Trần Duy Nhiên
khongnhuan viết:
"...Tuy nhiên, nhân cơ hội anh bạn Phật tử của nhóm ḿnh đặt vấn đề th́ chúng ta
cũng nên lợi dụng cơ hội mà suy tư, kiếm t́m và cuối cùng quan trọng nhất là
sống với những điều chính ḿnh đă khám phá..."
Tôi không phải là một
Phật tử nên tôi không dám lạm bàn về ‘Phật tại tâm’, điều mà hẳn những vị ‘giác
ngộ’ phải bỏ một đời để mà cảm nghiệm... và ngay cả phật tử cũng phải sống cả
đời để mà hiểu, v́ thế tôi không dám lấy điều ḿnh nghe thấy trong đạo Phật để
mà so sánh với phạm trù ‘Thiên Tính’ trong Kitô giáo.
Tôi chỉ muốn nói về
ngôn ngữ. Một danh từ hay một phạm trù đặt ra là để cho mọi người căn cứ vào đó
mà giao tiếp. Từ những danh từ b́nh thường, như bàn, ghế, tủ... cho đến những
khái niệm trừu tượng như t́nh yêu, niềm hy vọng hay tâm, Phật tánh, Thiên
tính...
Cùng một từ ‘ḥm’ th́
người Bắc chỉ định cái khác, người Nam chỉ định cái khác. Và với hai từ khác
nhau, người Nam và người Bắc chỉ định cùng một cái, ví dụ : mùng/màn - mền/
chăn. (trong khi đó, ‘màn/chăn’ ở miền nam lại chỉ định những cái hoàn toàn khác
với miền bắc). Như thế, vấn đề quan trọng trong vấn đề KN đặt ra, có lẽ không
phải là t́m xem con người CÓ hay KHÔNG CÓ thần tính, mà xem ‘thần tính’ chỉ ‘cái
ǵ’!
Nếu chúng ta đồng ư
với nhau rằng ‘thần tính’ có nghĩa là bản tính Thiên Chúa - ‘bản tính’ theo
nghĩa ‘yếu tính’ ‘cái xác định ḿnh là ḿnh’ - th́ con người không có và cũng
không là Thiên Tính; bởi lẽ nếu chúng ta có hay chúng ta là thiên tính th́ chúng
ta chính là Thiên Chúa. Mà điều này th́ không thể được, v́ chúng ta không phải
là Thiên Chúa: Thiên Chúa là Đấng tạo dựng, và chúng ta là thọ tạo. Thiên Chúa
tự hữu, không giới hạn trong thời gian và không gian; chúng ta được tạo thành,
có một khởi đầu và một kết thúc... (kết thúc cuộc sống trong vũ trụ của thời
gian).
Nếu ngược lại, ta đồng
ư với nhau rằng ‘thần tính’ có nghĩ là một ‘tính chất’ ‘một ‘thuộc tính’ của
Thiên Chúa, th́ đương nhiên chúng ta có thần tính, v́ khi tạo dựng con người,
Ngài đă ‘thổi hơi’ vào vật chất, và ‘sự sống’ chính là một ‘thuộc tính’ của
Thiên Chúa.
V́ thế, vấn đề KN đề
ra có thể tiếp cận ở hai mặt: tích cực hoặc tiêu cực.
1.
Tích cực: khi ta biết được rằng thần tính ở
trong chúng ta (dù hiểu nghĩa nào đi nữa) th́ chúng ta mới mong thể hiện đúng
cuộc sống hướng về vô biên, c̣n nếu không ư
thức được th́ ta chỉ múa may quay cuồng trong cái thế giới (thể lư và tâm linh)
g̣ bó của ḿnh như con phượng hoàng sống kiếp gà trong ngụ ngôn sau đây:
CHIM PHƯỢNG HOÀNG CÓ
ĐÔI CÁNH VÀNG.
Có một người t́m
được một quả trứng phượng hoàng và đă để trong ổ gà mái. Ngày kia, một chú
phượng hoàng con đă nở ra và lớn lên với bầy gà con.
Suốt đời, chim
phượng hoàng sống như bầy gà v́ cứ tưởng rằng ḿnh là một chú gà: nó bươi đất để
kiếm trùng giun; nó cục tác và đập cánh bay vài bước trên mặt đất, như những chú
gà khác.
Năm tháng trôi qua
và phượng hoàng trở nên già nua. Một hôm, nó nh́n thấy một con chim oai phong
lẫm liệt bay lượn cao vút trên trời xanh, không chút gợn mây. Chim đó lượn qua
lượn lại một cách duyên dáng và oai phong ngược ḍng các cơn gió lùa dũng mảnh
mà chỉ khẽ rung đôi cánh màu vàng rực rỡ. Chim phượng hoàng già nua từ dưới mặt
đất nh́n lên không trung, rất đỗi ngạc nhiên. Nó hỏi con gà bên cạnh: "Con chim
ǵ thế?"
Gà trả lời: "Đó là
phượng hoàng, chúa tể của các loài chim. Thôi đừng nghĩ ngợi ǵ mất công: chúng
ta rất khác xa với giống chim đó."
Và chim phượng
hoàng không thắc mắc ǵ nữa. Cuối cùng nó đă chết mà cứ luôn luôn ngỡ rằng ḿnh
là một con gà lẹt đẹt trong sân.
Anthony de Mello
(The Song of the Bird)
2.
Tiêu cực: Nhưng tranh luận về Thần Tính để
làm cho ra lẽ về khái niệm của một từ th́ chỉ là một tṛ chơi vô bổ, và không đi
đến đâu. Chúng ta sẽ giống như những người mù sờ voi, v́ không ai trong chúng ta
biết được cái thực chất nằm tiềm tàng dưới chữ Thần Tính, v́ thần tính là một
cái ǵ thuộc về Thiên Chúa và ta không thể nào lấy một khái niệm con người mà
chuyển tải một cái ǵ vượt khả năng con người. (1) Vấn đề là ‘thiên tính’ trong
chúng ta giúp mỗi người làm ǵ với cuộc sống hiện tại của ḿnh.
Có một số học giả nghĩ
rằng ḿnh đă ‘làm’ rồi khi nói rơ ràng phải làm cái ǵ để cho một công việc đi
đến kết quả. (Điều rất thường xảy ra trong số các nhà chính trị salon). Có một
số Kitô hữu (và thậm chí những nhà thần học) nghĩ rằng ḿnh đă giải quyết được
vấn đề sống đạo của ḿnh, khi nói lên được một số chân lư mà ḿnh khám phá, mà
không để ư rằng đó chỉ là lời nói, mà lời nói th́ gió bay....
Thế nhưng khởi điểm
của Kitô giáo là : Lời đă trở thành xác thịt, và cư ngụ giữa chúng ta...
Lời, muốn
trở thành sức sống, th́ phải nhập thể trong cuộc sống thực tế của một con người,
nếu không th́ cũng chỉ là những tṛ chơi ‘trí thức’ để mua vui một vài trống
canh.
Và đó là điều tôi suy
nghĩ liên quan đến vấn đề 'Thần Tính - Thiên Tính’ mà Khổng Nhuận đề ra, cũng
như về những phạm trù công giáo khác. Chúng ta có thể có thái độ tích cực hay
tiêu cực đối với mọi vấn đề ḿnh tranh luận. Nghĩa là mọi vấn đề đưa ra đều có
thể biến thành ‘của ăn’ để ḿnh tiến lên trong đời sống đạo, hoặc chỉ là những
tṛ tranh luận của kẻ vô công rỗi nghề.
Ghi
chú:
(1) Ngay cả từ ngữ
“Thiên Chúa’ mà người công giáo dùng để chỉ Đấng ḿnh tôn thờ th́ cũng không
chính xác. Trong tiếng Việt Nam, không có một phạm trù nào có thể dịch được chữ
Theos/ Deus, God, Dieu... Những chữ có sẵn để nói lên ư niệm về đấng tối cao là:
Ông Trời, Thượng Đế, Ngọc Hoàng th́ không chuyển tải được tất cả những ǵ mà
Giáo Hội đặt trong chữ Deus. V́ thế,.các thừa sai Pháp (MEP) đành phải nêu danh
Người là 'Chúa Diéu, rồi người Việt gọi là 'Chúa Diêu'. Sau này, Giáo Hội Việt
Nam đành trở về với cách nêu danh của các thừa sai Bổ Đào Nha vào thế kỷ XVII,
nghĩa là dùng một ‘thuộc tính’, một ‘chức năng’ của Deus thay cho danh Đấng ấy
mà truyền giảng cho người Á Châu: Đức Chúa Trời - Thiên Chúa (dạng tắt của Chúa
Thật Trời Đất - Thiên Địa Chân Chúa). Như vậy, ngay cả chữ 'Thiên Chua' mà c̣n
chưa nói lên chính xác về một thực thể th́ nói ǵ đến những phạm trù trựu tượng
như ‘thiên tính, thần tính’. Ta có thể thấy điều đó qua bức thư của cha ḍng Tên
André Palmeiro gửi bề trên của ḿnh, viết tại Macao ngày 8 tháng 5 năm 1632:
“,,,trong ba ngôn ngữ này [Việt - Hoa - Nhật], không có
một từ duy nhất nào để dịch danh của Chúa mà không sợ sai lệch; v́ vậy chúng con
dịch ‘Deus’ theo chức năng của Người, ấy là Đấng Chủ Tể duy nhất của trời đất;
như thế chúng con theo [gương] Chúa Kitô, Đấng đă nói: “Con tạ ơn Cha là Chúa
trời đất” (Phúc âm thánh Matthêu, 11), và thánh Phaolô đă từng noi theo: “V́
Người là Chúa trời đất v.v” (Công Vụ 17). Đấy là cách mà chúng con đă loan báo
Chúa thật của trời và đất, nhất là tại An-nam, và do đó chúng con dịch danh của
Chúa bằng bốn chữ Hán[Thiên Địa Chân Chúa], tương đương với danh không thể diễn
dạt bằng lời của 4 chữ [Do Thái: YHWH] »