Kính thưa Tâm Linh Vào Đời,
Cảm nghĩ của tôi khi nghĩ về Thiên Tính th́ trước nhất là vui mừng, thứ hai là thận trọng, nhất là trong cách dùng những ngôn từ thần học. Với sự thận trọng này tôi xin góp ư dưới dạng vài câu hỏi cũng như vài nhận định.
1. Tùy đối tượng (subject) là người kitô hữu, những dẫn chứng của tác giả bài "giải mă..." h́nh như áp dụng cho cả nhân loại, ví dụ sách ST 1:27. Vậy vấn đề Thiên Tính chỉ có thể áp dụng cho những người Kitô Hữu mà thôi, hay cho toàn thể nhân loại?
2. Thiên Tính là ǵ? và có Thiên Tính là có cái ǵ?
Theo cảm nghiệm của chúng tôi: Thiên Tính chính là Chúa Cha. Có Thiên Tính chính là nhận ra Chúa Cha đang hiện diện và hành động trong ḿnh, với ḿnh…ngay trong cuộc sống thường ngày. ( xin xem bài Giải mă Thiên Tính của Đức Giêsu ở trên)
3. Vài chỗ tác giả trích kinh thánh có 2 vấn đề:
-Những câu đó nói riêng về Đức Kitô hay nói chung về mọi người?
Dường như người ta thích phân biệt câu này chỉ dành cho Đức Giêsu, câu kia chỉ dành cho Phêrô, câu nọ chỉ dành cho Đức Maria…Theo cảm nghiệm của chúng tôi. Bất cứ câu nào cũng dành chung cho cả mọi người. Có như thế th́ Lời Chúa mới sinh hoa kết quả được. Nếu tôi quyết rằng câu này dành riêng cho Đức Giêsu thế th́ chuyện đồng h́nh đồng dạng với Con của Người (Rm 8:29) sẽ trở thành không tưởng. Hoặc câu nổi tiếng: Tôi và Cha tôi là một (Ga 10:30) Nếu chỉ dành riêng cho Đức Giêsu th́ chuyện tôi kết hiệp nên một với Chúa chỉ là chuyện ḥan ṭan lư thuyết, không trở thành hiện thực được.
Linh mục Khảm gọi việc đọc Kinh Thánh kiểu này là CÁ NHÂN HÓA.
-Từ ngữ "bản tính" Thiên Chúa mà tác giả dùng h́nh như không thấy được dịch ra các thứ tiếng phổ thông khác (như "nature/substance/esssence" trong Anh Ngữ) vậy dịch ra tiếng Việt như thế có chính xác không?
Chủ trương của Tâm linh Vào đời chỉ quan tâm tới sống đạo đích thực với Chúa của ḷng ḿnh, chứ không dám đi sâu vào việc phân tích từ ngữ đúng sai, hoặc từ này bắt nguồn từ tiếng La tinh, Hy lạp, Aram là ǵ… Mong ngài thông cảm cho.
Vài nhận định sơ sài của tôi:
1-Tôi nghĩ khi nói đến bản tính th́ phải áp dụng cho tập thể chứ không áp dụng cho số ít. Vậy đầu đề không cần nói riêng về Kitô Hữu.
Theo lối nh́n Tâm linh: Bản tính này quả là áp dụng cho tập thể - ṭan thể nhân loại
Theo lối nh́n nhân lọai: Có một điều rất tế nhị. Nếu
chúng ta nói áp dụng cho ṭan thể nhân loại th́ chắc chắn sẽ đụng chạm tới các
tôn giáo khác và gây ra những cuộc bút chiến về từ ngữ vừa vô ích vừa mất thời
gian và tốn công sức cho cả đôi bên.
Rất có thể anh em Phật giáo sẽ phản đối mạnh mẽ rằng Bản tính Thiên Chúa của đạo
anh chứ có dính dáng ǵ với đạo của tôi. Chúng tôi chỉ biết Chân tánh hay Phật
tánh mà thôi…Chính v́ thế tác giả không muốn dùng tựa đề “Thiên
Tính của con người”, mà chỉ dám giới hạn “Thiên
Tính của người Kitô hữu” - những người tin theo,
đón nhận và sống nên một với Đức Kitô.
2-Tuy không thể nói hết Thiên Tính là ǵ, ta có thể mường tượng rằng Thiên Chúa là toàn minh, toàn năng, toàn thiện, toàn mỹ, vô tận, alpha, omega, v.v..
Đa số người ta thường diễn tả Thiên Chúa với hàng chục Thuộc tính cao sang, tuyệt đối như: toàn minh, toàn năng, toàn thiện, toàn mỹ, vô tận, alpha, omega, v.v..
Theo ánh mắt tâm linh, người th́ cảm nhận bản tính Thiên Chúa là T́nh yêu, kẻ lại cảm nghiệm bản tính Thiên Chúa là nguồn sống dồi dào.. người khác lại tâm đắc Thiên Chúa là Chân lư…Thiên Chúa rất gần gũi, gần tới độ họ có thể hít thở, làm việc với Ngài, trong Ngài. Thật vậy, chính ở nơi Người mà chúng ta sống, cử động, và hiện hữu, như một số thi sĩ của quư vị đă nói: "Chúng ta cũng thuộc ḍng giống của Người. (Cv 14:28)
3. Tất cả kinh thánh qui về Chúa Giêsu Kitô.
Vâng, rất đồng ư, nhưng không dừng lại ở Chúa Giêsu Kitô, mà phải vươn tới Chúa Cha: Ngôi Lời vẫn hướng về Chúa Cha (Ga 1;1). Chúa Cha vừa là Thiên Tính của Đức Giêsu vùa là Thiên Tính của người Kitô hữu.
4-Theo tôi nghĩ th́ khi dùng danh từ "Thiên Tính " th́ có thể lầm lẫn 2 ư nghĩa tổng quát. Một là "bản chất" toàn năng toàn thiện toàn mỹ hay là những sự xuất hiện như vậy của Thiên Chúa; hai là những "cá tính" phản ảnh sự hiểu biết, sự đẹp đẽ, sự tốt lành hay là những tiềm năng có sẵn trong nhân bản.
Theo nghĩa thứ nhất, "bản tính" chính là định nghĩa của một vật.
Khi đề cập đến "bản tính" th́ dùng chữ "là" chứ không dùng chữ "có" v́ bản tính hay bản chất chính là định nghĩa của hiện vật. Ví dụ người ta nói "tôi là loài người" chứ người ta không nói "tôi có loài người"; hay nói "Thiên Chúa là thượng trí" chứ không nói "Thiên Chúa có thượng trí". Tương tự như vậy, chỉ ḿnh Thiên Chúa mới có thể nói "ta là thiên chúa" chứ không thể nói "ta có Thiên Tính " theo nghĩa thứ nhất.
Theo nghĩa thứ hai, những "cá tính" giống thiên chúa không dùng để định nghĩa nhưng để tả một vật. Ví dụ, một người có thể nói "tôi có trí khôn" chứ người ta không nói "tôi là trí khôn"; hoặc nói "tôi có thể suy nghĩ" chứ không nói "tôi là suy nghĩ"
Nói cách khác, xin dùng những ví dụ sau:
1-thiên chúa là thượng trí
2-con người có trí khôn
1-thiên chúa là sự sống
2-con người có sự sống
1-thiên chúa là t́nh yêu
2-con người có t́nh yê
1-thiên chúa là toàn năng
2-con người có khả năng
Vấn dề quan trọng vẫn là có nhận ra Thiên Tính và sống vói Thiên Tính của ḿnh hay là không.
V́ lối hành văn của tác giả và v́ chính tác giả nói rằng không muốn phạm thượng, tôi nghĩ tác giả đang muốn dùng từ ngữ "Thiên Tính " theo nghĩa thứ hai ở trên. Chính v́ sự dễ lầm lẫn, thiết nghĩ không nên dùng danh từ "Thiên Tính " hay "bản tính thiên chúa". Đó là những danh từ triết học không có trong kinh thánh mà cho đến bây giờ vẫn c̣n nhiều bàn căi sôi nổi và hiểu lầm. Ngại rằng độc giả rối trí nếu không có sự nhạy bén về triết học hay thần học. Nên kiếm từ ngữ khác.
Vấn đề sợ phạm thượng: không phải tác giả mà là những người bạn của tác giả. Bởi v́ điều quan tâm nhất của tác giả là sống hiệp nhất với Ngài trong yêu thương, chứ không phải sống kiếp nô lệ đối với một ông Chúa cao sang, quyền năng, ṭan thiện. V́ sống trong yêu thương nên không có vấn đề sợ phạm tội “khi quân”!!
Sở dĩ tác giả dùng từ Thiên Tính là v́ 2 lư do sau đây:
· Nhân sự kiện Da Vinci code, một số tác giả đă dùng từ Thiên Tính của Đức Giêsu
· Lẽ ra chúng ta có thể dùng từ Căn Tính của người Kitô hữu thay v́ Thiên Tính của người Kitô hữu, nhưng tác giả đă cố ư dùng từ Thiên Tính để gây sự chú ư và thêm một chút suy tư nữa của các độc giả th́ tốt biết bao.
Cuối cùng tôi xin khẳng định cùng với Giáo Hội một cách vắn tắt đơn giản: Con người là Con Người không phải là Thiên Chúa; Thiên Chúa là Thiên Chúa, không phải là Con Người. Duy nhất chỉ có Đức Giêsu Kitô vừa là Người hoàn toàn vừa là Thiên Chúa hoàn toàn.
Đựơc tạo dựng nên làm người là quá đủ cho tôi vui mừng phấn khởi, v́ trong nhân bản của tôi chính là những tiềm năng mà toàn thể các tạo vật khác không có, để làm tôi trở nên "h́nh ảnh" của Thiên Chúa. Hơn nữa khi nhận thức về nhân bản cao quí đă được cứu rỗi tôi c̣n vui sướng biết bao. Nói cách khác, tôi đă được "thiên chúa hoá" (divinized) chứ tôi không là Thiên Tính mà cũng không có Thiên Tính .
Vâng, xin tôn trọng quan niệm của linh mục.
Kính thưa ban biên tập Tâm Linh Vào Đời
Để đáp lại lời thỉnh nguyện của qúy vị về bài Giải mă Thiên Tính của
Người Kytô hữu, tôi xin được nêu lên một vài điểm gọi là để quư độc giả am
tường.Ư niệm về Thiên Tính trong con người đă được các Thánh phụ như Irenaeus,
Athanasius đưa ra từ lâu. Trong Giáo Lư Công Giáo cũng trưng dẫn lời của các
Ngài: 'God became man so that man may become God', tạm dịch: Đấng Thánh trở nên
phàm nhân để phàm nhân trở nên Thánh. Đây không phải là một đề án triết lư mà
là cách biểu lộ một ư niệm về lẽ huyền diệu.
Chúng tôi rất đồng ư với linh mục Giuse Nguyễn Thế-Quang khi trích dẫn lời tuyên bố của giáo phụ Irenaeus, Athanasius đưa ra từ lâu. Trong Giáo Lư Công Giáo cũng trưng dẫn lời của các Ngài: 'God became man so that man may become God', - Chúa trở nên người để người trở nên Chúa.
Tuy nhiên, hễ nói về mầu nhiệm th́ dù Đông hay Tây, tất cả đều phải nhường chỗ cho việc suy niệm của Tâm: V́ hễ nói ra th́ sẽ khiến cho người ta chấp vào mà lầm rằng: Thiên Chúa và Thiên Tính chẳng qua là do con người dùng sự khao khát ở cái tuyệt đối không có mà tạo thành. Tuy tính b́nh đẳng tuyệt đối giữa chân lư và con người được nêu lên trong Phật giáo nhưng đó chỉ là để đả phá tinh thần nô lệ vào thần quyền của Đông phương. Khái niệm 'b́nh đẳng tuyệt đối' cũng bị Thiền Tông phủ bác v́ không muốn để lại một niệm nào để con người chấp vào. Điểm này được bày tỏ trong cuộc đối thoại giữa hai sư đồ và được cha Anthony de Mello sưu tầm như sau:
Đệ tử: Đệ tử có Phật tính không?
Sư phụ: Không.
Đệ tử: Sao tất cả đều có Phật tính mà đệ tử lại không?
Sư phụ: V́ ngươi c̣n đặt vấn đề về Phật tính. C̣n đặt vấn đề là c̣n tự tách
ḿnh khỏi cái ḿnh đặt vấn đề.
Ngôn ngữ ḷai người quả là hạn hẹp nên ngay Đức Giêsu cũng phải xoay xở đủ mọi cách để nói ra dù biết rằng nó dễ gây hiểu lầm. Một loạt dụ ngôn về nước Chúa chứng tỏ rằng dù rất khó diễn tả, nhưng Đức Giêsu vẫn cố gắng giải thích.
Thực vậy, nếu không nói bằng lời th́ làm sao người khác hiểu một phần nào điều ḿnh chia sẻ. bằng chứng là có khá nhiều độc giả khi gởi mail về Tâm linh vào đời đă phải thốt lên: Tôi giữ đạo năm, sáu bảy chục năm rồi mà chưa nghe ai nói về Thiên Tính của người Kitô hữu. Biết đâu nhân cơ hội này một số người sẽ khám phá ra Thiên Tính quư báu của ḿnh mà bấy lâu nay ḿnh không hề nghe nói tới ..
Chính v́ thế đối với người chưa nhận ra th́ người đă nhận ra phải dùng phương tiện để diễn tả một phần nào đó. V́ thế vẫn c̣n phải đặt vấn đề. Chính v́ thế mà Đức Giêsu đă rong ruổi khắp miền Thập tỉnh suốt ba năm rao truyền chân lư và đặt nhiều vấn đề cho các môn đệ của ḿnh như: Các con bảo Thày là ai? Đức Phật đă trải qua 49 năm để thuyết pháp. Và các vị tổ đă đặt cho các đệ tử của ḿnh những công án – một cách đặt vấn đề quyết liệt - để các đệ tử nhận ra chân tánh. Đó là những cách đặt vấn đề điền h́nh.
Một lư do khác mà Thiên Tính không được nhắc đến thường xuyên là v́ ngă chấp ở Tây phương khác Đông phương: bên Tây phương, người ta thường để cái Ngă tự tôn (self-asserted) c̣n Đông phương th́ để nó tự ti (do đó mà bị nô lệ thần quyền).
Thiên Tính quả có được đề cập đến bên Tây phương. Tuy nhiên, v́ tính tự tôn của cái ngă mà 'tính b́nh đẳng tuyệt đối' do mầu nhiệm nhập thể không được phổ biến rộng răi. Đúng như quư vị nhận xét, v́ khi con người tự tôn nên Thiên Chúa cần được đề cao. Vậy nên, thánh Phaolô mới nói:
'Tôi sống nhưng không phải là tôi sống mà là đức Kytô sống trong tôi.'
C̣n như bên Đông phương th́ lại khác. Bản ngă thường nép sau thần thánh, và dùng thần thánh để bảo vệ cho bản ngă. Người ta tạo nên một cá tính riêng (personal identity) và quên mất là căn tính duy nhất trong họ là h́nh ảnh Thiên Chúa. Vậy nên, trong Phật giáo mới đả phá tinh thần nô lệ thần quyền để cho Phật tánh trong con người tự sáng. Trong bài Giải mă Thiên Tính quả có ích cho người Đông phương, nhưng cũng có đến mức độ nào thôi. V́ tất cả đều là khái niệm, mà khái niệm th́ có cái giới hạn của nó. Hơn nữa khái niệm về chân lư không phải là chân lư. Những người đă từng quen thuộc với triết học Tây phương thường không quen với khái niệm 'b́nh đẳng giữa Thiên-tánh và Nhân-tánh'. V́ nó dễ đưa đến kết luận là con người tạo nên Thiên Chúa như đă tŕnh bày trước đây.
Vâng, đúng vậy. Khái niệm về chân lư không phải là chân lư. V́ chân lư là cái để người ta sống và cảm nghiệm chứ không phải là điều để bàn luận suông. Tuy nhiên như đă đề cập ở trên. Hiện nay, chúng ta vẫn phải dùng ḷi nói, chữ viết như là một phương tiện để tŕnh bày một số khái niệm giúp cho người khác nương vào đó để khám phá ra chân lư – một Thiên Chúa nội tại sống động.
Chúng tôi xin được phép nhắc lại: Khám phá ra Thiên Chúa vốn sẵn trong ḿnh, chứ không phải tạo nên một Thiên Chúa theo tưởng tượng của ḿnh – đặc biệt là những thuộc tính phi thường mà loài người không thể có như: toàn minh, toàn năng, toàn thiện, toàn mỹ, vô tận, alpha, omega, v.v..
C̣n hỏi tại sao tôi có Thiên Tính mà tôi không làm phép lạ được th́ xin hỏi lại: Ai có thể định nghĩa được khả năng của người có Thiên Tính ? Làm phép lạ ư? Những loại phép lạ nào? Chúa Giêsu tuy làm phép lạ nhưng không phải là cái ǵ Người làm cũng khác thường. C̣n như nếu hiểu rằng phép lạ là bất cứ việc Thiên Chúa tác hành qua con người th́ làm ǵ trên thế giới lại không có người làm phép lạ.
Đây là một quan niệm mới về phép lạ. Chúng ta thường quan niệm phép là là những ǵ cả thể, vượt qua những ǵ b́nh thường của con người. ở đây linh mục Thế Quang đă cho rằng phép là chính là làm những việc b́nh thường một cách phi thường – trong t́nh trạng kết hiệp với Chúa. Chúng tôi rất đồng ư và tâm đắc với ư kiến này.
Về mặc cảm tội lỗi: th́ xin thưa con người phần nhiều chưa rơ về tội của ḿnh, nên mới phạm tội, nên c̣n bị nô lệ tội lỗi. Lăo tử nói: Bệnh bệnh bất bệnh - biết bệnh thời không c̣n bệnh: biết tội thời thôi phạm tội. C̣n phạm tội mới c̣n mặc cảm tội lỗi. Nhưng c̣n phạm tội là v́ chưa biết rơ tội. Đă không biết rơ tội th́ làm sao có thẩm quyền mà hỏi như là người biết tội: Nếu tôi có Thiên Tính th́ tại sao tôi c̣n phạm tội? Chỉ có đấng hoàn thiện mới biết rơ và lên án tội. Tuy nhiên, đấng hoàn thiện lại không phân biệt ḿnh với người tội lỗi. C̣n như con người tuy không rơ tội nhưng lại lên án người phạm tội. Và có khi họ có lên tiếng chống đối tội ác nhưng đó cũng chỉ là v́ họ sợ dư luận: ví dụ như việc đảng CSVN lên án những vụ buôn bán phụ nữ và trẻ em từ VN.
Mặc cảm yếu đuối, tôi lỗi đó là mặc của đa số những người Kitô hữu. V́ họ sống dưới lề luật.
Chính Phaolô cũng đă t́m ra nguyên nhân dễ gây nên tội đó là:
Bởi lẽ trước nhan Chúa, không người phàm nào được nh́n nhận là công chính v́ đă làm những ǵ Luật dạy. Luật chẳng qua chỉ làm cho người ta ư thức về tội.(Rm 3:20)
Nhưng ngay đầu chương tám, Phaolô đă khoái chí thốt lên trong niềm vui được giải thóat:
Vậy giờ đây, những ai ở trong Đức Ki-tô Giê-su, th́ không c̣n bị lên án nữa. Thật vậy, luật của Thần Khí ban sự sống trong Đức Ki-tô Giê-su, đă giải thoát tôi khỏi luật của tội và sự chết
Nếu sống trong Chúa – Đức Kitô – th́ họ ngày càng bớt dần, bớt dần và cuối cùng họ không c̣n quan tâm tới vấn đề tội lỗi nữa. Mỗi buổi tối thay v́ xét ḿnh hôm nay tôi phạm bao nhiêu tội th́ họ lại xét rằng hôm nay ḿnh nhớ Chúa và sống với Chúa của ḷng ḿnh bao nhiêu phút, bao nhiêu giờ… và họ t́m cách để số giờ phút sống kết hiệp với Chúa ngày càng tăng lên: Thời gian đầu 5, 10 phút, nhưng sau khỏang mừoi năm họ có thể sống kết hợp với Chúa vài giờ trong một ngày là chuyện thường…
Tuy chẳng phải giám mục hay hồng y nhưng những điều tôi phân tích trên
đều không ngoài giáo lư tông truyền. Nếu quư độc giả nào thấy có thể làm sáng
tỏ thêm vấn đề xin chỉ giáo thêm và cám ơn trước….
Kính.