Đức Kitô, Đấng Thần Hoá

 

Ơn cứu độ có hai mặt: tiêu cực là xóa tội, tích cực là làm cho nên “tạo vật mới” hay là “thần hóa” theo cách nói của các Giáo phụ. Nếu Đức Kitô đă ban cho ơn trở thành nghĩa tử của Thiên Chúa, tất phải cố gắng trở nên giống – bao nhiêu có thể – như Người, tức là đặt toàn bộ con người ḿnh vào trong sức năng thần hóa. Đó là ước mong lộ rơ trong ḍng lịch sử các tôn giáo, v́ tự bản chất, con người hướng quy về với Hữu thể Tuyệt đối. Trong Kitô giáo, thiên hướng này đă được các Giáo phụ Đông phương khai triển sâu rộng. [174]

Kinh Thánh

Thiên Chúa tạo thành con người “giống h́nh ảnh Người” (St 1:26), nghĩa là muốn chia sẻ sự sống thần thiêng cho con người. Tội đă xảy đến v́ Ađam cố tự sức ḿnh chiếm lấy điều Thiên Chúa muốn ban nhưng không. Nhưng khả năng đón nhận ân huệ ấy th́ bản tính loài người vẫn c̣n được giữ nguyên.

Đức Giêsu đă dạy cho các môn đệ biết đối xử với Thiên Chúa như con cái với Cha ở trên trời (Mt 6:1; 7:11,v.v.); cách xưng hô căn bản trong các lời cầu là “Lạy Cha” (Mt 6:9; Lc 11:2). Đức Kitô phục sinh là “trưởng tử giữa một đàn em đông đúc” (Rm 8: 29), trong Đức Giêsu Kitô, các tín hữu đều là con cái của Thiên Chúa (x. Gl 3:26): “Để chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đă sai Thần Khí của Con ḿnh đến ngự trong ḷng anh em mà kêu lên: ‘Abba!’ Cha ơi” (Gl 4:6; x. Rm 8:14-7). Thế là kitô hữu đă trở nên đền thờ của Thiên Chúa (x. 1Cr 3:16-7; 2Cr 6: 16) hoặc của Thánh Thần (x. 1Cr 6:19). Mà đă sống nhờ Thần Khí, tất được thần hóa. Dĩ nhiên, việc này xảy ra theo khả năng hữu hạn của con người, do vậy, chúng ta chỉ là nghĩa tử. Đó chính là mục đích kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa nhắm tới: “Theo ư định, Thiên Chúa đă tiền định cho ta làm nghĩa tử nhờ Đức Giêsu Kitô.” (Ep 1:5). Gioan cũng xác định như vậy: Thiên Chúa ban cho những ai tin, khả năng trở nên con cái Người (x. Ga 1:12); ngay từ bây giờ chúng ta là con cái Thiên Chúa! (x. 1Ga 3:1-2.10). [175] Đó là ân huệ của t́nh thương bao la Chúa Cha dành cho con người.

Thật vậy, ân huệ ấy là hậu quả cao siêu nhất của cuộc “trao đổi kỳ diệu” thư Do thái đă nói đến: “Đấng thánh hóa – Đức Giêsu – và những ai được thánh hóa đều do một nguồn gốc... v́ con cái đều chung một huyết nhục” (Dt 2:11-14), tức đều cùng có chung một bản tính, một thân phận: Ngài nhận lấy nhân tính để chia sẻ cho chúng ta thiên tính.

Tân Ước dùng một ẩn dụ táo bạo để biểu đạt mầu nhiệm này. Đức Giêsu nói với Nicôđêmô: Ông phải sinh ra một lần nữa... Dĩ nhiên là ông hết sức ngạc nghiên, v́ thế Đức Giêsu nói tiếp: không ai có thể được cứu rỗi “nếu không sinh bởi nước và Thần Khí” (Ga 3:5). Thế nên, Phép Rửa được hiểu như là cuộc tái sinh (x. 1Pr 1:3; 2:2; Tt 3:5), cũng như Lời Chúa là “mầm mồng bất diệt” (1Pr 1:23; Gc 1:18) hoặc hạt giống (x. Mt 13:3tt), nghĩa là nguyên nhân của hữu thể mới. Bởi “tạo vật mới” (Gl 6:15) này là hoa quả của mầu nhiệm phục sinh, nên Phaolô so sánh Phép Rửa với việc d́m vào trong cái chết của Đức Giêsu để được cùng sống với Ngài trong đời sống mới (x. Rm 6:4-8).

Nếu sống nhờ Thần Khí, th́ kitô hữu thông phần sự sống của chính Thiên Chúa; v́ thế, thánh Phaolô gọi đó là “sự sống đời đời trong Đức Kitô” (Rm 8:23). C̣n đang “ẩn giấu trong Thiên Chúa” (Cl 1:3), sự sống này sẽ xuất hiện trong ngày sống lại với một “thân thể thiêng liêng bất hoại” (x. 1Cr 15:42-55). Theo cung cách riêng của ngài, thánh Gioan cũng tŕnh bày cùng một giáo lư như thế. Chính Đức Kitô là sự sống và là sự sống lại (x. Ga 11:25; 14:6); Ngài chia sẻ cho chúng ta chính ḿnh – “bánh hằng sống” (Ga 6:35.48) – và máu Ngài (x. Ga 6:55). Đó là cách diễn tả mầu nhiệm về thực trạng tương tại giữa Đức Kitô và các kitô hữu (x. Ga 15:4tt). Một cách khác, Phêrô đă dám quả quyết: “Anh em được thông phần bản tính Thiên Chúa” (2Pr 1: 4); thực tại này các Giáo phụ gọi là cuộc sống “thần hóa.”

Truyền thống giữ lại nhiều dữ liệu rất phong phú về chủ đề này. [176] Các Giáo phụ đi từ những tín quy Giáo hội dùng trong phụng vụ Thánh Tẩy: trong bí tích đức tin, kitô hữu nhạân được Thần Khí trở nên con Thiên Chúa. Nguyên tắc chung đă được thánh Irênêô tŕnh bày như sau: “Ngôi Lời Thiên Chúa, Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, đă trở thành như chúng ta, để làm cho chúng ta trở nên như Ngài.” [177] “Như Ngài” thường được giải thích là “con cái Thiên Chúa,” “Ngài là ǵ, th́ chúng ta cũng trở thành như vậy”: “bất hủ” (nhất là các tác giả Hylạp), “thông phần thần tính,” “bất tử,” v.v.  Các ngài quan niệm việc “trao đổi kỳ diệu” theo nghĩa hữu thể. Việc thần hóa là chân lư vững chắc đến độ các ngài đă dựa vào thực tại này mà chứng minh Thánh Thần là Thiên Chúa: “Nếu Thần Khí là một tạo vật, th́ không làm sao chúng ta thể thông phần bản tính Thiên Chúa được.” [178]

Các Giáo phụ đă đặc biệt nhấn mạnh đến ảnh hưởng của mầu nhiệm nhập thể, đến độ có thể gây ngộ nhận, coi như các ngài cho rằng Ngôi Lời đă mặc lấy nhân tính toàn thể và, v́ thế, đă thần hóa hết mọi cá nhân trong loài người; nhưng không, các ngài đă không chủ trương như thế, và cũng không tách biệt nhập thể khỏi phục sinh, hữu thể khỏi hoạt động, v.v. “Nhập thể” chỉ đơn thuần liên hệ đến “toàn bộ cuộc đời và sứ mệnh” của một ḿnh bản thân Đức Kitô. [179]

Nhờ ngôi hiệp, các hành động trong cuộc đời của Đức Kitô, như: sinh ra, sống, rao giảng, chết và sống lại, mới có được giá trị cứu độ: Inhaxiô Antiôkia nói rằng máu ấy là “máu của Thiên Chúa”; các Giáo phụ nhấn mạnh nhiều lần đến sự việc “Thiên Chúa chết v́ chúng ta,” Thiên Chúa chia sẻ cho chúng ta chính ḿnh Người. Khi nhập thể, Ngôi Lời đă một phần nào mặc lấy nhân tính toàn thể, và v́ thế toàn thể nhân loại được thông phần “sinh khí” của Ngài; nhưng không phải một cách máy móc hay phù phép, mà cần phải trở lại, đón nhạân đức tin và chịu Phép Rửa, tức tự do lănh nhận Thần Khí, th́ mới được “tái sinh,” mới được “ghép” vào thân thể Đức Kitô, trở thành chi thể của Ngài. Đă từng tác động để Đức Kitô sinh ra, bây giờ Thần Khí cũng không ngừng hoạt động để làm cho chúng ta được tái sinh: sự sung măn của Đức Kitô (thần tính) được tuôn đổ vào ḷng chúng ta (x. Ga 1:16).

Nói thế có vẻ như là quá đáng, có vẻ như chúng ta không c̣n là con người... Không. Trước hết, cần lưu ư đó là cách nói theo ngôn ngữ loại suy; thứ đến, không thể nào con người triệt tiêu đi được những giới hạn của thân phận tạo vật. Uỷ ban thần học quốc tế giải thích rơ rằng: “Hiểu cho đúng, ‘thần hóa’ là làm cho con người thành con người toàn vẹn: ‘thần hóa’ là ‘nhân hóa’ chính thực và đến mức độ tuyệt vời.” [180] Thần học hiện đại tŕnh bày học thuyết này bằng một dạng ngôn ngữ mới. Thay v́ “thần hóa,” th́ P. Tillich, một thần học gia tin lành, đă dùng cách nói “thông phần Hữu thể Mới,” [181] mà “hữu-thể-mới” chính là con người được cứu độ giống như Đức Kitô. K. Rahner thường dùng cách nói về “Thiên Chúa tự trao ban chính ḿnh” cho chúng ta, coi đó như là cùng đích của kế hoạch cứu độ; tác giả hiểu việc “tự trao ban” của Thiên Chúa “một cách hữu thể theo nghĩa hẹp,” “nói cách khác, cái được chuyển thông là chính hữu thể của Thiên Chúa”; nhờ Thần Khí hiện diện và tác động trong chúng ta, “hữu thể của con người được thần hóa thật sự.” [182] Bất lực với khả năng tự nhiên của ḿnh, nhưng nhờ vào ơn cứu độ của Đức Kitô, con người, h́nh ảnh của Thiên Chúa, “hoàn tất” được kế hoạch Đấng Tạo hóa đă đề ra cho ḿnh.

“Thần hóa” là chuyển thông “bản tính Thiên Chúa” cho con người, với kết quả là “con cái Thiên Chúa” được sinh ra, con cái mà Phaolô gọi là nghĩa tử: con cái thụ tạo của Thiên Chúa chỉ có thể là “con nuôi.” Được cứu độ là được sống trong tương quan mới lạ với Thiên Chúa, như chủ thể với chủ thể: đối với Cha là con, đối với Con là em, đối với Thánh Thần là... “người yêu.” Như thế, ơn cứu độ không chỉ ảnh hưởng đến bản tính, mà nhất là đến cả bản ngă nữa. Nghiên cứu về những chi tiết của mầu nhiệm này là phận vụ của thần học về ân sủng (Ân sủng học). [183]