|
Cứu Chuộc Phạm trù cứu chuộc – redemptio trong tiếng Latinh – đóng giữ vai tṛ trọng yếu bậc nhất trong Kinh Thánh cũng như trong thần học. Biến cố cơ bản là cuộc tử nạn thập giá; nhưng toàn bộ cuộc đời Đức Giêsu đă diễn tiến theo kế hoạch “cứu chuộc,” và Ngài xuất hiện trong dung mạo của Đấng Toàn thắng. Trong truyền thống, từ “cứu chuộc” đồng nghĩa với “cứu độ,” dù theo nghĩa hẹp, th́ từ này đơn thuần mang ư nghĩa chỉ về một cách (ẩn dụ) tiến hành của công cuộc cứu độ. [155] Ngôn Ngữ Danh từ cứu chuộc có nghĩa là mua lại và trả cái giá phải trả để nhận lại. “Giá chuộc” dịch từ lưtron trong tiếng Hylạp, và đă được Đức Giêsu dùng đến trong Phúc âm (x. Mc 10:45tt). [156] Trong ngôn ngữ thông thường thời trước, đó là giá mua một nô lệ, giá phải trả để người nô lệ được tự do; trong ngôn ngữ tôn giáo, đó là giá tín hữu trả để được giải thóat khỏi sự dữ, nhất là khỏi tội ác. Một từ khác, từ trừu tượng lưtrosis (giải thoát), cũng đă được dùng ở trong Lc 1:68; 2:38 và Dt 9:12, với ư nghĩa chung là “giải phóng” những ai thiếu tự do. Nhưng được dùng nhiều hơn cả là từ ghép apolưtrosis (giải thoát, mua chuộc, trả tự do, v.v.), có nghĩa là cứu chuộc (x. Lc 21:28; Rm 3:34; Dt 9:17, v.v.). Cũng c̣n những từ tương tự khác được dùng, như từ agorázein (mua ở chợ): “Thiên Chúa đă trả giá đắt mà chuộc lấy anh em” (1Cr 6:20), hoặc: “Đức Kitô đă chuộc chúng ta cho khỏi bị nguyền rủa v́ Lề Luật...” (Gl 3:13; x. 4:5). Giá phải trả là máu (x. Kh 5:9-10), như thấy trong cách Phaolô dùng động từ peripoieo (mua) để nói về: “Hội thánh Thiên Chúa đă mua bằng máu của chính ḿnh” (Cv 20:28); v́ thế, Phêrô gọi cộng đoàn kitô là “dân Thiên Chúa đă mua cho ḿnh...” (1Pr 2:9). Ư Nghĩa Xuất xứ chủ yếu của ư nghĩa các từ nói trên đây là Cựu Ước. Ítraen luôn luôn coi Giavê là Đấng Cứu chuộc dân Người (G 19:25; Tv 78:35, v.v.), đặc biệt là v́ Người đă giải thoát họ khỏi cảnh nô lệ Ai cập (x. Đnl 13:6). Sở dĩ Ítraen đă trở thành “Dân Thiên Chúa” th́ chính là v́ Giavê đă “mua” họ cho ḿnh (x. Tv 78:42; Is 43:1; 44:22), và đă dẫn họ vào lănh thổ của Người là thánh địa, một lănh thổ không phải là phàm tục. [157] Thật vậy, Thiên Chúa đă tạo cho ḿnh một dân tộc mới: “Nhưng bây giờ, đây là lời Giavê phán, lời của Đấng tạo thành ngươi, hỡi Giacóp, lời của Đấng nắn ra ngươi, hỡi Ítraren: Đừng sợ, v́ Ta đă chuộc ngươi về, đă gọi ngươi bằng chính tên ngươi: ngươi là của riêng Ta” (Is 43:1). [158] Thiên Chúa trở nên go’el của Ítraen, tức như người huyết tộc có bổn phận chuộc lấy gia tài hoặc gia nhân đă bị mất (x. Is 41:14; 43:1.14; 44:6. v.v.), v́ thế mà khi Thiên Chúa “mua” họ, Người không ở trong tư thế là chủ, mà là Cha của dân ḿnh. Những ư nghĩa trên đây đều đă được ứng nghiệm trọn vẹn trong Đức Kitô: “V́ chúng ta, Ngài đă tự hiến để cứu chuộc chúng ta cho thoát khỏi mọi điều bất chính, và để thanh luyện chúng ta, khiến chúng ta thành Dân riêng của Ngài, một dân hăng say làm việc thiện” (Tt 3:14). Tân Ước lấy biến cố Xuất hành làm tiên trưng cho công tŕnh cứu chuộc của Đức Kitô. Những ǵ Chúa Giavê đă làm cho Ítraen, th́ Đức Kitô cũng đă thực hiện cho Giáo hội (x. 1Cr 5:7; 1Pr 1:9; Kh 5:6). Ngài đă thực hiện bằng cách nào? Dù suốt cả cuộc đời, Đức Giêsu “cứu chuộc” chúng ta, nhưng Tân Ước dồn cả chú ư vào trọng điểm là thập giá. Trên thập giá “Ngài đă xóa sổ nợ bất lợi cho chúng ta... đă truất phế các quyền lực thần thiêng, đă công khai bêu xấu chúng...” (Cl 2:14-15). Nhưng cuộc toàn thắng ấy đă phải trả một giá cao, là chết trên thập giá: Đức Giêsu đă “hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20:28tt; x. 1Tm 2:5-6). Hoặc nói theo cách ẩn dụ “mua,” th́ Ngài đă phải trả bằng giá máu Ngài. Dùng hậu cảnh phụng vụ, thư Do thái đă viết: “Ngài đă vào cung thánh không phải với máu các con dê, con ḅ, nhưng với chính máu của ḿnh, Ngài vào chỉ một lần thôi, và đă lănh được ơn cứu chuộc (lưtrôsis) vĩnh viễn cho chúng ta” (Dt 9:12). Và rơ hơn nữa, 1Pr ghi: “Không phải nhờ những của chóng hư nát như vàng hay bạc mà anh em đă được cứu chuộc... nhưng là... nhờ bửu huyết của Con Chiên vẹn toàn, vô t́ tích, là Đức Kitô” (1Pr 1:18-9). Những cách nói này muốn nêu bật tính cách trang trọng của việc cứu độ. V́ là hành động của t́nh yêu và t́nh yêu tuyệt đối th́ có thể đ̣i hỏi tất cả, cả đến sự sống (x. Ga 15:13), nên Đức Kitô đă ư thức rơ về sự việc ḿnh sẽ phải chịu khổ nhiều (x. Mc 8:31; Lc 24:26): đó là nỗ lực của ngôn ngữ loài người trong việc tŕnh bày mầu nhiệm khôn tả, làm sao để khỏi rơi vào thế giới thần thoại. Nguy hiểm là khi thần học quên đi đó chỉ là ẩn dụ để đem dùng như là ư niệm chính xác, vào trong tiến tŕnh suy luận về việc cứu độ. Thí dụ điển h́nh là câu hỏi: Đức Giêsu đă trả giá chuộc vào tay ai? Trả lời không khéo là rơi vào thế giới thần thoại. Ôrigênê đă trả lời: cho Satan là chủ của chúng ta... [159] Một số Giáo phụ đă theo Ôrigênê, nhưng hiểu câu trả lời ấy theo những cách khác nhau. Thế kỷ bốn, Grêgôriô Nissa nhận là quỷ có quyền sở hữu trên các kẻ chết, và đ̣i một giá cao nhất là Đức Kitô để trả tự do cho chúng; nhưng Chúa “khôn” hơn: trong nhân tính có tiềm ẩn thiên tính, thế nên lúc quỷ dữ “nuốt” Đức Giêsu, như cá nuốt mồi, th́ nó bị bắt giữ và chúng ta được giải phóng. [160] Sau đó Gioan Kim Khẩu, Âugutinô, v.v. nghĩ Satan đă lạm quyền khi giết Đức Giêsu, v́ Ngài vô tội; v́ thế đă mất hết quyền trên chúng ta. [161] Tuy nhiên, cũng có nhiều Giáo phụ như Grêgôriô Nazianzô [162] chẳng hạn, phủ nhận điều đó, tin là quỷ chẳng có quyền ǵ hết. Từ thế kỷ 11 về sau, có người nghĩ giá chuộc được trả cho Chúa Cha. Thánh Tôma chấp nhận giả thuyết này, [163] được phụng vụ nhắc lại trong bài hát Exultet: “Đức Kitô đă thay chúng ta trả nợ Ađam cho Chúa Cha vĩnh cửu.” Thật ra, ẩn dụ “giá chuộc” chẳng mang ư nghĩa “buôn bán” ǵ hết, cũng chẳng ám chỉ đến việc trả giá vào tay ai cả, nhưng chỉ muốn nhấn mạnh đến các điểm này: 1) kết quả là bây giờ chúng ta được tự do và “thuộc về” Chúa như con cái của Người; 2) t́nh yêu của Chúa Cha và Đức Kitô, sẵn sàng trả bất cứ giá nào để cứu chúng ta, như bài Exultet hát lên trong phụng vụ Canh thức Vượt qua: “Để chuộc dân lầm than nô lệ, Cha đă trao Con Một quư yêu.” Thần Học “Cứu chuộc” đă từng là phạm trù cơ bản trong Cứu độ học, nhưng đà biến hóa của tư tưởng đă làm cho từ ấy một đàng, trở thành đồng nghĩa với “cứu độ,” và đàng khác, được hiểu như là “đền tội.” Thánh Tôma Aquinô đă phân biệt bốn thể cách trong phương thức cứu độ của Đức Kitô: công đức, thục tội, hy tế và cứu chuộc. [164] Ngài nêu ra ba thể cách đầu kể “từ dưới lên”; ngoài ra, c̣n giải thích rằng tội nhân không chỉ là nô lệ của quỷ dữ mà c̣n cả của tội nữa; v́ thế, Đức Kitô đă phải trả giá chuộc loài người cho hai chủ: “Đức Kitô đă đền bù không phải bằng tiền hoặc một bảo vật nào khác, song là bằng một điều quư giá nhất là chính ḿnh Ngài trao hiến v́ chúng ta. Do đó cuộc tử nạn của Ngài được gọi là giá chuộc chúng ta.” [165] Từ đấy phát xuất một phạm trù căn bản khác là “thục tội” (satisfactio). Thần học kinh viện đă khai triển rộng các khía cạnh của phạm trù này. Từ giữa thế kỷ 20, thần học đă lại trở về với những phạm trù dùng trong Kinh Thánh, hăm hở đến độ đôi lúc đă bỏ quên đi những quan điểm chính xác của thần học kinh viện. Nói rằng Đức Kitô đă thắng cuộc nhưng đă phải chịu khổ nhục cho đến chết, là điều rất hợp thời đối với thần học ngày nay. Thập giá và phục sinh là hai mặt của cùng một biến cố; Đấng Phục sinh sẽ măi măi là “Đấng bị đóng đinh” (Mt 28:5). Điều này có nghĩa là, trước hết, không được quên đi giá chuộc lớn lao Ngài đă phải trả để cứu thoát loài người; và thứ đến, “thập giá” vẫn c̣n là trở ngại cho trí khôn trong việc đón nhận đức tin, bởi vẫn tiếp tục làm đối tượng của không biết bao nhiêu vấn nạn: tại sao lại đau khổ, tại sao lại bất công, tại sao kẻ gian ác lại thành công, tại sao Thiên Chúa vẫn lặng thinh không can thiệp... Nh́n lên thập giá, tất sẽ thấy tội ác trong ḷng con người đă làm ǵ, và đang làm ǵ cho anh chị em của Ngài: [166] công tŕnh cứu chuộc vẫn c̣n tiếp tục ở giữa ḍng lịch sử. Đức Kitô toàn vẹn (Đầu và Thân thể, tức Giáo hội) vẫn c̣n chịu khổ để chuộc lại anh chị em của ḿnh. Tuy nhiên, không nên quên rằng trong nỗi khổ đau bao la ấy, lộ rơ t́nh yêu của Chúa đối với chúng ta (x. Rm 8:32). T́nh yêu ấy đă biến đổi hẳn ư nghĩa của thập giá: từ một khí cụ giết chết, thập giá đă trở thành công cụ cứu độ, nguồn sự sống; trên thập giá t́nh yêu tự do đă thắng ác ư tự do. Bây giờ, tín hữu không c̣n lư do để thất vọng, bởi xác tín rằng trong mọi hoàn cảnh, nếu đă có Thiên Chúa bênh đỡ, th́ ai có thể chống lại...? (x. Rm 8:31). |