|
VẤN ĐỀ THAY MẶT Thần học đă khai triển rộng học thuyết “đền bù thay” (satisfactio vicaria), và hiện nay đang dùng đến một vài từ ngữ tương tự, như “đại diện,” “xá tội thay,” “liên đới,” v.v. để biểu đạt ư niệm ấy. Trong Kinh Thánh, ư niệm này xuất hiện nơi một số văn bản, chăûng hạn như: Is 53 (Tôi tớ), Gl 3:13, 2Cr 5:21, và được rút ra từ những thành ngữ đi kèm với giới từ hyper (nghĩa là “thay v́”). [231] Đă có người quy áp cho Đức Giêsu h́nh bóng “oan dương,” tức con dê mang tội của dân và dành cho quỷ [Adêden]! (x. Lv 16:8tt). [232] Trong nhiều thế kỷ, thần học nêu bật sự kiện Đức Kitô đă chịu những h́nh phạt mà đáng ra chúng ta phải chịu. Tin lành cũng như công giáo đều nhấn mạnh đến sự việc Đức Kitô “trở thành tội” và bị phạt thay cho chúng ta là những tội nhân. [233] Calvin nghĩ là có một cuộc tố tụng h́nh sự chống chúng ta, nhưng Đức Kitô đă thay mặt gánh lấy tội lỗi loài người và đă bị kết án. [234] Đó là cuộc trao đổi kỳ diệu: Đức Kitô bị kết án, loài người được trắng án. Giả thuyết này được gọi là “thay mặt h́nh sự” (substitutio poenalis), tức bị phạt thay. Gần đây, thần học gia tin lành W. Pannenberg đă lại đề xuất luận đề ấy, nhưng là dưới ánh sáng phục sinh. [235] Nếu đă thay mặt tội nhân như là “kẻ bị kết án,” th́ Đức Kitô cũng phải chịu “h́nh phạt thay.” Luther cho rằng trên thập giá, Đức Kitô đă phải chịu đọa h́nh (poena damni) của hỏa ngục. Trong đà hướng ấy, Calvin đă giải thích việc “xuống ngục” như là “xuống hoả ngục.” H.U.von Balthasar nhận định rằng Đức Kitô đă hạ ḿnh xuống đến nỗi Ngài chịu nếm nỗi cay đắng bị Thiên Chúa bỏ rơi, tựa như phải chịu “cái chết thứ hai.” [236] Ư của các tác giả là giải thích mầu nhiệm thập giá, và việc “trao đổi kỳ diệu” giữa Đấng Vô tội phải gánh chịu án chết và những tội nhân được công chính hóa. Nhưng nói như thế th́ quá đáng. Uỷ ban Thần học Quốc tế đă lên tiếng cảnh cáo: “Nếu hiểu theo nghĩa đen và xét về mặt thuần túy lư tính, th́ khó mà gọi là “xá tội thay” hoặc “đền tội thay,” hành động Thiên Chúa đă thực hiện để dứt khoát mang lại ơn cứu độ qua cuộc sống và cái chết của Đức Chúa cánh chung, cũng như qua sự sống lại của Ngài... Không thể nghĩ rằng Thiên Chúa đă trừng phạt hoặc kết án Đức Kitô thay v́ chúng ta.” [237] Hồi thế kỷ 19, giả thuyết “đền bù thay,” “làm đủ thay” (satisfactio vicaria) được tŕnh bày dưới một dạng khác với quan niệm “chịu h́nh phạt thay.” Đức Kitô không bị phạt, nhưng, v́ yêu mến Cha và mến thương anh em, Ngài đă làm cho Thiên Chúa hài ḷng thay cho chúng ta. [238] Chỉ phải tránh hai điều: một là nghĩ rằng Thiên Chúa đ̣i hỏi phải “đền bù” một điều ǵ đó; hai là cho rằng Đức Kitô đă làm tất cả rồi, cho nên chúng ta không cần làm ǵ hết. Tại sao Đức Kitô có thể thay mặt loài người? Có kẻ nói: v́ Thiên Chúa quyết định như vậy, Người muốn Đức Kitô làm Ađam mới, tức cội gốc của nhân loại mới; người th́ bảo: v́ nhập thể, Ngôi Lời đă nhận lấy trọn vẹn nhân tính và, v́ là nhân vật quư nhất, là “trưởng tử,” nên dĩ nhiên Ngài là đại diện của đàn em; hoặc cách khác: Ngài là Đầu của nhân loại, th́ cũng là đại diện của toàn thân. Không thể hoàn toàn bỏ rơi ư niệm “thay mặt” hoặc “thay v́,” bởi nó phát nguyên từ trong Kinh Thánh và truyền thống, và nhất là bởi một khía cạnh của mầu nhiệm thật sự là như vậy. [239] Hiện giờ, thần học dùng đến tính liên đới – vừa tự nhiên mà cũng vừa do quyết định tự do của Đức Giêsu – với loài người. Một khi đă liên đới với một người một nhóm, th́ cũng gánh nhận số phận của họ (x. 1Cr 9:20-21). Đức Kitô đă chia sẻ thân phận với loài người: Ngài được ‘nhân hóa’ để ‘thần hóa’ nhân loại. Ngài là trung gian giữa Thiên Chúa và loài người; v́ liên đới với hai bên, Ngài là đại diện của Thiên Chúa ở giữa loài người, và là đại diện của nhân loại trước nhan Chúa Cha. Như thế, Đức Kitô mới có thể tự do thay mặt loài người trong trách nhiệm về tội lỗi, gánh nhận hậu quả là sự chết, và kéo loài người lên cùng Thiên Chúa. Khoa chú giải hiện đại đọc thấy trong nhiều bản văn Kinh Thánh, tính liên đới giữa Đức Kitô và loài người: bắt đầu là Is 53, rồi đến Ph 2:6-7; 2Cr 5:14.21; 8:9; Gl 3:13, v.v., và đặc biệt là Rm 5:12-21; 1Cr 15:21-22 nói đến trường hợp liên đới giữa Ađam và Đức Kitô, cũng như Ep 1:23; 5:23-30; Cl 1:18; 2:19; 3: 15 cho thấy cùng với Ngài chúng ta đă trở nên một thân thể; thư Do thái cũng đă nêu bật dây liên đới đặc thù ấy của Đức Kitô (x. Dt 2:17; 4:15; 5:2...). Chính Đức Giêsu đă cảm thấy liên đới với mọi người trong số phận đời đời (x. Mt 25:40.45). T́nh trạng liên đới này là hậu quả của kế hoạch cứu độ Thiên Chúa đă an bài, bởi Người “đă chọn ta trong Đức Kitô, trước khi tạo thành vũ trụ để... ta trở nên tinh tuyền thánh thiện nhờ t́nh thương của Người” (Ep 1:4); bao quát hơn nữa, Đấng tạo hóa đă dựng nên muôn vật liên đới với nhau (x. Rm 8:19-22). Vấn nạn vẫn là: tại sao một người có thể thay mặt để cứu độ mọi người? Dựa vào tính liên đới ấy th́ dễ trả lời hơn: V́ ‘người ấy’ là Thiên Chúa, nên tính liên đới ấy mang chiều kích phổ quát, vượt quá giới hạn không và thời gian. Chủ thể của biến cố chết và sống lại là Ngôi Lời, v́ thế có sức năng ảnh hưởng trên tất cả; là Ngôi Lời mà cũng là “Con Người” đă tự do nhận lấy phận mệnh của anh em và liên kết họ vào trong phận mệnh của ḿnh. Dù biết hay không biết, mỗi người đều có Đức Giêsu làm anh ḿnh, làm Đầu của ḿnh: phận mệnh của Ngài quyết định phận mệnh của tất cả: “Khi nhập thể, Con Thiên Chúa đă, một cách nào đó, kết hợp với tất cả mọi người” (VMHV 22b). Thể cách cứu độ này đă được dự kiến từ lúc tạo dựng, trong cấu trúc liên đới giữa loài người (người đại diện của gia đ́nh, của bộ lạc, của quốc gia, v.v.); nhưng vẫn c̣n có nhân tố cá nhân, là tự do đón nhận hay từ chối dây liên đới ấy. Nói cho cùng, đây là phạm vi mầu nhiệm: không một từ ngữ hay ư niệm nào có thể biểu đạt cho đầy đủ được. Gần đây, H. U. von Balthasar lấy ư niệm “phổ niệm cụ thể” (universal concrete) của triết gia Hegel mà áp dụng cho trường hợp Đức Kitô: Ngài là cá nhân phổ quát, bởi v́, do thần tính, Ngài vô cùng vô tận. [240] Suốt ḍng lịch sử, vai tṛ cứu độ của Đức Kitô vẫn măi tiếp tục cách hữu h́nh qua Giáo hội, là khí cụ (bí tích) cứu độ phổ quát (x. ASMD 1). |