Đc Giêsu, Đng Đă Đưc Sai Đn

Khởi điểm của mọi hành động cứu độ là sứ mệnh của Đấng Cứu thế (x. HĐTG 2) – và cụ thể mà nói – là chính t́nh yêu của Chúa Cha. Nếu Đức Kitô đă “xuống thế v́ loài người chúng ta,” th́ chính là v́ “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đă ban Con Một...” (Ga 3:16). [122] Nguồn suối tuyệt đối của ơn cứu độ là Thiên Chúa Ba Ngôi và ư định cứu độ phổ quát của Người (x. 1Tm 2: 4). “Sứ mệnh” khởi sự từ trong Thiên Chúa, rồi xuất hiện ra giữa lịch sử loài người, lịch sử cứu độ: v́ trong cuộc hiện hữu vĩnh hằng, Cha “sinh ra” Con hằng hữu, nên cũng chính Người đă “sai” Con ḿnh đi vào trong thời gian. Dĩ nhiên là phải hiểu các khái niệm này theo cách loại suy. Bởi được sinh ra, nên Con “thuộc về” Cha; th́ cũng vậy, bởi được sai đi, nên Đức Giêsu “vâng lời” Cha. Tựa như đặc tính của Con là “được sinh ra” do Cha, th́ cũng vậy, đặc tính của sứ mệnh hoặc của công tŕnh Đức Giêsu là “vâng phục.” Chính v́ thế Đức Giêsu đă có thể nói: “Lương thực của Thầy là thi hành ư muốn của Đấng đă sai Thầy...” (Ga 4:34; x. 8:28-9). Tổng kết sứ mệnh của  ḿnh, Đức Giêsu nói: “Thầy từ Chúa Cha mà đến thế gian. Thầy lại bỏ thế gian mà về cùng Chúa Cha” (Ga 16:28). Tóm lại, Chúa Cha là nguồn gốc và là cùng đích của công cuộc cứu độ. Đó là lư do tại sao Kinh Thánh gọi Thiên Chúa là Đấng Cứu tinh (x. Is 43:11; Hs 13:4; 1Tm 4: 10, v.v.).

“Ơn cứu độ” đă nhập thể nơi Đức Giêsu (x. Tt 2:11). Khi nh́n lại chính ḿnh, Đức Giêsu nhận ra “căn tính” của ḿnh là “Đấng được sai đi.” [123] Phúc âm Gioan lưu ư nhiều lần về điểm này (x. Ga 3:17.34; 5:37; 6:40.44, v.v.); các thánh sử khác cũng nêu bật giáo lư này (x. Mt 15:24; Mc 9:36tt; Lc 20:13); thánh Phaolô coi điểm này như là chân lư nền tảng của Tin mừng (x. Rm 8:3; Gl 4:4, v.v.). Tóm lược giáo lư chung này, thư Do thái gọi Đức Kitô là “tông đồ” hoặc Sứ giả của Thiên Chúa (x. Dt 3:1). Thêm vào đó, “được sai” c̣n có nghĩa là “được ban cho” như Gioan viết: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đă ban Con Một...” (Ga 3:16). Điều “được ban” là một ơn, một ân huệ, và trong trường hợp này là ơn cứu độ. V́ vậy, khi ẵm bồng Hài Nhi Giêsu, ông già Simêon đă kêu lên: “Chính mắt tôi đă thấy ơn cứu độ” (Lc 2:30), mà theo ư Thiên Chúa, mọi người cũng sẽ được thấy (x. Lc 3:6).

Mục đích của sứ mệnh ấy là “để cứu rỗi chúng ta...” hoặc, như Gioan viết, “để cho thế gian nhờ Ngài mà được cứu độ” (Ga 3:17). Tuy nhiên, lư do cuối cùng vẫn là t́nh yêu của Chúa Cha; bởi t́nh yêu đích thực cốt tại hành động tự trao ban chính ḿnh cho người yêu. Khi Chúa Cha tự trao ban ḿnh là trao ban Con Một ḿnh, v́ Con là “bản thân khác” của Người, là h́nh ảnh trác tuyệt và độc đáo của Người. Thế nên, nếu trong nội vi thần tính, Thiên Chúa là t́nh yêu (x. 1Ga 4:18), th́ trong cuộc nhập thể để tự trao hiến cho chúng ta, Thiên Chúa là Emmanuen, “Thiên Chúa-ở-cùng-chúng-ta” (Mt 1:23); nói cách khác, Đức Giêsu là “Thiên Chúa-tự-trao hiến-cho-chúng-ta.” Thư gửi Titô gọi Đức Giêsu là “cuộc hiển linh của ḷng từ hậu và nhân ái (philanthropia) Thiên Chúa, Đấng Cứu độ chúng ta” (Tt 3:4). Đó là nội dung tin mừng đầu tiên sứ thần loan báo cho các mục tử ở Bêlem: “Hôm nay, một Đấng Cứu độ đă sinh ra cho anh em” (Lc 2:11).

Đấng được sai đến để cứu độ trần gian, đă mặc lấy thân phận tôi tớ vâng phục ở giữa một xă hội tội lỗi, một xă hội phản loạn, không chịu vâng phục (x. Rm 5:19; Dt 2:2). Vâng phục là tự phó ḿnh trong tay Chúa Cha để cho thế gian được cứu rỗi; thế th́, không có ǵ là lạ nếu Tân Ước quan niệm công cuộc cứu chuộc như là hành vi vâng phục: theo Gioan, thái độ vâng phục là cội gốc của hành động cứu rỗi (x. Ga 4:34; 5:30; 6:38; 14:31). Phaolô đối chiếu hành động bất phục tùng của Ađam (tội lỗi) với thái độ vâng phục của Đức Kitô (Đấng công chính hóa: x. Rm 5:19; Pl 2:8-9). Thư Do thái cũng giải thích hệt như thế: Thiên Chúa không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng hài ḷng với thái độ của Đấng vâng lời thực thi ư Người (x. Dt 10:5-9). Phúc âm Nhất lăm đă gợi lại thái độ vâng lời rướm máu ấy qua tŕnh thuật về biến cố vườn Ghếtsêmani (x. Mt 26:42tt). Sứ mệnh cứu độ của Giáo hội (và của mỗi thành viên) cũng phải rập khuôn theo mẫu gương ấy, bằng không th́ dù có hoạt động thế nào đi nữa – lớn lao bao nhiêu, tiếng tăm đến mấy đi nữa – cũng chỉ là “thanh la phèng phèng, chũm chọe xoang xoảng” (1Cr 13:1).