P. Nguyễn Thái Hợp, O.P.
Toạ đàm, Hội thảo và Thuyết tŕnh chuyên đề vẫn được coi là thành phần thiết yếu trong sinh hoạt trí thức của các Đại học và các Trung tâm Học vấn. Khó có thể tưởng tượng một Trung tâm Học vấn năng động, sáng tạo và đầy sức sống mà lại vắng bóng những sinh hoạt ngoại khoá đó. Trên thực tế, tiềm năng và sự phát triển trí thức của một Trung tâm Học vấn thường biểu lộ qua công tác giảng dạy, công tŕnh nghiên cứu, các cuộc Hội thảo chuyên đề, số lượng và chất lượng ấn phẩm.
Hoàn cảnh đặc biệt của Việt Nam trong mấy thập niên vừa qua làm cho các sinh hoạt ngoại khoá b́nh thường nói trên trở thành chuyện không tưởng và viễn mơ. Trong giai đoạn bao cấp đó, hoàn thành chương tŕnh đào tạo tối thiểu theo qui định của giáo luật đă là một thành công lớn lao. Những chuyện khác đành phải xếp lại, hạ hồi phân giải.
Nhưng lịch sử đă sang trang và đất nước đang cố gắng cởi bỏ bộ áo bao cấp để hoà nhập vào ḍng chảy chung của nhân loại. Đối diện với toàn cầu hoá và nền văn minh trí tuệ, rất nhiều thách đố đang được đặt ra cho sứ vụ loan báo Tin Mừng của Giáo hội. Để có thể trả lời cho những thách đố của thời đại, một số người đă đề nghị nên triệu tập một Công đồng Vatican III. Oái oăm thay, tại quê hương đất nước của chúng ta, ngay vấn đề căn bản là tiếp thu đường hướng “canh tân và thích nghi” của Công đồng Vatican II … vẫn chưa làm xong !!!
Làm sao lấy lại thời gian đă đánh mất và lấp đầy khoảng trống đó? Trong mấy năm vừa qua, bất chấp những giới hạn về nhân sự và những “ṿng kim cô” nghiệt ngă của xă hội, Trung tâm Học vấn Đa Minh vẫn âm thầm tổ chức một số buổi Thuyết tŕnh và Tọa đàm chuyên đề. Có thể coi chúng như những h́nh thức thử nghiệm, dưới dạng thức “bỏ túi” và thuộc loại “nội bộ nới rộng”.
Hội thảo “Yves Congar, con người và tư tưởng” khai mở một giai đoạn mới trong sinh hoạt thần học của Trung tâm. Hồng y Congar được chọn, v́ năm 2004 kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ngài. Hơn nữa, Congar vừa là một tu sĩ Đa Minh kiểu mẫu, vừa là một thần học gia hăng say dấn thân cho Giáo hội. Cha đóng góp rất nhiều cho việc canh tân nền thần học Công giáo và chấp bút cho nhiều bản văn của Công đồng Vatican II.
Quá bức xúc về t́nh trạng chia rẽ bi thảm của Kitô giáo, Yves Congar đă cống hiến trọn vẹn cuộc đời cho “niềm đam mê hiệp nhất”. Nghiêm túc đọc lại lịch sử Kitô giáo và chân thành nghiên cứu quan điểm thần học của mỗi Giáo hội, cha nhận thấy mỗi Kitô hữu và mỗi Giáo hội có một vai tṛ, một tiếng nói trong lịch sử thánh mà Thiên Chúa đă viết ra. Mỗi bên cũng có một nét đẹp riêng biệt do Thiên Chúa trao ban ... Chính v́ vậy, mỗi Giáo hội cần lớn lên không phải bằng cách hạ thấp và kết án người khác, mà v́ biết đón nhận ánh sáng Thiên Chúa từ kẻ khác và truyền đạt cho nhau những ǵ Chúa giúp ḿnh thực hiện…
Rất tiếc, ḷng tha thiết phục vụ sự hiệp nhất Kitô giáo và những đề nghị canh tân Giáo hội của cha đă bị hiểu lầm một cách tai hại. Tất cả chiều hướng thần học tiến bộ và những đề nghị canh tân cơ cấu để trung thành hơn với Tin Mừng đă bị kết án: cha bị cách chức giáo sư, không được giảng thuyết, cấm xuất bản và phải đi lưu đày.
Bị “kết án phải im lặng”, phải từ bỏ môi trường sinh hoạt trí thức và phải sống xa những người thân yêu một cách bất công, vào giai đoạn sung măn nhất của cuộc đời nghiên cứu, Yves Congar cảm thấy choáng váng, chới với và hầu như tan vỡ ! Cha cảm nghiệm một cách sâu xa như đang bị tước đoạt dần dần lẽ sống và bị đánh mất chính căn tính. Trong giai đoạn lưu đày ở Anh, nỗi cô đơn khủng khiết cứ gặm nhấm tâm hồn, mỗi ngày một ít. Cha xuống tinh thần rơ rệt. Nhiều lần, dưới lớp sương mù dày đặc và ảm đạm của Luân Đôn, cha đă khóc tức tưởi hàng giờ.
Trong lá thư gởi thân mẫu nhân dịp bà cụ kỷ niệm bát tuần, cha thổ lộ: “Trên thực tế, người ta đă huỷ hoại con. Người ta đă huỷ diệt con bao nhiêu có thể. Tất cả những ǵ con đă tin tưởng và đă xả thân thực hiện, đều bị tước đoạt: phong trào đại kết (hầu như con đă chẳng làm ǵ nữa kể từ năm 1939!), dạy học, diễn thuyết, hoạt động giúp các linh mục, cộng tác với tạp chí Témoignage chrétien,v.v...; tham dự các đại hội (của trí thức Công giáo...).
Người ta đă không đụng đến thân xác con, trên nguyên tắc, người ta cũng không đụng đến tâm hồn con; người ta cũng chẳng đ̣i hỏi con điều ǵ. Nhưng không thể giản lược một con người vào da thịt hay linh hồn. Nhất là khi người đó lại là một tông đồ về đạo lư; anh ta là hoạt động của anh ta, là t́nh bằng hữu, là mối tương quan, là sự toả sáng b́nh thường của ḿnh. Người ta đă tước đoạt khỏi con tất cả những điều đó; người ta đă chà đạp lên tất cả và như thế người ta đă làm tổn thương sâu xa đến bản thân con. Người ta đă dẫn con đến độ chẳng c̣n ǵ cả, và tất nhiên người ta đă huỷ diệt con. Đôi lúc, hồi tưởng lại ước vọng thế này thế nọ và đă bắt đầu làm, con tan nát cả cơi ḷng.
Con cũng biết t́nh trạng vô phương cứu chữa. Con biết họ rơ lắm. Con biết rằng khi họ đă truy lùng ai, th́ họ truy lùng cho đến chết. Người ta đă cho phép cha Sertillanges được trở lại nước Pháp khi cha đă ngoài tám mươi tuổi (…). Trong ba lần lưu đày, lần này nghiệt ngă hơn cả. Không phải là cuộc sống ở Anh quốc không có những khía cạnh tốt đẹp: con xin ghi nhận điều đó. Các bạn đồng nghiệp hiếm hoi của con (…) rất tử tế. Nhưng, ngoài trở ngại ghê gớm về ngôn ngữ, họ hầu như chẳng tha thiết ǵ đến điều con quan tâm. Con tri ân họ v́ rất nhiều điều tốt đẹp, nhưng con thiết nghĩ họ sẽ không bao giờ là những người bạn thân của con. Trong thực tế, ở đây, con không có bạn. Con cô đơn một cách khủng khiếp”[1].
Đối với Yves Congar, Giáo hội vừa là Mẹ vừa là một thập giá nghiệt ngă. Có một lúc nào đó trong những năm dài ảm đạm này, cha đă tuyệt vọng đến độ muốn kết liễu sớm cuộc đời bằng chính cái chết hay t́m cách giải quyết vấn đề bằng biện pháp hồi tục. Nhưng nhờ sự động viên của bạn bè, nhờ sức mạnh nội tâm và nhất là nhờ t́nh yêu đối với Mẹ – Giáo hội, cha đă quyết liệt chống lại cám dỗ muốn t́m những giải pháp dễ dăi đó[2]. Cha nhất quyết ở lại, sẵn sàng hy sinh tất cả, can đảm đi trọn con đường thập giá và cố gắng không để ḿnh bị nghiền nát bởi “hệ thống tai ương” của giáo triều lúc đó, ngơ hầu các thế hệ tương lai được giải thoát khỏi “ṿng kim cô” về tôn giáo.
Bất chấp những khổ đau và thất vọng, cha vẫn kiên cường giữ vững niềm tin. Giữa những mây mù tăm tối, cha vẫn sáng suốt nói lên xác tín thâm sâu của niềm tin: “tôi phải bước đi để Giáo hội tiến lên”.
Cuốn sách nhỏ này quy tụ các bài tham luận đă được thuyết tŕnh tại Hội thảo “Yves Congar, con người và tư tưởng” do Trung Tâm Học Vấn Đa Minh tổ chức vào ngày 30 tháng 10 năm 2004. Ngoài ra, chúng tôi đă trích dịch nguyên văn lá thơ Yves Congar viết cho thân mẫu và giới thiệu thêm ba bài tiêu biểu về Yves Congar của đức Hồng y Walter Kasper, linh mục Timothy Radcliffe, O.P. và linh mục Herver Legrand, O.P.
Dựa trên nội dung, chúng tôi đă chia tập sách nhỏ này thành hai phần rơ rệt. Phần I mang tựa đề : Yves Congar, con người và tư tưởng. Phần này qui tụ một số bài nghiên cứu nhằm giới thiệu con người và quan điểm thần học của tác giả. Bài “Yves Congar, thiên thần chiến đấu hay một ngôn sứ” của linh mục Thiện Cẩm tŕnh bày về con người và cuộc đời thăng trầm của Congar. Đức cha Bùi Văn Đọc giới thiệu “Thánh linh học của Yves Congar trong bối cảnh hậu Công đồng”. Linh mục Nguyễn Thái Hợp giới thiệu “Yves Congar, một thần học gia khai mở”, đặc biệt về ba lănh vực Giáo hội học, đối thoại Đại kết và thần học giáo dân.
Với tư cách là một giáo sư được hân hạnh tiếp nối công tŕnh nghiên cứu của cha Congar, thần học gia Hervé Legrand làm nổi bật một h́nh ảnh đă gây nhiều ấn tượng: “Yves Congar, niềm đam mê hiệp nhất”. Đức Hồng y Walter Kasper nh́n lại con đường Đại kết chông gai và sự đóng góp quư báu của Yves Congar trong tiến tŕnh hợp nhất đầy chông gai này.
Phần II mang tính cách chứng từ nhiều hơn và xoay quanh chủ đề “Dấu ấn Yves Congar”. Trước hết, nữ tu Mai Thành gợi lại h́nh ảnh “Yves Congar: con người đại kết”. Kế đó, linh mục Nguyễn Trọng Viễn suy nghĩ chung quanh “dấu ấn giáo hội học” của Yves Congar. Với tư cách một giáo dân, giáo sư Nguyễn Khắc Dương nói lên ấn tượng và cảm xúc của ḿnh khi đọc “Những điểm mốc cho một thần học giáo dân” của Yves Congar.
Chúng tôi cũng hân hạnh giới thiệu bài giảng của linh mục Timothy Radcliffe, cựu Tổng quyền Ḍng Đa Minh, nhân dịp lễ an táng của cố Hồng y Yves Congar. Cuối cùng, xin được kết thúc cuốn sách nhỏ này bằng lá thơ rất độc đáo, trong đó cha Yves Congar đă bộc lộ nỗi ḷng với thân mẫu, nhân dịp bà cụ mừng bát tuần.
Đối với Giáo hội Công giáo, Công đồng Vatican II đă xuất hiện như một mùa xuân, sau những mùa đông giá lạnh và kéo dài lê thê hàng bao thế kỷ. Sự đóng góp của Công đồng cho Giáo hội không phải chỉ nằm ở những bản văn, mà trước hết và trên hết là những định hướng. là giữa Giáo hội với thế giới. Chính Vatican II đă khai mở một hướng đi mới qua chủ trương đối thoại với thế giới và con người hôm nay.
Nếu tại tại Tây phương, chỉ mấy năm sau khi Công đồng bế mạc, có những người đă lấy làm tiếc là Công đồng đến quá chậm: khi Giáo hội vừa vất vả mở xong cánh cửa ra thế giới bên ngoài … th́ lịch sử đă sang trang. Nhân loại lại phải đối đầu với những khó khăn và thách đố khác. Chính v́ vậy, nhiều dự phóng và điểm nóng của Vatican II nhanh chóng bị thời gian vượt qua, hay ít nhất không c̣n cái hứng khởi, phấn kích, mởi mẻ của thuở ban đầu.
Hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của Việt Nam đă khiến Giáo hội chúng ta ở trong một t́nh trạng khác hẳn: một nửa nước không được tiếp xúc trực tiếp với Công đồng và bốn mươi năm sau Công đồng, công việc tiếp thu Công đồng của Giáo hội Việt Nam h́nh như vẫn ở giai đoạn ban đầu. Cần nhiều cố gắng và sáng kiến hơn nữa mới có thể lấp đầy khoảng trống, đồng thời rút ngắn khoảng thời gian đă mất.
Ước mong “con người và tư tưởng của Yves Congar” sẽ giúp chúng ta hiểu, yêu mến và tiếp thu Công đồng một cách hữu hiệu hơn. Đặc biệt, tâm t́nh gắn bó của cha Congar đối với Giáo hội sẽ giúp chúng ta cảm thông và yêu mến Giáo hội hơn. Đặc biệt, thái độ can trường đi đến tận cùng con đường thập giá của cha sẽ khích lệ chúng ta can đảm dấn thân để Giáo hội tiến lên và để giảm thiểu, bao nhiêu có thể, các “ṿng kim cô” về tôn giáo cho các thế hệ tương lai.
Xin chân thành cảm ơn các thuyết tŕnh viên, các giáo sư, các sinh viên của Trung Tâm Học Vấn Đa Minh và tất cả những ai đă tích cực cộng tác để tổ chức thành công Hội thảo nói trên. Lời cuối cùng là lời tri ân các dịch giả và quư anh chị đă giúp hoàn thành tập sách này.