|
Đức Kitô, Đấng Giải Phóng
“Giải phóng” và “cứu chuộc” có nghĩa giống nhau; cả hai đều ám chỉ đến một quá khứ nô lệ; nhưng “cứu chuộc” hàm ư về giá khá cao phải trả, c̣n “giải phóng” th́ gợi lên viễn cảnh của một tương lai hạnh phúc an toàn hơn, rồi đồng thời cũng để lộ rơ hơn tính chất thiên sai. Bởi đă gây được âm hưởng sâu rộng về mặt xă hội và chính trị, từ “giải phóng” hiện đang được coi là rất hợp thời. [167] “Giải phóng” giả thiết một t́nh trạng tùy thuộc, thiếu tự do trong nhiều lănh vực khác nhau. Tân Ước chỉ nói đến lănh vực thiêng liêng, dù không phủ nhận hậu quả hay ảnh hưởng đối với cuộc sống thường nhật. Những kẻ thù, những chủ nô Đức Kitô phải đánh bại là tội lỗi, là ác quỷ, là sự chết, không ngừng giả dạng ẩn ḿnh dưới nhiều h́nh nhiều dạng thể khác nhau. [168] Cuộc đời Đức Giêsu là cả một chiến dịch đánh chống kẻ thù. Ngài đánh thắng ác quỷ ngoài hoang địa, diệt trừ quỷ dữ ở khắp nơi. Ngài là “người mạnh hơn... đă thắng được... tước lấy vũ khí và mọi sự của nó...” (Lc 11:22). Thế gian “nằm dưới ách thống trị của Ác thần” (1Ga 5:19), nhưng Đức Giêsu khẳng định rơ Ngài đă thắng thế gian (x. Ga 16:32; x. 12:31; 16:11): Ngài là Đấng Thắng trận. Chiến trận quyết liệt là thập giá; ở đó Ngài đă chiến thắng mọi quyền lực thần thiêng (x. Cl 2:14-5) và bây giờ “hằng cho chúng ta tham dự vào cuộc khải hoàn” của Ngài (x. 2Cr 2:14). Khi Đức Giêsu chữa lành bệnh tật, cho người cùi được sạch, cho kẻ chết sống lại, là Ngài chiến đấu chống thần chết, thần chết mà sau này sẽ thảm bại, sẽ bị tận diệt trong cuộc phục sinh. Sách Khải huyền giới thiệu Đức Kitô đang nắm giữ ch́a khóa của Tử thần và Âm phủ (x. Kh 1:18; 20:13-4). Cuộc toàn thắng cuối cùng đă bắt đầu, và sẽ chung tất hồi quang lâm, “khi Ngài đă tiêu diệt mọi quản thần, mọi quyền thần và mọi dũng thần... Thù địch cuối cùng sẽ bị tiêu diệt là sự chết” (1Cr 15:24-26). Nhưng ngay từ bây giờ, tín hữu đă có thể nói như Phaolô: “Sống là Đức Kitô và chết là một mối lợi” (Pl 1:21). [169] Tội là chủ nô gian trá nhất, khó nhận ra nhất, đến nỗi chẳng những người ta không sợ, không ghét mà c̣n ưa thích, cảm thấy thoải mái với nó. Thế mà tội lại là kẻ thù số một của ơn cứu độ. Không tội nhân nào sẽ được vào thiên đàng (x. Kh 21:8.27; 22: 15). Đức Kitô vô tội (x. Ga 8:46), đến trần gian để xóa bỏ tội lỗi (x. Ga 1:29). V́ thế, Ngài đă tha tội (x. Mc 2:5tt) và quả quyết là tội nào cũng đều có thể được tha (x. Mc 3:28). Rồi, Ngài c̣n chia sẻ quyền tha tội cho các tông đồ (x. Ga 20:23). Từ nay, bất cứ ai theo Ngài, đều sẽ “được giải thoát khỏi ách tội lỗi,” khỏi ṿng nô lệ của nó (x. Rm 8:12-23). Và dù kinh nghiệm vẫn cho thấy rơ ảnh hưởng kinh hồn và khốc liệt của tội, th́ luôn luôn cũng sẵn có ơn toàn thắng của Đức Kitô để phản công hữu hiệu (x. Rm 7:24-25). V́ vậy, Đức Kitô xuất hiện như Đấng Toàn thắng (x. Kh 5: 5; 6:2; 19:11tt), và chia sẻ vinh quang ấy cho chúng ta (x. 1Ga 2:13-4) nhờ ḷng tin (x. Ga 5:4). Điều đó, thánh Irênêô đă hiểu rơ: “Như chúng tôi đă nói, Ngài đă gắn liền con người với Thiên Chúa. Bởi v́ nếu một con người đă không thắng kẻ thù của con người, th́ theo lẽ công bằng, kẻ thù sẽ không chịu thua... V́ vậy, Đấng sẽ tiêu diệt tội lỗi và chuộc lại con người đáng chết, phải trở nên như con người bị tội lỗi biến thành nô lệ và bị giam giữ dưới quyền tử thần, ngơ hầu một con người giết chết tội lỗi để con người được giải thoát khỏi sự chết.” [170] Phụng vụ canh thức Vượt qua hát qua bài Exultet rằng: “Chính đêm nay, Đức Kitô toàn thắng hiển vinh, diệt tử thần, từ âm phủ chỗi dậy,” và Ca tiếp liên ngày Lễ Phục sinh cho biết: “Sống và chết hai bên song đấu cách diệu kỳ, tướng lănh sự sống đă chết đi, nhưng vẫn sống mà cai trị.” Công tŕnh cứu chuộc là một cuộc chiến đấu và chiến thắng. Đức Giêsu là con người tự do [171] và v́ thế, Ngài có thể chia sẻ tự do cho người khác. Ngài có cung cách xử thế hoàn toàn đôïc lập đối với bất cứ hạng quyền thế nào ở trong xă hội (x. Mc 12: 14), giữ lập trường hoàn toàn tự do để làm theo ư Cha Ngài cho đến chết (x. Ga 9: 18). Tự do như người Con (x. Mt 17:26), Đức Giêsu có thể giải phóng người khác, thực sự và trọn vẹn (x. Ga 8:36). Sứ điệp của Ngài là Tin mừng về sụ việc kẻ bị giam cầm sẽ được tha, người bị áp bức sẽ được trả lại tự do... (x. Lc 4:18). Hoạt động của Ngài là giải phóng: bệnh nhân khỏi xiềng xích tật nguyền và xă hội; kẻ bị quỷ ám khỏi ách ác thần; “người tội lỗi” khỏi cảnh bị loại ra khỏi cộng đoàn; kẻ chết khỏi t́nh trạng hư nát trong mồ; các môn đồ khỏi những thành kiến cổ truyền, v.v. Nhưng để được tự do như thế, th́ cần phải sống trọn giáo huấn của Ngài và sống kết liên bền chặt với Ngài: “Nếu các bạn ở lại trong lời của tôi, th́ các bạn thật là môn đồ tôi; các bạn và sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ giải phóng các bạn” (Ga 8:31-32). Người tự do – v́ là công dân Rôma – Phaolô đă xử thế theo cung cách tự do đối với mọi người (x. 1Cr 9:1.19,v.v.), và giảng Tin mừng tự do, là ơn cao quư của Đức Kitô: “Chính để chúng ta được tự do mà Đức Kitô đă giải thoát chúng ta... Có điều là đừng lợi dụng tự do để sống theo tính xác thịt, nhưng hăy lấy đức mến mà phục vụ lẫn nhau” (Gl 5:1.13). Khác với tự do dân sự, tự do này là tự do siêu nghiệm (x. 1Cr 7:22; 12:13; Gl 3:28; Cl 3:11), đâm rễ sâu vào trong lănh vực tâm lư và siêu nhiên. Vốn là tạo vật, con người không có khả năng tự do tuyệt đối (đó là đặc tính của Thiên Chúa); v́ thế, chỉ hưởng được tự do tương đối, ở dưới quyền bảo trợ của một “chủ.” Vấn đề chủ yếu của tự do loài người là vấn đề chọn “chủ”: hoặc là tội lỗi (tham vọng, tiền của, khoái lạc, chủ nghĩa... x. Mt 6:24) hay là Thiên Chúa, như Phaolô lưu ư: “Anh em đă được giải thoát khỏi ách tội lỗi mà trở thành nô lệ sự công chính. Ấy là tôi nói theo kiểu người phàm, hợp với tầm hiểu biết yếu kém của anh em...” (Rm 6:18-19). Cũng tương tự, con người cần phải vâng phục một lề luật; Phaolô chia sẻ kinh nghiệm: “Luật của Thần Khí ban sự sống trong Đức Kitô, đă giảùi thoát tôi khỏi luật của tội và sự chết” (Rm 8:2). V́ thế, Giacôbê gọi luật của Chúa là “luật hoàn hảo mang lại tự do và hạnh phúc” (x. Gc 1:25). Sự tự do của con cái Thiên Chúa sẽ làm cho các cơ cấu của xă hội được giải phóng thật sự (x. Rm 8:21). Các Giáo phụ, các công đồng và các nhà tư tưởng đă suy tư về thể cách Đức Kitô giải phóng cho tự do của người tội lỗi. Qua nhập thể, Ngôi Lời đă mặc lấy nhân tính của t́nh trạng “sa đọa” với những hậu quả kèm theo, nhưng không vướng mắc tội lỗi; và v́ đă trả giá chuộc trên thập giá, Ngài giải phóng nhân loại khỏi ách của tội lỗi. Hiện nay, có một vấn đề được đặt ra: nếu người kitô đă được giải phóng như thế, th́ dấu hiệu nào sẽ giúp nhận ra điều đó? Một người đă được rửa tội, một xă hội kitô, sẽ có những ǵ tốt hơn, và tốt hơn như thế nào? Xem ra ảnh hưởng của đức tin kitô tác dụng quá chậm: dù Tân Ước có dạy rơ là mọi người đều như nhau, dù trong Giáo hội (nhà thờ) tôi tớ hay chủ nhân, nam hay nữ... đều nhận những bí tích như nhau, dù họ chia sẻ cùng một Lời Chúa, cùng một bàn thánh, dù nhiều Giáo phụ (như Gioan Kim Khẩu, Âugutinô, v.v.)ï kết án chế độ nô lệ, th́ cũng vẫn c̣n kỳ thị, nô lệ, giai cấp... trong các xă hội kitô. Về mặt công bằng xă hội, Tân Ước nêu bật bổn phận tương thân tương ái, các Giáo phụ (đặc biệt là Badiliô và Âugutinô) đă giảng dạy và dấn thân giúp đỡ người nghèo, Giáo hội đă thiết lập bệnh viện, cô nhị viện, và các tổ chức từ thiện, v.v., luật lệ đă có phần nhân đạo hơn, phong tục cũng đă thuần hậu hơn. Và hơn nữa, người ta c̣n lấy Phúc Âm làm cảm hứng, làm lư tưởng, làm tiêu chuẩn và khí giới để đối cọi với sự ác nhằm đổi mới xă hội... Dù vậy, xă hội vẫn c̣n đầy dẫy bất công, áp chế, bóc lột, v.v. Tội của chúng ta vẫn c̣n nhan nhản, nặng nề. Hiện giờ, thần học ư thức rơ hơn về những chiều kích quảng trương của ơn cứu độ: không chỉ đơn thuần có tính cách cá nhân, ơn cứu độ c̣n mang cả tính cách xă hội và vũ trụ nữa; v́ nếu Đức Kitô đă giải phóng ta khỏi tội lỗi, th́ cùng lúc, cũng giải phóng ta khỏi mọi trung gian và hậu quả của tội lỗi, là t́nh trạng khốn khổ, là những cơ cấu bất công, những hệ thống áp bức bóc lột trong các quốc gia, trong các tổ chức quốc tế và trong thế giới. Có thể nói đó là chủ đề đặc thù trong nỗ lực nghiên cứu của “Thần học Giải Phóng.” [172] Dù khởi đầu từ Châu Mỹ Latinh, th́ hiện nay dạng thần học này cũng đă được phổ cập hầu như khắp nơi trong thế giới, với những suy tư cá biệt khởi sinh từ nhiều vùng – như Châu Á, Châu Phi, Hoa kỳ – nhiều giới – như giới dân da màu, tiện dân, nữ giới – và nhiều lănh vực kinh tế, chính trị, xă hội, v.v. khác nhau. [173] Và đây là điểm đáng lưu ư: một khi đă có những vấn đề quan trọng đến như thế làm cho xă hội phải nghiêm chỉnh lưu tâm, ắt đức tin kitô cũng phải nhận ra được nơi Đấng Cứu tinh phổ quát, một sức giải thoát tương ứng, có khả năng động viên hàng triệu con người thiện chí dấn thân hoạt động làm sao để tha nhân có được một đời sống tự do và công bằng hơn. Dĩ nhiên là phải biết phối ḥa cho tốt đẹp giữa “chính thống” và “chính hành”; có thế th́ Cứu độ học mới thực sự kiện toàn cho Đạo đức học; quả thế, như Phaolô nhận định: “Chính để chúng ta được tự do mà Đức Kitô đă giải thoát chúng ta” (Gl 5:1). Chân lư ấy phải được sống thực, một cách cụ thể, trong hết mọi lănh vực: thiêng liêng, tâm lư, chính trị, kinh tế, văn hóa, v.v. |