TruyỀn ThỐng

Bao giờ Kitô giáo cũng coi sự chết của Đức Kitô là tâm điểm, là cốt tủy của biến cố cứu độ; nhưng thường khi lại lẫn lộn về các ư niệm “xá tội,” “đền tội,” “cứu chuộc,” “chết v́ hoặc chết  để...” v.v. Nói về việc ḿnh chịu chết v́ đạo (martyr có nghĩa là “chứng nhân”) Inhaxiô Antiôkia viết như sau: “Tôi là tế vật xá tội của anh em và tự hiến ḿnh làm lễ tế v́ Giáo hội của anh em.” [213] Chú giải Rm 3:25, Ôrigênê nói rằng: “V́ tự hiến thân ḿnh, Đức Kitô làm cho Thiên Chúa đối xử khoan hồng với loài người, điều đó tỏ cho thấy Ngài công chính... Là công chính, Thiên Chúa không thể lấy công bằng mà công chính hóa kẻ bất lương; v́ thế Người đă muốn nhờ đến Đấng Xá tội để qua Ngài, những kẻ không thể được công chính hóa do việc làm của chính họ, th́ nhờ ḷng tin vào Ngài mà được công chính hóa.” [214] Các Giáo phụ thường khai triển tư tưởng trong cách thức tương tự như vậy, và chưa nghĩ ǵ  đến giả thuyết xuất hiện về sau, gọi là “thay thế h́nh sự” (penal substitution), giả thuyết nhấn mạnh đến khía cạnh “đau đớn” như là phương tiện để làm “nguôi giận” Thiên Chúa. như thế, phải hiểu việc chịu khổ như là một thứ “chuyển cầu hiện sinh” (exis­tential intercession) nằm trong hậu cảnh phụng vụ của lễ tế xá tội. Ở điểm này, thần học và tu đức gặp nhau: đau khổ tự nó là xấu, nhưng nhờ Đức Kitô mà đă trở nên “giá cứu chuộc.” Không ai ưa ǵ đau khổ, nhưng nếu phải chịu khổ (v́ không tránh được) và biết kết hiệp với Đức Ki­tô trên thập giá mà đón nhận đau khổ và dâng lên Thiên Chúa, th́ khổ đau ấy của người kitô sẽ nên lễ tế xá tội. Nếu phải xá tội hoặc đền tội th́ không phải là v́ Thiên Chúa cần, song là v́ tội nhân cần; đền tội không phải là điều kiện để được Thiên Chúa tha thứ, song là hậu quả: bởi nó làm cho tội nhân biết mở ḷng để đón nhận ơn Chúa, và tỏ ḷng biết ơn cùng quyết chí tự hậu không phạm tội nữa. t́nh yêu của Đấng Cứu chuộc, hết những ai đền tội th́ đều được “góp phần” với Đức Kitô vào việc xá tội trần gian. Nếu ơn Đức Kitô ban đă đ̣i Ngài phải “trả giá cao,” th́ tội nhân há từ chối “góp phần” vào ơn ḿnh nhận lănh?

Suốt ḍng lịch sử, Giáo hội hằng tiếp tục cử hành lễ tế của Đức Kitô như ư Ngài muốn, qua Thánh Lễ hầu mưu ích “cho người sống và kẻ chết.” [215]

8. Thc Tội

Từ satisfactio, “thục tội” không gặp thấy ở trong Kinh Thánh, nhưng đă được truyền thống dùng để giải thích việc cứu chuộc. Ở Tây phương, từ thời Trung cổ cho đến gần đây, khái niệm này đă trở thành nền tảng của Cứu độ học. [216] Nó có nghĩa tương tự như “xá tội,” nhưng phát xuất từ môi trường pháp luật. Những nhầm lẫn học thuyết về thục tội gặp phải đều phát xuất từ việc lấy những phạm trù của “công bằng giao hoán” mà áp dụng vào việc đền tội.

Trong luật Rôma, satisfacere có nghĩa là “làm đủ” để đền bù cho chủ nợ. Luật gia Téctullianô đă đem ư niệm ấy áp dụng cho tội nhân: đương sự có bổn phận phải “đền” bao nhiêu có thể, lỗi tội đă phạm. Sau đó, thánh Ambrôsiô đă nêu ư kiến nói rằng dù vô tội, nhưng Đức Kitô đă chịu khổ như “hối nhân” để đền tội cho người khác. [217]

Thánh Anxenmô Canterbury († 1109), “ông tổ của thần học  kinh viện,” tác giả cuốn Cur Deus homo, “Tại sao Thiên Chúa làm người?” là người đă có công khai triển sâu rộng học thuyết về thục tội. Cho đến thế kỷ 20, đó vẫn là học thuyết chung về Cứu độ học ở Tây phương, cho cả công giáo lẫn tin lành; hiện giờ, vụ tranh luận về cuốn sách nói trên vẫn c̣n tiếp diễn. [218] Câu hỏi căn bản là: Nếu Thiên Chúa có thể cứu rỗi loài người cách dễ dàng (chỉ muốn là được), th́ tại sao lại đ̣i hỏi Đức Kitô phải chịu khổ đến như thế? Làm sao Thiên Chúa công b́nh lại đi kết án người vô tội thay v́ các tội nhân? — Anxenmô trả lời: Thiên Chúa không kết án, không giết Đức Giêsu, nhưng các kẻ thù đă làm; Thiên Chúa không ưa thích, nhưng chịu đựng sự đau khổ; và khi thấy Đức Kitô tự do thí mạng sống v́ các tội nhân th́ Người đánh giá việc hy sinh ấy cao đến nỗi tha thứ cho tất cả. Ngài quan niệm tội lỗi như là hành động lạm cướp vinh dự của Thiên Chúa; v́ thế, tội nhân phải trả lại điều đă ăn cắp, cọng thêm một điều ǵ đó để đền bù việc đă xúc phạm đến Người. Nhưng vinh dự ấy lại vô cùng, con người không thể nào trả lại đầy đủ được. Đàng khác, Thiên Chúa cũng không thể nào tha thứ nhưng không, v́ làm vậy là trái với trật tự công bằng chính Người đă lập. Vậy th́ phải làm như thế nào? Duy chỉ Thiên Chúa mới có khả năng trả món nợ vô cùng; nhưng nếu con người đă cướp th́ con người phải đích thân trả lại; thế nên, cần phải có một đấng thần-nhân hội đủ điều kiện để có khả năng đại diện loài người trả món nợ cho cân xứng đúng với trật tự công bằng. Thế nên, yêu thương, Thiên Chúa chọn giải pháp làm người. Vô tội, Đức Kitô không mắc nợ phải chết; nhưng nếu tự nguyện thí mạng sống v́ các tội nhân, th́ Ngài đă dâng hiến một điều ngoại trạch (supererogatory: bổn phận không buộc) quư nhất ḿnh có: là con người, Ngài thay mặt cho loài người để trả nợ; là Thiên Chúa, của Ngài cống hiến có giá trị vô cùng đủ để trả món nợ vô cùng; thế nên, sự chết của Đức Kitô là việc đền bù có khả năng đền tội thích đáng, khiến Thiên Chúa vui ḷng tha thứ.

Nhưng phải nói là học thuyết xem ra quá duy lư, giới tŕnh – qua cách luận giải – Thiên Chúa như là một quan ṭa loài người. Dù sao th́ Anxenmô cũng thừa biết là các ư niệm ấy đều cần phải hiểu theo kiểu loại suy; thêm nữa, ngài cũng đă cố điều hợp sao cho hài ḥa giữa ḷng thương xót và sự công bằng của Thiên Chúa; nhưng rốt cuộc ḷng thương xót đă thắng cuôïc và Thiên Chúa đă ban cho con người vinh dự được góp phần vào việc cứu độ chính ḿnh và người khác.

Khuyết điểm lớn của tác phẩm trên đây là đă “hội nhập văn hóa” một cách quá đáng qua việc lấy phạm trù “vinh dự” của chế độ phong kiến và ư niêïm công bằng giao hoán – cả về mặt số lượng – mà áp dụng cho Thiên Chúa; bởi nếu quả là thế th́ h́nh như ân sủng không c̣n chỗ đứng. Hơn nữa, cuốn sách tập trung toàn bộ công tŕnh đa dạng của Đức Kitô vào trong một chiều kích duy nhất là thục tội; do vậy, nhiều kết luận đă bị thiên lệch; sự chết xem ra quư hơn sự sống, c̣n sự sống lại th́ không đóng giữ được một vai tṛ nào trong Cứu độ học của An­xenmô.

Tư tưởng của Anxenmô đă dần dần ảnh hưởng sâu rộng trên thần học Trung cổ. [219] Phủ nhận ư niệm đền tội, Abêlađô († 1142) chỉ chấp nhận gương mẫu t́nh yêu biểu hiện qua cuộc khổ nạn của Đức Kitô; thánh Bênađô († 1153) phán kháng. Không có học thuyết riêng về Cứu độ học, thánh Tôma Aquinô chấp nhận ư kiến của Abêlađô mà cũng vừa lấy lại ư niệm thục tội của Anxenmô, nhưng vẫn giữ nguyên các phạm trù truyền thống. [220] Tôma coi việc nhập thể không phải là cần thiết – chỉ rất thích đáng mà thôi – để cứu độ loài người. Dực theo tư tưởng của An­xenmô, Tôma nhận định rằng việc đền tội cân xứng phải là việc làm của một thần-nhân; [221] bởi hành động của một Thần-nhân th́ mới có giá trị vô cùng: “Chỉ một giọt máu cũng đủ sức tẩy sạch trọn cả thế gian” (Adoro te devote). Khi bàn về cuộc tử nạn, Tôma nêu bật lư do tại sao những khổ nhục và cái chết Đức Ki­tô chịu đă nên ơn cứu độ cho loài người; trước hết là v́ công đức, rồi v́ giá trị thục tội, xá tội, cứu chuộc loài người, v.v.; nhưng yếu tố quyết định và lư do chủ yếu là t́nh yêu:

“Khi chịu khổ v́ yêu mến và vâng phục, Đức Kitô đă hiến dâng lên Thiên Chúa giá chuộc cao hơn những ǵ cần phải trả để đền bù hết mọi tội lỗi của nhân loại. Trước hết, v́ t́nh yêu bao la đă thôi thúc Ngài chịu khổ như thế; thứ hai, v́ phẩm cách mạng sống Ngài, mạng sống của một Đấng vừa là Thiên Chúa vừa là con người, mà chính Ngài đă dâng hiến làm giá đền bù; thứ ba, v́ cuộc khổ nạn kéo dai dẳng và rất đau khổ. Vậy, cuộc khổ nạn của Đức Kitô đền hết mọi tội của loài người không những cân xứng, mà c̣n dư thừa nữa.” [222]

Tư tưởng của thánh tiến sĩ khúc chiết và quân b́nh; nhưng v́ đă dành ưu tiên quá cao cho khía cạnh thục tội và đă nói nhiều về giá (pretium) phải trả cho Thiên Chúa, [223] nên thần học sau này sẽ thẳng tay mổ xẻ hai điểm này, với kết quả phải nói là bi đát. Công đồng Trentô thừa nhận từ satisfactio (thục tội), coi đó là thuật ngữ nói lên “nguyên nhân công đức” trong việc công chính hóa, nhưng lại không giải thích ǵ thêm. [224] Sau đó, Giáo Lư công đồng Trentô định nghĩa “đền bù” là “trả nợ đầy đủ”: Đức Kitô đă trả nợ đầy đủ cho chúng ta. [225]

Cho đến thế kỷ 20, thần học vẫn nhấn mạnh quá đáng đến ư niệm đền tội theo kiểu đ̣i hỏi của đức công bằng giao hoán, từ một Thiên Chúa “tức giận.” Tin lành và Công giáo đua nhau đưa ra những công thức quá khích. Sau đây là một vài thí dụ: Bossuet hùng biện nói: “Trong lễ tế này, mọi sự đều phải là thần linh cả: phải trả giá đền bù xứng đáng lên Thiên Chúa, và chính Thiên Chúa phải thực hiện điều đó; phải trả thù xứng đáng cho Thiên Chúa, chính Thiên Chúa phải thực hiện điều đó... Đích thân, Chúa Cha đă phải lấy hết mọi thứ sấm sét mà đánh xuống trên Con, và v́ chính Người đă đổ vào nơi Con mọi tội lỗi của chúng ta, th́ cũng chính Người phải trả thù cho thoả đáng công bằng...” [226] Thế là vô t́nh biến Chúa Cha thành đao phủ. Thuyết giảng tại nhà thờ Notre- Da­­me (Paris), M. L. Monsabré tŕnh tả: “Thiên Chúa nh́n thấy Đức Kitô là hiện thân của tội lỗi... Đồ bị nguyền rủa... V́ thế, quên đi đoàn thể đông đảo những người phàm khác, Người chỉ đưa mắt công bằng nh́n cḥng chọc vào cái hiện tượng ghê tởm ấy cho thỏa ḷng giận ghét. Chúa ơi, xin tha thứ, đấy là Con Chúa! — Không! Nó là tội, phải bị phạt.” [227] Cách nói như thế đă một thời trở thành b́nh thường, đến nỗi cả các sách giáo khoa, cả các luận án thần học cũng suy luận và biểu đạt theo đà ấy. [228] Thế th́ làm sao tránh được ngộ nhận cho rằng việc hành quyết bất công hoặc tội sát hại Đức Giêsu chính là nguồn ơn cứu độ! [229]

Thần học ngày nay cảm thấy có bổn phận phải thanh lọc ngôn ngữ. Không một tài liệu chính thức nào của Giáo hội dạy rằng sự công chính của Thiên Chúa đ̣i hỏi phải đền bù tội lỗi như thế. Nhưng, phạm trù “đền tội, thục tội” thường gợi ư cho nghĩ ngay là v́ liên đới với anh em nhân loại tội lỗi, Đức Kitô sống thân phận hối nhân [230] và phải tạ tội qua việc làm; bởi việc hy sinh cần thiết để phục hồi sức mạnh thiêng liêng cho ư chí loài người tội lỗi, và đồng thời phục hồi (đền bù) vinh dự Thiên Chúa giữa loài người, vinh dự đă bị tội lỗi làm cho sứt mẻ đi. V́ yêu thương, Thiên Chúa đă hạ ḿnh xuống đến nỗi chấp nhận chịu ảnh hưởng do hoạt động loài người. Đó là ư nghĩa của lề lối “nhân cách hóa” Thiên Chúa ở trong Kinh Thánh, khi nói là Người vui, buồn, giận... Thay mặt để đền tội cho nhân loại là Đức Kitô đă làm Thiên Chúa hài ḷng để ḥa giải loài người với Người.