|
MỘt Trung Gian Và NhiỀu Trung Gian 1Tm 2:5 khẳng định rơ: chỉ có một Đấng Trung gian duy nhất là Đức Kitô. Mặt khác, Giáo hội cũng thường nói đến vai tṛ trung gian của Đức Maria, các Thánh, các Thiên thần, v.v. Công đồng Vaticanô II đă giải thích về điểm này ở trong ASMD 62, như sau: “Không bao giờ có thể đặt một thụ tạo nào ngang hàng với Ngôi Lời nhập thể và Cứu chuộc. Nhưng cũng như chức tư tế của Chúa Kitô được thông ban dưới nhiều h́nh thức khác nhau cho các thừa tác viên và giáo dân, và cũng như sự tốt lành duy nhất của Thiên Chúa được ban phát nhiều cách cho các thụ tạo, th́ sự trung gian duy nhất của Đấng Cứu thế không những không loại bỏ mà c̣n khuyến khích các thụ tạo cộng tác dưới nhiều h́nh thức khác nhau, trong sự tùy thuộc vào nguồn mạch duy nhất.” [143] H́nh ảnh “trung gian” hiện rơ ở trong Kinh Thánh: Môsê là trung gian của Giao ước, thượng tế là trung gian giữa Giavê và dân Ítraen, các tiên tri là trung gian của Lời Chúa, v.v. Trong sách Gióp, Thiên Chúa bảo: “Gióp, tôi tớ của Ta, sẽ chuyển cầu cho các ngươi. Ta sẽ đoái nh́n nó và sẽ không xử với các ngươi xứng với sự ngu xuẩn của các ngươi...” (G 42:8). Trong sách Tôbia, Raphaen nói với ông: “Khi ông và Sara cầu nguyện, chính tôi đă dâng những lời cầu nguyện đó lên trước tôn nhan vinh hiển Thiên Chúa...” (Tb 12:12). Đó chính là vai tṛ của các thiên thần theo Kh 8:3-4. Kinh Thánh c̣n cho thấy nhiều trường hợp khác của vai tṛ “trung gian,” đặc biệt là khi nói đến việc cầu nguyện cho một người khác (x. 2Cr 13:7; Cv 8:15; Gc 5:14.16, v.v.). Sau công đồng Êphêsô (n. 431), thánh Xyrillô Alêxănđria đă dùng tước hiệu “trung gian” cho Đức Maria. Thật vậy, kinh Sub tuum praesidium... đă có trong Giáo hội từ thế kỷ 3 hoặc 4, bắt đầu bên Đông phương, và từ đó được đưa sang Tây phương, tức là từ thời bấy giờ các tín hữu đă biết dâng lên Đức Mẹ những lời nguyện cầu. Sau này, các ngày lễ tôn kính Đức Maria, các đền kính Thánh Mẫu và rất nhiều nơi hành hương ở khắp nơi trong các Giáo hội Đông Tây, đă cho thấy rơ vai tṛ can thiệp, phù hộ, tức vai tṛ làm trung gian của Mẹ Đức Giêsu. “Cảm thức đức tin” của dân Thiên Chúa, đă không mảy may sai lầm trong việc làm này. [144] Những ai liên kết đặc biệt mật thiết với Đức Kitô, Trung gian duy nhất, th́ cũng được dự phần vào vai tṛ trung gian của Ngài qua việc chuyển cầu; đó là trường hợp của các Thánh. [145] Hơn thế nữa, bởi hiệp thông với Đầu là Đức Kitô, toàn thể Dân Chúa cũng được thông dự vào vai tṛ chuyển cầu của Ngài. [146] V́ vậy, mỗi khi Giáo hội chuyển cầu hoặc chúng ta “cầu nguyện cho nhau,” đều là những khi thi hành – trong Đấng Trung gian độc nhất – sứ mạng làm trung gian trước nhan Thiên Chúa. Đó là lư do tại sao các kinh nguyện phụng vụ đều kết thúc với công thức: “Nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con...” Per Dominum nostrum Jesum Christum… ————————————— ĐỨc Giêsu , ĐẤng CỨu Tinh Tước hiệu “Cứu tinh” (Sôtêr) không xuất hiện trong các văn bản cổ xưa thời đầu; và nói chung, so với các tước hiệu khác, Tân Ước ít khi dùng đến tước hiệu này: tất cả vỏn vẹn chỉ có 4 lần trong các thư mục vụ, 5 lần trong 2Pr và 2 lần trong Ga (x. Ga 4:42; 1Ga 4:14). Lư do là v́ trong văn hóa Hylạp, “cứu tinh” là tước hiệu của các thần linh, của các vị anh hùng và các vua chúa. Kitô giáo muốn tránh sự hiểu lầm và không chịu đặt Đức Kitô trong cùng một b́nh diện với thần Apôllô hay hoàng đế Caligula! Đức Kitô đâu phải là vị “cứu tinh” theo kiểu ấy. [147] Tuy nhiên, khi đă có được những hiểu biết rơ ràng và vững chắc đủ về Đức Kitô, Giáo hội mới vững tâm áp dụng tước hiệu ấy cho Đức Kitô. Có lẽ v́ đang trong thời bút chiến chống quan niệm của lương dân lúc bấy giờ, Tt 2:13 đă gọi “Đức Kitô Giêsu là Thiên Chúa vĩ đại và là Đấng Cứu độ chúng ta.” Ba thư mục vụ dùng danh tước “ Đấng cứu tinh” khi nói về Thiên Chúa (x. 1Tim 1:1; 2:3; 4:10; Tt 1:3; 2:10) cũng như về Đức Kitô (x. 2Tm 1:10; Tt 1:4; 2:13; 3:6; x. 2Pr 1:11; 2:20; 3:2.18). Thời Cựu Ước, không có nguy hiểm ngộ nhận nói trên; v́ thế “cứu tinh” là tước hiệu của Giavê (x. 1Sm 10:19; Is 45:1,v.v.), và đôi khi, cũng của cả các đại diện Người chọn, như các Quan án (x. Lt 3:9.15). Nhưng tước hiệu này không bao giờ được quy áp cho Đấng Thiên sai. [148] Luca giới thiệu hài nhi Giêsu trong cương vị “Đấng Cứu độ” và giải thích qua hai tước hiệu khác là “Đấng Kitô và Đức Chúa” (Lc 2:11). Theo thần học của sách Công vụ, “cứu độ” là tước hiệu của Đấng Phục sinh (x. Cv 5:31), như Kinh Thánh đă tiên báo: “Từ ḍng dơi Đavít, theo lời hứa, Thiên Chúa đă đưa đến cho Ítraen một Đấng Cứu độ là Đức Giêsu” (Cv 13:23). Đức Kitô đă được nâng lên, nhưng Giáo hội c̣n trông chờ Ngài trở lại với tư cách là Đấng Cứu độ trong ngày quang lâm (x. Pl 3:20). V́ là Đầu của Hội thánh và là Đấng Cứu độ của hết thảy các chi thể, nên Đức Kitô là Vị Cứu tinh của toàn bộ thân thể (x. Ep 5:23). Theo thần học chung của Tân Ước, Ngài đă chịu khổ h́nh v́ chúng ta, và như thế, đă “trở nên nguồn ơn cứu độ cho tất cả những ai tùng phục Ngài” (Dt 5:9). Sau thời các tông đồ, bởi văn hóa Hy lạp vẫn c̣n mơ hồ về tước hiệu “cứu tinh,” nên các Giáo phụ ít khi gọi Đức Kitô là “Đấng Cứu độ.” Inhaxiô Antiôkia chỉ dùng đến tước hiệu này có 4 lần; chẳng hạn như khi tố giác các “thầy giáo giả” v́ họ “không tuyên xưng Thánh thể là thịt, máu của Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu độ chúng ta” (Smirna 7. 1). Dù sao, tước hiệu Sôtêr, “Cứu độ” đă không được phổ biến rộng răi cho bằng các tước hiệu “Chúa” hoặc “Lời” v.v., lư do là v́ c̣n mang ư nghĩa nước đôi, tựa như từ ngữ “Giải phóng” hiện nay. Tuy nhiên, Giáo hội hằng tin vững rằng Ngài là Đấng Cứu độ. Các Giáo phụ nêu rơ giáo lư này khi bàn về “ơn cứu độ,” coi đó là ân huệ của Đức Kitô, cũng như khi lưu ư về nghĩa của Tên gọi “Giêsu” là “Giavê giải cứu”: “bởi Ngài sẽ cứu dân Ngài khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1:21). Gioan mở rộng chân trời: Ngài không những xóa tội của Ítraen mà c̣n của cả trần gian nữa (x. Ga 1:29); Ngài quả là “Đấng Cứu độ trần gian” (Ga 4:42). V́ niềm tin này, thánh Luca đă dứt khoát khẳng quyết rằng ngoài thánh Danh Ngài ra, chẳng có ơn cứu độ ở một ai, một nơi nào khác (x. Cv 4:12). Là sự sống (x. Ga 14:6), là ánh sáng (x. Ga 1:9; 8:12, v.v.), và là sự sống lại (x. Ga 11:25), Đức Kitô là ơn cứu độ, là nguồn cứu độ cho muôn dân. Cùng với Chúa Cha, Ngài “nhiệm xuy” Thần Khí, [149] là Đấng thánh hóa, là tác động cứu độ nơi các tâm hồn; nếu Đức Kitô không phải là “nguồn xuất phát” của Thần Khí, th́ cũng chẳng phải là Đấng Cứu độ. Đă hẳn là nguồn cội tuyệt đối của mọi ơn cứu độ là Chúa Cha, v́ thế 1Tm 4:10 gọi Người là “Đấng Cứu độ mọi người,” nhưng Người cứu độ qua Đức Kitô và trong Thần Khí. Tuy nhiên, trong kế hoạch cứu độ, Đức Kitô là “anpha và ômêga,” là nguyên thủy và chung cục, v́ thế, không thể ‘qua mặt’ Đức Kitô để trực tiếp đi đến với Chúa Cha (x. Ga 14:6) hoặc nhận lănh Thần Khí: không qua Đức Kitô th́ không thể đến được với ơn cứu độ. |