánh kinh quen thuộc và tiềm năng vâng phục do thánh Thomas Aquinas đề xướng bị lạm dụng đến mức Dân đen, Con Mọn, Phó Thường Dân nước trời, chỉ c̣n cách VÂNG LỜI hoặc SẼ BỊ SỨC ÉP, các sản phẩm mẫu mực của ḷng tín ngưỡng vô bờ bến và sự "ĐIỀU KIỆN HOÁ ĐỨC TIN, đào thải ra bên lề hội đường, có khi là ngoài giáo hội.
** Theo thiển ư, Tiềm Năng Vâng Phục Thiên Chúa chính là sự t́m ṭi, thúc đẩy và đổi mới tư duy và hành động ở mọi nơi và mọi lúc, để chúng ta ngày càng đến gần con đường của Chúa, của Sự Thật, để xứng đáng làm con cái của Ngài hơn.
Tiếc là, tiềm năng vâng phục đó thường đă bị sự ĐIỀU KIỆN HÓA ĐỨC TIN lạm dụng, biến giáo dân trở thành những kẻ LẶNG CÂM, những kẻ thực thi LỀ LUẬT, thực thi LỜI CHA DƯỚI DẤT hơn là tận dụng TIỀM NĂNG sẵn có nội tại: lư trư, con tim và kinh nghiệm của chính bản thân họ.
KẾT LUẬN
Ở thời đại sự hiểu biết và tâm linh của con người có nhiều tiến bộ vượt bậc:
- HƯỚNG DẪN ĐỨC TIN thực tế hơn là THỐNG TRỊ ĐỨC TIN;
hay nói một cách dí dỏm hơn:
- Khuyên Con Chọn Vợ thực tế hơn là Chọn Vợ Cho Con.
"Nền Giáo Dục Công Giáo" và "Phương Thức Làm Nên Luật Chúa" rất cần phải được TÁI SINH (AFRESH)
"Cơ Cấu Giáo Hội", "Lề Lối Làm Việc Của Giáo Hội" cũng cần phải được TÁI SINH (AFRESH) để có được sự hài hoà giữa trách nhiệm, bổn phận và sự đóng góp của đủ mọi thành phần trong Giáo Hội.
Khi tặng phẩm của Thiên Chúa cho mỗi con người là bộ óc và con tim.
Khi tác động của Chúa Thánh Thần trên mỗi Ki Tô Hữu là sự khôn ngoan, hiểu biết, thông minh, và biết lo liệu.
Có thể nói: KHÔNG GIÁO DÂN NÀO THẬT TÂM MUỐN ĐÁNH MẤT LINH HỒN M̀NH v́ chưng, ai mà chẳng biết TỰ LO khi đă trưởng thành?
(i) Có chăng, nền giáo dục Công Giáo, dựa trên nguyên lư Điều Kiện Hóa Đức Tin và Tu Đức Bề Ngoài đă để lại nhiều di hại chính nơi con cái Giáo Hội.
* Biến cố Da Vinci Code và việc nhiều lănh tụ Công Giáo lo lắng cho di hại "RẤT CÓ THỂ LÀ TO LỚN" v́ sự xuyên tạc về cuộc đời của Chúa Giê Su và Giáo Hội trên giáo dân là một bằng chứng sống động. Chúng ta có thể đặt ra hai câu hỏi:
- Các giáo dân, tu sĩ, CÓ ĐẠO BAO NĂM mà mơ hồ thế?
Hay là,
- Nhiều người chẳng bao giờ nghe đến những sự việc này trong Nền Giáo Dục Công Giáo, nên khi Dan Brown viết chuyện "GIẢ TỐT NHƯ THẬT", miêu tả đến xuất thần: THẤY CÓ LƯ! phải không?
(ii) Lại cũng có chăng, việc các lănh tụ Công Giáo thiếu CAN TRƯỜNG trong sự ĐỀN BÙ và XOA DỊU triệt để những sai sót trong lănh vực Đạo Đức, Đạo Lư và Luân Lư đă đánh mất sự tin tưởng của nhiều giáo dân vào những Tông Đồ Kế Vị và người cầm trong tay ch́a khoá nước trời - Giáo Hoàng đương kim.
Nhà tôi có một cụ già 74 tuổi. Ông có đạo từ thuở c̣n mồ ma, cái thuở vừa sinh ra ở một giải đất tại Ninh B́nh, Bắc Việt Nam. Ông chẳng biết nhiều về Luật Chúa - v́ từ đó đến giờ, chẳng có ai màng nói cho ông biết bao nhiêu. Ông chẳng biết nhiều về sự Sai Trái, Lỗi Lầm của con cái giáo hội, v́ Lịch Sử với ông là những hiện thực xa vời. Ông có một đức tin bất di bất dịch là: MỖI TUẦN, chúng bay phải đi nhà thờ, bằng không, chúng bay là quân "VÔ ĐẠO". “Không thể làm trái LUẬT CHÚA”, ông thường tâm sự với tôi như vậy. Luật Chúa theo ông là lời các cha giảng dạy trong nhà thờ, bổn phận ông là VÂNG PHỤC và THỰC HÀNH không ư kiến - có thế thôi.
Chúng ta nên buồn hay nên mừng vui khi thấy những Giáo Dân mẫu mực trong khuôn khổ thuần tuư, là sản phẩm của sự ĐIỀU KIỆN HOÁ ĐỨC TIN?
Không biết Thiên Chúa mai này sẽ XÉT ĐOÁN chúng ta ra sao? Nhưng với tâm trạng, suy nghĩ và hiểu biết của một giáo dân Công Giáo, là thế hệ Công Giáo tiếp nối của cụ già 74 tuổi đó (cha tôi), với tôi mà nói, thế vẫn c̣n chưa đủ!
T́ềm năng phục tùng rất đúng khi hiểu theo tinh thần Lời Kinh Thánh:
Ngừơi phải lớn lên, tôi phải nhỏ đi (phục tùng Chúa trong ḿnh)
Tôi sống, nhưng không c̣n phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi (Gl 2:20) (Chúa làm chủ đời tôi)
Người ta chỉ cảm thấy dủ, thỏa măn, nghỉ ngơi yên hàn khi nhận ra Chúa - t́nh yêu Chúa - bản tính Thiên Chúa - Thiên Tính . Và điều quan trọng nhất trong cuộc đời của họ chính là sống trong
Lư do: họ không c̣n sống dưới LUẬT.. Đây là một điểm vô cùng tế nhị, Chỉ những người đạt được (tạm gọi là giác ngộ, đắc đạo) mới hiểu và chấp nhận, c̣n những kẻ sống dưới Luật sẽ lọai trừ tên tự do ra khỏi ṿng luật lệ của cộng đ̣an.
Tài Liệu Tham Khảo:
[1] DEUS CARITAS EST, Benedict XVI,
1. “God is love, and he who abides in love abides in God, and God abides in him” (1 Jn 4:16). These words from the First Letter of John express with remarkable clarity the heart of the Christian faith: the Christian image of God and the resulting image of mankind and its destiny. In the same verse, Saint John also offers a kind of summary of the Christian life: “We have come to know and to believe in the love God has for us”.
[2] Thiên Chúa Giáo và Tam Giáo, Lm. Cao Phương Kỷ,
Chương 7: Niềm Tin
Vào Một Ngôi Vị Thiên Chúa, Thượng Đế, Ông Trời
“THIÊN CHÚA SIÊU VIỆT VÀ NỘI TẠI
Như trên đă tŕnh bày về những hiểu lầm giữa Tam giáo và Thiên Chúa Giáo khi Đông phương và Tây phương gặp gỡ nhau. V́ thiếu nghiên cứu cẩn thận, thoạt tiên phía Tây phương đă vội phê phán Tam giáo là theo “Nội-Tại đa thần” (pantheistic immanentism), nghĩa là thờ quá nhiều thần phát xuất từ thiên nhiên như cỏ cây, cầm thú và con người, v.v., thiếu ư thức về một Thực Tại Siêu Việt, thiếu niềm tin vào một Vị Chủ Tể càn khôn. Có khi c̣n b́nh phẩm là theo thuyết “bất khả tri” (agnosticism), nghĩa là không thể biết chắc được những ǵ là siêu nhiên, nhưng chỉ có thể biết thực sự những hiện tượng vật chất. Ngược lại, các đạo gia, khi mới tiếp xúc với Thiên Chúa giáo, phê b́nh Đấng Tạo Hóa trong Kinh Thánh thiếu tính cách siêu việt, v́ hành động, tâm t́nh như một con người biết giận hờn, thịnh nộ, ghen ghét, v.v., theo thuyết “thần-nhân-đồng-h́nh” (anthropomorphism). Cho đến ngày nay, một số các học giả vẫn “ngại” chấp nhận việc gán cho Thực-Tại Siêu-Việt bất cứ một danh xưng nào như Thượng Đế, Thiên Chúa, v.v., v́ sợ làm hạ giá "Nguyên Lư Tuyệt Đối" xuống hạng phàm tục.
Đó là những hiểu lầm của cả hai bên cần phải đánh tan. Kỳ thực, cả hai đều hướng thượng, đều cố gắng vươn lên cơi Siêu Việt, cùng nh́n nhận một Thực-Tại Tuyệt-Đối (Tran-scendent), đồng thời Nguyên-Lư Siêu-Việt đó cũng “ngự trị”, tồn hữu “Nội Tại” (Immanent) nơi vạn sự vạn vật. Sau đây ta sễ t́m hiểu quan niệm thần học của Thiên Chúa Giáo, đặc biệt theo Thánh Tôma, về “Thiên Chúa Siêu Việt” trên hết mọi loài, mọi vật, đồng thời Ngài cũng hiện hữu “Nội Tại” trong mọi vật mọi loài.”
“THIÊN CHÚA NỘI TẠI (IMMANENT)
Thần học Công Giáo chủ trương Thiên Chúa vừa Siêu-Việt vừa Nội Tại, v́ Nội Tại của Chúa là hậu quả đi liền với Siêu-Việt của Chúa. Tại sao? Bởi v́, nếu Chúa không hiện diện nơi vạn sự vạn vật (Nội Tại), th́ sự Siêu-Việt của Chúa bị hạn chế và hậu quả là Chúa không c̣n là quyền năng Tuyệt-Đối nữa mà chỉ là tương đối. Chúa là Siêu-Việt, nên hậu quả là Chúa bất-khả-tri, và bất-khả-ngôn, nhưng đồng thời Chúa cũng hiện hữu thâm sâu “Nội Tại” trong mọi loài thụ tạo, đặc biệt trong các Linh-Hồn. Do đó, có thể gặp được Chúa trong nơi thâm cung của Linh Hồn.”
[3] CCC 366
366 The Church teaches that every spiritual soul is created immediately by God - it is not "produced" by the parents - and also that it is immortal: it does not perish when it separates from the body at death, and it will be reunited with the body at the final Resurrection.235
[4] Thiên Chúa Giáo và Tam Giáo, Lm. Cao Phương Kỷ,
Chương 7: Niềm Tin
Vào Một Ngôi Vị Thiên Chúa, Thượng Đế, Ông Trời
"Ta nên chú ư đến quan niệm thần học của Thánh Tôma về sự Cứu Độ, đă ảnh hưởng đến các giáo thuyết hiện đại về “tự do tôn giáo và giá trị của các tôn giáo ngoài-Thiên Chúa Giáo. Đó là “Học Thuyết Thánh Tôma về Siêu Việt” (Transcendental Thomism). Theo học thuyết này, Chúa hành động trong vũ trụ này qua các “đệ nhị nguyên nhân” (secondary causes), tức là các loài thụ tạo. Chúa là Đệ Nhất Nguyên Nhân (First Cause, Prima Causa), là Đệ Nhất Tác Nhân (First Agent, Primum Agens), nhưng Chúa không trực tiếp”can thiệp” vào thế giới này, theo nghĩa Chúa làm ngưng trệ hay sửa đổi sự vận chuyển, vận hành b́nh thường của các biến cố trong vũ trụ. Là “Nguyên -Động-Lực, Chúa “can dự” vào loài thụ tạo, theo nghĩa Chúa “hiện diện” ngay từ lúc khởi thủy nơi vũ trụ, và vũ trụ luôn qui hướng về Chúa rồi. Do đó, mọi hành động của con người được hoàn toàn tự do, nhưng đồng thời tự căn bản chúng đă bắt nguồn nơi Ân Sủng, hay sự hiện diện của Chúa. Theo học thuyết này, trên b́nh diện tự nhiên, (không có Ân Sủng siêu nhiên mà Chúa tự ư ban), con người “đă có " khả năng để nhận biết và yêu mến Chúa rồi, v́ đấy là khuynh hướng tự nhiên,nơi bản tính con người. Thánh Tôma gọi khả năng đó là “Tiềm Năng Phục Tùng” (potentia obedientialis, obediential potency), nghĩa là từ trong căn bản, con người cởi mở, hướng về và có thể tiếp nhận Ân Sủng siêu nhiên. Tại sao gọi là “phục tùng” vâng lời ? V́ con người không có quyền khiếu nại, đ̣i buộc Chúa, nhưng phải tùng phục tùy Chúa ban th́ mới tiếp nhận được. Cái “tiềm năng căn bản” đó, nhà thần học nổi tiếng thế kỷ 20, Karl Rahner (1904-1984) đặt tên là”tồn tại siêu việt” (supernatural existential), nghĩa là sự biến đổi thường xuyên nơi đời sống con người (existential) nơi thâm tâm con người, nhờ đó, con người được cải hóa từ nội tâm để qui hướng về Thiên Chúa (supernatural). Đây không phải là chính Ân Sủng, nhưng mới chỉ là “lời mời”để cung cấp Ân Sủng mà thôi, v́ con người có thể tự do tiếp nhận hay từ chối Ân Sủng. Danh từ Ân Sủng (gratia, grace) các nhà thần học dùng để chỉ Thiên Chúa”Tự-Thông -Truyền chính Ḿnh” (Self-Communication), như một Ân Huệ để nhân loại được nên thánh thiện, công chính, và được hạnh phúc trường sinh bất diệt. Ân Sủng hay sự Tự-Thông-Truyền này là một hành vi tuyệt đối tự do của Chúa ban cho loài thụ tạo hữu hạn, v́ Chúa là T́nh Yêu Thương vô biên (1 Gioan 4:8) tràn ra. Tự “bản tính tự nhiên” (nature), con người không có quyền đ̣i hỏi Ân Sủng siêu nhiên đó"
[5] International Religious Freedom Report 2005
Released by the Bureau of Democracy, Human Rights, and Labor, http://www.state.gov/g/drl/rls/irf/2004/35462.htm
Italy
Section I. Religious Demography
The country has an area of 116,347 square miles, and its population is approximately 57.8 million. An estimated 87 percent of native-born citizens are nominally Roman Catholic, but only 20 percent regularly participate in worship services. According to numbers reported by the communities, members of Jehovah's Witnesses form the second largest Christian denomination among native-born citizens, numbering approximately 231,000 adherents, followed by members of the Assembly of God (78,000), Methodists and Waldesians (27,000), and Mormons (22,000).
[6] CCC 1778
1778 Conscience is a judgment of reason whereby the human person recognizes the moral quality of a concrete act that he is going to perform, is in the process of performing, or has already completed. In all he says and does, man is obliged to follow faithfully what he knows to be just and right. It is by the judgment of his conscience that man perceives and recognizes the prescriptions of the divine law:
Conscience is a law of the mind; yet [Christians] would not grant that it is nothing more; I mean that it was not a dictate, nor conveyed the notion of responsibility, of duty, of a threat and a promise. . . . [Conscience] is a messenger of him, who, both in nature and in grace, speaks to us behind a veil, and teaches and rules us by his representatives. Conscience is the aboriginal Vicar of Christ.