ThẦn HỌc Ngày Nay

Suy tư thần học khởi sự từ những t́nh huống đang thấy trước mắt: thực trạng thế giới ngày làm cho nhiều người có cảm tưởng công cuộc cứu độ của Đức Kitô đă thất bại. Đă hai mươi thế kỷ qua kể từ khi “Đấng Cứu thế” hoàn tất sứ mệnh cứu độ, thế mà vẫn chưa thấy thế giới “được cứu độ” là bao nhiêu. Hơn nữa, xă hội vẫn thờ ơ không lưu ư đến sứ điệp của Ngài, hoặc cứ cố t́nh khước từ nó. Nếu nh́n lại những dân tộc “đă được Rửa tội” (các nước Tây phương nói chung), th́ chưa thấy họ sống lương thiện ǵ hơn các dân tộc không kitô khác: họ đă gây ra hai thế chiến, chế tạo vô số vũ khí nhất, đứng hàng đầu trong chính sách bóc lột các dân tộc, trắng trợn phơi bày những lối sống đồi phong bại tục tệ hại nhất, v. v.

Mặt khác, ngôn ngữ Kitô giáo dùng để tŕnh bày về ơn cứu độ lại rất nước đôi, làm như bóp méo hẳn đi chân dung chính thật của Thiên Chúa đến một độ khó có thể chấp nhận được. Thí dụ, khi nói về vấn đề “đền tội” th́ có vẻ coi Thiên Chúa như là một “thương gia”: coi tội như là món nợ vô giá, cần Đức Kitô phải trả cân xứng, tức là thí mạng ḿnh để bù lại. C̣n Chúa Cha th́ được giới thiệu qua một dạng dung mạo có vẻ tàn bạo: giết Con ḿnh một cách ác độc. Đối với tội ác, Thiên Chúa làm như bất lực, không đủ sức để sửa chữa ‘thiệt hại’ do Ađam gây ra. Tệ hơn nữa, Thiên Chúa được tŕnh họa như là Đấng Tạo hóa khôn khéo, biết cách cầm giữ loài người để bao giờ cũng phải ngoan ngoăn phụ thuộc vào ơn Trên, chẳng khác chi một bộ máy loại xoàng, luôn luôn phải cần đến đồ phụ tùng; hoặc như là “ông ba bị” đem hỏa ngục ra mà dọa cho  các tín đồ khiếp sợ không dám sai lệnh, phạm tôi. Từ đó, H́nh ảnh về con người cũng bị bóp méo theo luôn: nhấn mạnh đến bổn phận “cứu rỗi linh hồn” nhiều đến độ làm như quên mất giá trị của thân thể, của thế giới và lịch sử. Có những tín hữu lại quá ích kỷ chỉ biết lo “cứu linh hồn” của ḿnh, không cần thiết tha ǵ đến số phận của người khác, của xă hội, v.v. hoặc chỉ coi như là chuyện thứ yếu. Rồi quan niệm cũng sai đối với lịch sử: được coi như là sân khấu trên đó, mỗi cá nhân chăm chăm chú chú lo đóng cho ngon vai “cứu lấy ḿnh.” Cho việc “trốn trần tục” hoặc “bỏ thế gian” là lư tưởng phải nhắm tới, v́ lẽ gian là kẻ thù của linh hồn... Quan niệm ơn cứu độ như thế là tự tách ḿnh ra khỏi thế giới ḿnh đang sống, là quên đi rằng loài người và muôn vật hằng liên đới chặt chẽ với nhau (x. Rm 8:19-23), [134] là không biết quan tâm đến giá trị của lịch sử. Cuối cùng, thiên đàng và hỏa ngục được tŕnh ta với những h́nh bóng thần thoại, làm như là chỉ để nói chuyện với trẻ con, chẳng có được một chút sức năng thu hút nào để đối thoại với tư duy của thời đại này.

Vậy, giữa t́nh huống khó khăn ấy, tín hữu kitô cần phải biết kiên vững nêu cao niềm hy vọng của ḿnh (x. 1Pr 3:15-16).

1.– Như người mọi thời, con người thời nay cũng cần được cứu độ. Hẳn là ngày nay, có nhiều người không cảm thấy cần được cứu độ, không cần ai khác cứu độ cho. Say đắm với tự do, họ không c̣n phân biệt được giữa mục đích của tự do và tự do. Họ cũng chẳng cần hy vọng ǵ ở “bên kia” cuộc đời, chẳng cần phải nhờ đến Thượng đế ở trên trời mây. Vô thần thực tiễn đang thời cực thịnh. Tuy nhiên, hiện nay, kẻ thù số một của việc cứu độ kitô không phải là chủ nghĩa vô thần, mà là những “lối cứu độ cạnh tranh” đang được trưng bày trên “thị trường tôn giáo.” Một thị trường tấp nập: các tôn giáo cổ truyền đang trên đà phục hưng, nhất là Hồi giáo; ngoài ra c̣n có những giáo phái mới lạ (ở Châu Phi, Châu Mỹ Latinh), hoặc là những phong trào ngụy trang dưới bộ mặt tôn giáo.

V́ nơi trần thế này, tâm hồn con người không bao giờ được hoàn toàn thỏa măn, không ngừng hướng tới một viễn cảnh cao xa hơn, một cái ǵ khác... Khắp nơi đều có những người đi t́m những cảm nghiệm tôn giáo hay thiêng liêng. Ngay trong Giáo hội, cũng thấy xuất hiện nhiều phong trào cầu nguyện, chiêm niệm, chia sẻ Lời Chúa, dấn thân vào các việc tông đồ hoặc từ thiện. Trong thế giới ngày nay, hiện hàng triệu triệu người trẻ không ưa lối sống duy vật, đang đi t́m một “lẽ sống” trong các tôn giáo hay trong các tổ chức nhân đạo, thiện nguyện. Họ đă thấy ra lối giải phóng giả của các chủ nghĩa, và đang hăm hở đi t́m hạnh phúc nơi một xă hội thật sự tự do trong một thế giới mới...

2.– Cần phải làm sao để ngôn ngữ tôn giáo trở thành trong sáng, dễ hiểu. Thần học đang cố thay thế ngôn ngữ cổ truyền dùng để tŕnh bày về công cuộc cứu độ bằng một thứ ngôn ngữ mới. Quả thế, trong làng thần học đă có một vài dạng ngôn ngữ cấu lập theo chiều hướng đó: có dạng th́ nhấn mạnh đến những khía cạnh thiêng liêng –  được gọi là “cánh chung” – của ơn cứu độ; có dạng khác lại nêu bật những khía cạnh trần thế, như: kinh tế, xă hội, hoặc lịch sử, chính trị, hay là cả hai. [135] Nhưng thế nào rồi tất cả cũng đều phải ư thức rằng tất yếu, ngôn ngữ thần học là ngôn ngữ mang ẩn dụ tính, và, v́ vậy, không làm sao ứng đáp cho hoàn toàn thỏa đáng được nhu cầu hiểu biết về những thực tại siêu việt; hoặc nói cách khác: cần phải biết khiêm nhường nh́n nhận mầu nhiệm là mầu nhiệm; v́ có nhiều điều thần học cũng không thể biết.

Thần học kinh viện, đặc biệt là thánh Tôma Aquinô, đă chọn bốn khía cạnh trong thực tại của ơn cứu độ duy nhất: công trạng, đền tội, hy tế, giá chuộc. Cả bốn thành ngữ đều mang đậm tính chất văn hóa của thời ấy: sống trong một xă hội có chế độ nô lệ tất sẽ hiểu ra dễ dàng giá chuộc là ǵ; [136] thấy có những tôn giáo giết sinh vật làm lễ tế th́ sẽ nhận ra ngay ư nghĩa của “tế vật,” “máu,” “lễ toàn thiêu,” v.v. Ư niệm “công trạng” (merit) phát nguyên từ những nền văn hóa nặng về pháp lư hoặc từ những xă hội cạnh tranh, thi đua; c̣n ư niệm “đền bù thỏa đáng” (satisfac­­­­tion) th́ bắt nguồn từ những nền văn hóa coi trọng danh dự. Các thuật ngữ này đều được cấu trúc theo phép “nhân hóa”: nhân hóa Thiên Chúa, tức là quan niệm Thiên Chúa xử thế như con người.

Thần học hiện đang chọn những từ người thời nay dùng vào việc biểu đạt niềm hy vọng hoặc lư tưởng cao đẹp nhất mà họ ước mơ, để đưa vào trong ngôn ngữ tŕnh tả về ơn cứu độ. Điển h́nh là từø “giải phóng,” được dùng làm tên gọi của ơn cứu độ, [137] đặc biệt là ở Châu Mỹ Latinh. Quả vậy, ư niệm “giải phóng” có sức nêu bật những giá trị như tự do, tự quyết, phẩm giá, cá biệt tính, chủ quyền... trái với t́nh trạng tha hóa, lệ thuộc, bị bóc lột, bị áp bức, v.v., và như thế trên cả hai b́nh diện, cá nhân và xă hội. Thời đại này cũng rất chuộng từ “huynh đệ,” dùng để diễn tả t́nh tương thân, mối quan hệ ngang hàng, tinh thần cộng đoàn, v.v., ngược với lối sống cô độc, ích kỷ, đố kỵ, v.v. Để nêu lên chiều kích phổ quát, có người dùng từ ngữ “trâït tự mới” trong các nhóm, trong các xă hội, các quốc gia và cả quốc tế nữa, nhờ ảnh hưởng của ơn cứu độ. Những từ ngữ này đều muốn nói lên một thái trạng lư tưởng, ngập tràn hạnh phúc cho mỗi cá nhân cũng như cho toàn bộ xă hội loài người. Đối với chiều kích cánh chung của ơn cứu độ, là chiều kích vượt quá khả năng của ngôn ngữ loài người, thần học đành phải sử dụng những cách nói của Kinh Thánh về “Đất mới,” “vương quốc Thiên Chúa,” “lănh vực công chính,” “hoà b́nh,”... và cuối cùng là “sống trong Chúa.”

3. Ơn cứu độ đổi mới và nâng cao tất cả những ǵ là tốt đẹp trong nhân loại để làm cho trở thành tốt hơn. Truyền thống kitô giáo có câu: gratia perficit naturam, “ân sủng hoàn chỉnh bản chất tự nhiên.” Thiên Chúa đâu có thích hạ nhục con người; con người mà được hạnh phúc th́ danh Thiên Chúa càng được cả sáng. Chính Đấng Tạo hóa đă gieo vào ḷng con người một niềm khát vọng vô biên, khát vọng hạnh phúc, để được sung măn ứng đáp qua ơn cứu độ. Con người là một tạo vật “đang trên đường phát triển,” hướng tới mức trọn vẹn thành tựu. Con người hoàn chỉnh là con người được cứu độ: đó là ân huệ Thiên Chúa ban, nhưng đồng thời cũng là kết qua củả nỗ lực hợp tác từ phía con người. Và dù có được cứu độ, con người vẫn là con người, chứ không hóa thành thần linh; thế nên, vẫn phải chấp nhận giới hạn của tự do và khát vọng thọ tạo. Ơn cứu độ cứu chữa con người trong giới hạn của con người: hết mọi khả năng của con người sẽ được hoàn chỉnh, nhưng con người vẫn phải đi qua sự chết. Quả thế, Đức Kitô đă chẳng cứu con người cho khỏi phải chết, Ngài cứu con người qua chính sự chết. Cứu rỗi đi đôi với tạo dựng, v́ chỉ có một Thiên Chúa, một kế hoạch, một thế giới tạo vật, một nguyên thủy và một cánh chung. Ngôi Lời tạo hóa cũng là Đấng Cứu thế nhập thể. Ư định của Thiên Chúa đă có từ đời đời, nhưng hiện đang diễn ra, đang tiến hành ở trong lịch sử, và sẽ thành tựu trong ngày quang lâm. Như men trong bột, ơn cứu độ đang âm thầm mà hữu hiệu, biến đổi chúng ta trong Đức Kitô, và từng bước, dẫn đưa đến mức hoàn chỉnh lúc Ngài ngự đến (x. 1Ga 3:2; 2Pr 3:13; Rm 8:19-24.29).

Bàn về ơn cứu độ, tất phải sẵn sàng để đối diện với cách biểu đạt nghịch lư: ơn cứu độ vừa là ơn Chúa ban mà cũng vừa việc con người thực hiện, đă hoàn tất nhưng vẫn c̣n tiếp diễn, đang diễn ra trong lịch sử nhưng chỉ được hoàn chỉnh sau hồi lịch sử chấm dứt, đ̣i phải sẵn sàng “bỏ ḿnh” nhưng là để nắm giữ cho chắc hơn vận mệnh của chính con người ḿnh, v.v. Tóm lại, con người được cứu độ là con người đă trở thành người ở một mức độ cao hơn (x. VMHV 41). Để hiểu về ơn cứu độ – theo phương diện chủ quan – th́ nên lưu ư đến hai điểm: một là phải dựa theo phạm trù “dự phần” (participation) mà suy luận: con người chỉ dự phần vào bản tính Thiên Chúa trong một mức độ “cao” hay “thấp”: thấp nhất là thoát được hỏa ngục, cao nhất là sống trong thái trạng ngôi hiệp; kẻ hơn người kém, những ai được cứu độ đều ở giữa hai mức độ ấy; hai là cần ư thức rằng việc “dự phần” ấy xảy ra “trong Đức Kitô,” cho những chi thể của Ngài, tức là những người kết hiệp với Ngài; v́ dự phần vào bản tính Thiên Chúa là dự phần vào ơn ngôi hiệp của Đức Kitô.

Cuối cùng, ư niệm cứu độ kitô giáo là tiêu chí để nhận định mọi dạng cứu độ khác. Bất cứ dạng cứu độ nào – nếu thực sự có sức mang lại được một hiệu quả nào – th́ cũng chỉ ở b́nh diện thuần túy tự nhiên – của mỗi cá nhân hay của toàn bộ xă hội loài người – và chỉ ở đời này, không đáp ứng đủ được khát vọng sâu thẳm của con người, khát vọng vô biên, vượt quá khả năng hạn hẹp của nó; đúng thế, hy vọng của con người vượt quá sự chết, xuyên qua tận thế giới bên kia. Duy chỉ ơn cứu độ kitô giáo mới bao gồm cả chiều kích siêu việt, thần thiêng, tức là được sống thông hiệp với chính Thiên Chúa Ba Ngôi, ngay ở đời này và trong đời sống vĩnh cửu.