|
Qua Kinh Tin kính, Giáo hội tuyên xưng như sau về Đức Kitô: “v́ loài người chúng tôi và để cứu độ chúng tôi, ngài đă từ trời xuống thế...” đă sống, đă chết và sống lại. Thực vậy, “ngoài Ngài ra, không ai đem lại ơn cứu độ; v́ dưới gầm trời này, không có một danh nào khác đă được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được cứu độ” (Cv 4:12). Toàn bộ Tân Ước nhắm vào duy chỉ một điều là cắt nghĩa “mục đích” ấy. Tin mừng là không ǵ khác ngoài “lời cứu độ ấy: lógos sôtêrías taútês” (Cv 13:26), hằng tác dụng trong chúng ta qua phép Thánh tẩy (x. Rm 1:16). Được gọi là Cứu độ học, khoa thần học nghiên cứu về ơn cứu độ ấy. [114] CỨU ĐỘ HỌC Thuật ngữ “Cứu độ học” là từ dịch của danh từ Soteriologia trong tiếng Latinh. Từ Hylạp (Tân Ước) Sôtêría có nghĩa là việc cứu rỗi, và lógos là lời, ư, hoặc trí, v.v. V́ vậy, từ ghép soteriologia có nghĩa là ‘lời’ bàn về, học hỏi về công cuộc cứu độ. Theo nghĩa hẹp, Kitô học t́m hiểu về Đức Kitô để biết Ngài là ai, c̣n Cứu độ học th́ nghiên cứu về Đức Kitô để biết Ngài đă làm ǵ. Đức Giêsu Kitô là Emmanuen, “Thiên Chúa-ở-với-chúng-ta,” mà cũng vừa là Jehoshua, “Giavê cứu độ,” là “Thiên Chúa-cho-chúng-ta.” Trong thần học hệ thống, có khi Cứu độ học được để tách ra khỏi Kitô học, làm thành một thiên chuyên khảo; c̣n khuynh hướng ngày nay th́ tổng hợp làm một cả hai khía cạnh của mầu nhiệm về “Đấng Cứu tinh tuyệt đối” là Đức Giêsu Kitô. [115] Những công việc Đức Giêsu đă làm mạc khải cho biết Ngài là ai (x. Ga 5:36; 10:25); v́ thế, nghiên cứu về sự nghiệp Đức Kitô là thực ra, chỉ để biết Ngài rơ hơn. Mục đích của Cứu độ học là phân tích và đào sâu ơn cứu độ theo những cách nh́n khác nhau gặp thấy trong Tân Ước. Kinh Thánh cũng như các Giáo phụ và các thần học gia sau này đă mở ra nhiều viễn cảnh nhận thức về ơn ấy. Lư do là v́ việc cứu độ là một công tŕnh rất ư phức tạp: vừa là việc do Đức Kitô (và cả Ba Ngôi) thực hiện, vừa là ơn con người mở ḷng ra để nhận lấy. Đó là lănh vực của nhiệm mầu. V́ thế, Kinh Thánh đă phải dùng nhiều đến phép ẩn dụ, đến lối diễn đạt bằng biểu tượng, khái niệm, phạm trù, v.v. rất khác nhau, mượn từ các lănh vực thương mại, luật pháp, chính trị, xă hội, y học, phụng tự, thiên nhiên vũ trụ, v.v., để chúng bổ túc lẫn nhau nhằm giúp cho hiểu đầy đủ hơn về công tŕnh của Đức Kitô. [116] Tóm lại, Tân Ước dùng đến ba mô thức để giải thích hoạt động cứu độ của Đức Kitô: 1) Đức Giêsu lịch sử là đường cứu độ; mô thức này dùng những h́nh ảnh như: Thầy dạy, mục tử, y sĩ... gặp thấy trong Phúc âm Nhất lăm. 2) Thập giá và phục sinh, với những h́nh ảnh: Đấng ḥa giải và Thượng tế, gặp thấy trong các thư của Phaolô và thư Do thái. 3) Sự việc Nhập thể với h́nh ảnh của Đấng mạc khải, gặp thấy đặc biệt là trong văn bộ Gioan. V́ thế, thần học không thể chỉ đơn thuần dựa vào một ư niệm hoặc một phạm trù không thôi để dựa theo đó mà xây dựng Cứu độ học. Trong Tân Ước, giáo lư về công cuộc cứu độ xuất hiện dưới nhiều dạng thức khác nhau: có thể là qua một công thức tuyên tín hay một lời nhắn nhủ, hoặc một bài tường thuật, v.v. Mỗi xác quyết về Đức Kitô (Đấng Cứu độ) là một khẳng định về chức năng của Ngài, hoặc là về các sự việc Ngài đă làm cho chúng ta. Giữa các lời khẳng định như thế, nên phân biệt những công thức có Thiên Chúa làm chủ thể tác động với những công thức trong đó con người làm chủ thể thụ động và đi liền với những ǵ con người đă thực hiện được để dâng lên Thiên Chúa. Nơi Đức Kitô, Thiên Chúa và con người đă nên một; do thế, hoạt động của Ngài mang tính chất “thần nhân”: ở trong Ngài, hai hướng “đi lên” và “đi xuống” bắt gặp nhau. Dù thế th́ cũng c̣n phải lưu ư là tất cả những cách nói ấy đều là những cách diễn đạt theo ẩn dụ, là những cách nói với ư nghĩa “phàm trần”; thế nên, cần phải được ư nghĩa siêu nhiên của đức tin bổ túc thêm cho. [117] Lịch sử giáo lư này (Cứu độ học) khác với lịch sử Kitô học: trong khi giáo lư về Đức Kitô chỉ được h́nh thành và xác định một cách cam go qua nhiều lần họp công đồng chung và vô số những cuộc tranh luận sôi nổi, th́, dù có nhiều quan điểm và ư kiến thần học khác nhau, giáo lư về công cuộc cứu độ của Ngài bao giờ cũng gặp được lập trường đồng nhất về đức tin. V́ thế, tài liệu phía huấn quyền để lại cũng rất ít. Tài liệu đầu tiên và quan trọng nhất là tín quy của công đồng NixêConxtăntinốp: “...v́ loài người chúng tôi...” (DS 150). Ở Tây phương, dù không phủ nhận việc cứu chuộc, th́ trường phái Pêlagiô (thế kỷ 5-6) cũng đă hiểu quá sai lạc về sự nghiệp của Đức Kitô; v́ thế, công đồng Orange đă phải minh định rằng việc công chính hóa và cứu độ loài người là kết quả công tŕnh Đức Kitô chịu chết trên thập giá (n. 530; x. DS 391). Hai công đồng Conxtăntinốp II (n. 553) và III (n. 681) đă xác định rơ hơn về tầm mức cứu độ nêu lên ở trong tín điều vừa nói. [118] Phải đợi cho đến công đồng Trentô th́ mới có được một học thuyết dồi dào về ơn cứu độ. Trong khóa 6, bàn về sự công chính hóa (n. 1547), và khóa 22 (n. 1562), bàn về hy tế Thánh thể, dựa vào những phạm trù “đền tội,” “công đức” và “lễ tế” (x. DS 1520tt; 1738tt), công đồng đă minh tŕnh về học thuyết đó. Khoản 21, bàn về việc công chính hóa, đă định tín như sau: “Nếu ai chủ trương rằng Thiên Chúa đă ban Đức Kitô cho loài người, chỉ như là Đấng Cứu độ cần phải tin tưởng, chứ chẳng phải cả như là Đấng lập luật cần phải vâng theo, th́ sẽ bị tuyệt thông” (DS 1571). Nhiều tác giả coi khoản định tín này như là lối nói theo kiểu “a fortiori” (càng có lư mạnh hơn). Thế nên – và cũng nhân cuộc bùng lên của đợt khủng khoảng Giansêniô (n. 1653) – huấn quyền đă phải can thiệp để khẳng định rơ Đức Kitô đă chết cho tất thảy mọi người (x. DS 2005). Công đồng Vaticanô I đă phác thảo cả một tài liệu về “Đức tin Công giáo” với một chương mang tựa đề: “Ân sủng của Đấng Cứu độ,” nhưng v́ bị gián đoạn (n. 1870), nên không có giờ bàn luận sâu rộng về chủ đề. V́ vậy, chưa bao giờ Giáo hội định tín về giáo lư căn bản này. Dù truyền thống Kitô giáo không bao giờ đặt vấn đề về công cuộc cứu chuộc, th́ cách gián tiếp, nhiều giả thuyết và lạc giáo kitô học đă hiểu sai và giảm nhẹ tầm trọng yếu của sự nghiệp Đức Kitô. [119] Thần học thường gióng theo khuynh hướng văn hóa thời đại mà giải thích mầu nhiệm cứu độ. Trong thiên niên kỷ thứ nhất, các Giáo phụ thường nhấn mạnh đến quan điểm hữu thể và thần nghiệm (ontological, mystical), với xu hướng “hạ giáng,” nghĩa là Đức Kitô (Thiên Chúa) nhập thể và sống lại, hiện đang cứu rỗi và thần hóa loài người. Trong thiên niên kỷ thứ hai, thần học thường nhấn mạnh đến khía cạnh pháp lư, với xu hướng “thượng thăng,” và dùng những phạm trù thục tội, đền bù thay, v.v. Tất cả đều đồng ư là Cứu độ học đă đi qua một khúc quanh quan trọng kể từ khi thánh Anxenmô Canterbury († 1109) đề xướng học thuyết về Đền tội, làm nên dạng thần học kinh viện chung của cả hai phía công giáo và tin lành. [120] Thật ra, bao giờ thần học cũng lưu ư đến cả hai xu hướng trên đây. Thần học ngày nay thường nhấn mạnh đến khía cạnh tu đức học trong công cuộc cứu độ của Đức Giêsu, như thấy được qua các dạng thần học chính trị và giải phóng. [121] Ba mẫu quan niệm trên đây tương ứng với ba h́nh ảnh về Đức Kitô: Đức Kitô chiến thắng, Đức Kitô tế phẩm và Đức Kitô điển h́nh. Nhưng cả ba đều cần phải được bổ túc và phải bổ túc cho nhau, để giữ cân bằng hợp lư giữa hai yếu tố trong hoạt động cứu độ, tức là: ơn của Thiên Chúa và tự do của con người. Cứu độ học không được quên đi rằng rốt cuộc, “ơn cứu độ” là chính Thiên Chúa tự trao hiến ḿnh cho con người trong Đức Kitô, và v́ thế, cần phải luôn luôn đi sát với Kitô học; bởi, nếu không th́ “ơn” chủ yếu ấy sẽ có thể bị lư trí phân tán để biến thành những “mối lợi” riêng biệt như: ơn thánh hóa, hiện sủng, các ân huệ của Thánh Thần, sự cư ngụ của Ba Ngôi, v.v. làm như thể là cần phải phân chia hoạt động cứu độ duy nhất của Đức Kitô ra nhiều “mầu nhiệm” chồng chất lên nhau, như: việc nhập thể, cuộc rao giảng về vương quốc, các phép lạ, cuộc tử nạn, biến cố sống lại, v.v. Nếu tiến hành theo phương pháp phân tích th́ khó có thể tránh được t́nh trạng ấy; v́ vậy, phải làm sao để quy hướng tất cả về với tâm điểm tổng hợp duy nhất là bản thân Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu độ loài người. Đồng thời, cả việc đào sâu mạc khải lẫn truyền thống thần học phải biết dành ưu tiên hàng đầu cho mầu nhiệm phục sinh, là hành động cứu độ độc đáo và tiểu biểu nhất; chính do vậy mà có lúc Cứu độ học đă được quan niệm như là nỗ lực nghiên cứu về “giá trị” của cuộc tử nạn thập giá... Thiên khảo luận sẽ ra sức phối ḥa các yếu tố này. |