Đức Kitô, Đấng Công Chính Hoá

 

“Công chính hóa” là phạm trù cơ bản của Tân Ước, đặc biệt là của Phaolô. Trong lịch sử, khái niệm này được khai triển rộng ở Tây phương, do ảnh hưởng phổ bác của Âugutinô; rồi về sau đă trở thành trọng điểm trong cuộc tranh luận tin lành-công giáo hồi thế kỷ 16; để cuối cùng đưa tới việc công đồng Trentô công bố văn kiện bàn về chủ đề (n. 1547, x. DS 1520tt). [184]

Kinh Thánh gọi Thiên Chúa là “công chính” v́ Người trung thành với lời hứa, với kế hoạch của Người đối với dân Ítraen; sự công chính của Thiên Chúa luôn luôn có tính cách cứu độ. [185] Lúc bắt đầu sứ vụ công khai, Đức Giêsu nói là ḿnh “phải giữ trọn đức công chính” (Mt 3:15), tức là phải sống và hành động theo ư Thiên Chúa để các lời hứa được ứng nghiệm. Chẳng thế mà khi Ngài chết trên thập giá, viên sĩ quan Rôma đă lớn tiếng nh́n nhận: “Người này đích thực là người công chính” (Lc 23:47). Chính v́ đă chịu chết như người công chính (x. Cv 3:14), Đức Kitô nhận được năng quyền công chính hóa người khác.

Là một phạm trù pháp lư, “công chính hóa” có nghĩa là thẩm phán tuyên bố bị cáo trắng án, vô tội. Phaolô cho biết mọi người sẽ phải ra trước ṭa của Thiên Chúa hoặc của Đức Kitô (x. Rm 14:10; 2Cr 5:10); đó là cuộc phán xét cuối cùng (x. Mt 25:31tt). Mà ngay ở đời này, “mọi người... đều bị tội lỗi thống trị, như có lời chép rằng: ‘Không ai là người công chính’” (Rm 3:9-10); bởi thế, Thiên Chúa tỏ lộ “cơn thịnh nộ của Người chống lại mọi thứ vô luân và bất chính” (x. Rm 1:18; 2:5.8; 3:5,v.v.). Giữa trạng huống ấy, Đấng Công chính sẽ can thiệp để mọi người “được trở nên công chính do ân huệ Thiên Chúa ban nhưng không, nhờ công tŕnh cứu chuộc thực hiện trong Đức Kitô Giêsu. [186] Thiên Chúa đă định cho Đức Kitô Giêsu phải đổ máu ḿnh ra, làm hy lễ đem lại ơn tha tội cho những ai tin. Như vậy, Thiên Chúa cho thấy Người là Đấng Công Chính” (Rm 3:24-25). Ấy là tóm gọn giáo lư của Phaolô về việc công chính hóa.

Theo Phaolô, Thiên Chúa công chính hóa tội nhân chỉ v́ có ḷng tin. Tông đồ đặt thí dụ: “Ông Abraham đă tin Thiên Chúa và, v́ thế, được kể là người công chính” (Rm 4:4); cũng vậy, “chúng ta sẽ được kể là công chính, v́ tin vào Đấng đă làm cho Đức Giêsu, Chúa chúng ta, sống lại từ cơi chết, [bởi v́] Ngài đă bị trao nộp v́ tội lỗi chúng ta và được Thiên Chúa làm cho sống lại để chúng ta được nên công chính” (Rm 4:24-25). Phaolô quả quyết “không người phàm nào được nh́n nhận là công chính v́ đă làm những ǵ Luật dạy” (Rm 3:20); ư nói là tự ḿnh, con người bất lực, dù có làm ǵ đi nữa th́ cũng không thể nên công chính được. Đó là ơn nhưng không Thiên Chúa ban, nhưng lại nhờ và qua Đức Kitô.

Tóm lại, “công chính hóa” nói lên ba điều:

1) Thiên Chúa tuyên bố trắng án cho tội nhân;

2) Thiên Chúa biến tội nhân thành công chính, ‘xứng đáng’ đứng trước nhan Người;

3) Như thế là nhờ Đức Kitô đă vâng phục Chúa Cha để chấp nhận: sống, chết và sống lại v́ tội nhân.

Dù con người không có công đức ǵ, nhưng Thiên Chúa đă chấp nhận công nghiệp của Đức Kitô mà tách “tội” khỏi “nhân” (chứ không tách tội nhân khỏi người công chính). Cuộc trao đổi kỳ diệu cốt ở việc Đức Kitô nhận lấy tội lỗi của nhân loại và ban cho nhân loại sự công chính của Ngài.

Giáo lư này trở nên trọng tâm trong cuộc tranh luận thời cải cách tin lành. Luther đă đả kích nhiều hoạt động sai lệch trong Giáo hội, đồng thời đă đưa ra lập tường quá khích cho rằng con người được công chính hóa chỉ nhờ bởi ân sủng, chỉ nhờ bởi đức tin, chỉ nhờ bởi Đức Kitô mà thôi, chứ không cần đến sự hợp tác từ phía con người, và c̣n cho rằng chỉ nhờ Kinh Thánh mà biết được chân lư ấy. V́ vậy, ông và phong trào tin lành phủ nhận mọi thứ “trung gian” khác, như thiên nhiên hay Giáo hội, quyết định của tự do hay các bí tích, các Thánh, v.v. Giáo hội đă triệu tập công đồng Trentô (n. 1545- 1563) và, ngoài một số sắc lệnh cải cách, các nghị phụ đă soạn nhiều văn kiện giáo lư, đặc biệt là sắc lệnh về việc công chính hóa. Giáo lư công giáo gồm có những điểm sau đây:

1) tất cả những ǵ Thiên Chúa làm cho tội nhân là nhờ công đức của Đức Kitô;

2) khi được công chính hóa, tội nhân trở nên công chính thật sự, tức trong họ không c̣n có ǵ “đáng ghét” trước mặt Thiên Chúa;

3) nhờ đức tin, con người được Thiên Chúa đón nhận;

4) đức tin phải đi đôi với đức cậy và đức mến th́ mới hữu hiệu;

5) khi lớn lên có trí khôn, con người phải “hợp tác” với ân sủng của phép Thánh tẩy;

6) đời sống vĩnh cửu ở trên trời không chỉ là ơn Thiên Chúa mà c̣n là phần thưởng của công việc tốt lành con người đă làm nhờ ơn Chúa.

 Việc công chính hóa là do ân sủng thực hiện kể từ lúc con người bắt đầu mở ḷng chuẩn bị, đang khi được tha tội, và sau đó khi làm các việc tốt lành; tự do được ân sủng giải phóng để có thể hợp tác với ân sủng trong bất cứ công việc tốt lành nào. Phải tẩy trừ mọi ảnh hưởng của lạc giáo Pêlagiô, cho rằng con người có thể tự cứu độ lấy ḿnh, tự ḿnh có thể làm việc thiện, ít là có thể hoàn toàn tự ḿnh, tiếp nhận hay từ chối ân sủng. Không! Chúng ta cần ơn trợ giúp của Thiên Chúa.

Hiện nay, cuộc đối thoại đại kết đă cho thấy sự khác biệt giữa Luther và Giáo hội công giáo không phải là to lớn cho lắm. [187] “Công chính hóa” là một tên gọi khác của “thần hóa.” [188] Vấn đề bây giờ là làm sao cho sự công chính của từng tín hữu có được tác dụng xây dựng công bằng hội qua những ai đă được Thiên Chúa công chính hóa.

Trên đây đă bàn về những thể thức của hoạt động trung gian “từ trên xuống”; vậy, xin được tiếp tục với việc tŕnh bày về cách tiến hành của hoạt động trung gian “từ dưới lên.” Cách thứ nhất nhấn mạnh đến tác dụng của Thiên Chúa; cách thứ hai nói về phần đóng góp của loài người, mà Đức Kitô là đại diện.