|
CÔNG TR̀NH CỦA ĐẤNG TRUNG GIAN Như đă thấy, đời sống và công cuộc rao giảng của Đức Kitô được tŕnh thuật trong nhiều cách, với nhiều từ ngữ, ẩn dụ khác nhau. Muốn hiểu về công tŕnh này, th́ cần phải xếp các ẩn dụ theo hệ thống và nghiên cứu ư nghĩa của từng từ ngữ. Mọi sự đều phát sinh từ ḷng nhân hậu của Chúa Cha; v́ thế, suy tư thần học nên bắt đầu tiến hành từ trên xuống, rồi sau đó mới dồn chú tâm vào Đức Giêsu để, làm như đi từ dưới lên, mà t́m hiểu về cách thức đại diện loài người đáp ứng ḷng thương của Thiên Chúa. [150] 1. Đức Kitô, Đấng Trung Gian Mạc Khải So sánh Môsê, trung gian của Cựu Ước, với Đức Kitô, trung gian của Tân Ước, Gioan viết rằng Thiên Chúa đă ban Lề Luật qua Môsê, c̣n ân sủng và sự thật th́ ban qua Đức Giêsu Kitô (x. Ga 1:17). Ơn cứu độ và sự thật mật thiết liên quan với nhau (x. 1Tm 2:4). Ngài vốn là Lời, là ánh sáng, xuống thế gian để mạc khải Thiên Chúa cho chúng ta (x. Ga 1:18); mà biết Thiên Chúa (và biết Đức Giêsu Kitô) chính là sự sống đời đời (x. Ga 17:3). Sở dĩ Đức Kitô đă đến là để “soi sáng những ai ngồi nơi tăm tối và trong bóng tối tử thần” (Lc 1:79). [151] Cần phải biết như thế nào về Thiên Chúa để được cứu độ? Nếu biết như thầy giáo biết về môn học ḿnh dạy, th́ không đủ; nếu biết như người đi du lịch biết các nơi, các miền ḿnh đă tới, hoặc biết các người trong h́nh chụp, th́ cũng vẫn chưa đủ; nếu biết như sĩ quan biết lính, như chủ nhân và cộng nhân biết nhau, như thầy tṛ biết nhau, cũng vẫn chưa đủ. Hành động “biết” có sức cứu độ th́ tựa như vợ chồng biết nhau, cha mẹ con cái biết nhau; đó là cách Đức Giêsu mạc khải về Chúa Cha (x. Mt 11: 27). Đức Giêsu làm cho chúng ta biết Cha để dẫn chúng ta tới với Người như con cái. Đức Kitô mạc khải Thiên Chúa không chỉ qua lời nói và việc làm, mà nhất là qua chính bản thân Ngài: Ngài là Lời, là h́nh ảnh của Thiên Chúa, nên thấy Ngài là thấy Cha, gặp Ngài là gặp Thiên Chúa, là gặp chính ơn cứu độ. V́ thế đường cứu độ là đường của môn đồ: không những học bài Thầy dạy, mà nhất là rập khuôn lối sống của Ngài, đúng như những ǵ Phaolô (x. Pl 2:5) và Phêrô (x. 1Pr 2:21) khuyên nhủ. Ư của Chúa Cha là môn đồ chuyên chú vâng nghe lời Thầy (x. Lc 9:35), và tất cả những ai giữ lời ấy đều sẽ được thánh hiến trong sự thật (x. Ga 17:14-18), sẽ biết Chúa Cha như con biết cha, và sẽ được yêu thương như Cha yêu Con (x. Ga 17:26): đó là được cứu độ đến một mức tuyệt diệu. Kế hoạch cứu độ được tŕnh bày như là cuộc giao chiến giữa ánh sáng và bóng tối. Lời tựa của Ga đă nói rơ: Ngôi Lời là ánh sáng chiếu soi mọi người; nhưng tối tăm không chịu đón nhận ánh sáng, tức “người ta đă chuộng bóng tối hơn ánh sáng” (Ga 3:19): đó là biểu tượng của tội lỗi trần gian; c̣n theo gót Đức Giêsu là bước đi trong ánh sáng (x. Ga 8:12); chính nhờ ánh sáng ấy mà con người được ơn trở nên con Thiên Chúa (x. Ga 1:12). Nếu Đức Kitô là ánh sáng, th́ kẻ thù là “quyền lực tối tăm” (x. Lc 22:53). V́ thế, Phaolô miêu tả việc cứu độ như sau: “Anh em, hăy vui mừng... v́ Chúa Cha đă giải thoát chúng ta khỏi quyền lực tối tăm, và đưa vào vương quốc Thánh Tử chí ái... trong cơi đầy ánh sáng” (x. Cl 1:12-3; 1Pr 2:9). Cuộc đời cứu độ ở dưới đất này chính là “ăn ở như con cái ánh sáng” (Ep 5:8-9), sống như Chúa đă sống, trong một cộng đoàn khuynh đệ tương ái (x. 1Ga 1:7). Ơn cứu độ là được biết Chúa như Chúa biết ta (x. 1Cr 13:12). Việc nhận biết này khởi sự với đức tin. Thánh Phaolô ghi ra một số danh sách những nhân đức tiêu biểu của lối sống kitô giáo; nhân đức đầu tiên là đức tin, và cuối cùng là bác ái (x. 1Cr 13: 13; 2Cr 8:7) hoặc sự hiểu biết (x. Rm 15:13-4). Sự hiểu biết này không phải là trí thức, nhưng là kinh nghiệm cùng sống trong t́nh yêu: “mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Kitô Giêsu, Chúa của tôi” (Pl 3:8); đó là lư tưởng của vị tông đồ. “Có đức tin là nhờ nghe giảng, mà nghe giảng là nghe công bố lời Đức Kitô” (Rm 10:17), v́ thế Phaolô coi việc giảng Tin mừng là như ánh sáng bừng lên (x. 2Cr 4:4-6). Cuối cùng, trong bí tích Thánh tẩy, đức tin được cụ thể hiện thực hóa: thư Do thái gọi là “được chiếu sáng” (Dt 6:4; 10:32). Truyền thống của Giáo hội đă từng nêu bật cho thấy sự hiểu biết kia là một yếu tố cấu thành của ơn cứu độ. Trung gian của sự hiểu biết này là Đức Kitô. Khoảng năm 98, Clêmentê Rômanô đă viết: “Qua Ngài chúng ta nh́n lên trời cao; qua Ngài chúng ta ngắm nh́n như trong một tấm gương sáng, tôn nhan tinh tuyền vô song của Thiên Chúa; qua Ngài con mắt của tâm địa chúng ta mở ra; qua Ngài trí tuệ ngu dại và mờ đục của chúng ta bừng sáng lên; qua Ngài Thiên Chúa muốn chúng ta nếm thử sự hiểu biết bất diệt...” [152] Hồi thế kỷ thứ hai, Giuxtinô tử đạo so sánh việc ḿnh trở lại theo Đức Kitô như là việc đón nhận ánh sáng, và coi Kitô giáo như một “nền triết lư” hoặc một lối sống khôn ngoan (philosophia) độc đáo; ngài gọi phép Rửa là phôtismós tức thiên khải sáng soi, một tên gọi đă được các Giáo phụ xử dụng: “Chúng tôi gọi Phép Rửa là sự soi sáng, v́ những ai đón nhận giáo lư này th́ được (Thần Khí) chiếu soi tâm hồn.” [153] C̣n Irênêô, tác giả cuốn sách Chống các lạc giáo, coi các lạc giáo là những tri thức giả, c̣n Kitô giáo là “tri thức thật.” Ngài xác tín ơn cứu độ phát sinh từ Đức Kitô, Đấng mạc khải: “Cuộc thương khó của Chúa làm cho chúng ta hiểu biết Chúa Cha, và v́ thế là nguồn ơn cứu độ.” [154] Yếu tố tri thức của ơn cứu độ được nêu bật nhiều nhất trong trường phái Alêxănđria, từ Clêmentê, Ôrigênê cho đến Xyrillô; bên phía Tây phương, yếu tố này cũng hiện diện, nhưng không nổi bật bằng. Xưa nay, các tôn giáo vẫn không quên lưu ư đến yếu tố này. Ngộ đạo và Phật giáo nêu bật giá trị tối cao của việc giác ngộ. Thần học cũng đă từng có khuynh hướng nhấn mạnh quá đáng đến giá trị và sức mạnh cứu độ của mạc khải, như thấy qua lập trường của Abêlácđô hồi thời Trung cổ, hoặc qua chủ trương của phái Tin lành Tự do gần đây: Thầy Giêsu đă chỉ đường đi, bây giờ cứ theo đó mà đi là đủ. Không; không những chỉ đường mà thôi, Đức Giêsu c̣n làm nhiều điều khác nữa. Dĩ nhiên, sự hiểu biết là chiều kích cơ bản của ơn cứu độ kitô; do đó, bao giờ Giáo hội cũng nêu cao giá trị và tầm trọng yếu của sự thật, của việc ngẫm đọc, học hỏi và rao giảng Lời Chúa, của giáo lư, v.v. V́ vô tri th́ bất mộ, và con người chỉ yêu theo mức hiểu biết của ḿnh: hiểu biết Thiên Chúa thế nào qua kinh nghiệm, th́ yêu mến Người thể ấy trong cuộc sống; mà đă yêu th́ càng muốn hiểu biết thêm. Lịch sử cứu độ là lịch sử mạc khải, là quá tŕnh Thiên Chúa tự trút bỏ, tự bóc lộ, tức tự trao ban chính ḿnh cho loài người. |