NHỮNG CÁCH GIẢI THÍCH ĐÁNG LƯU Ư NHẤT
TRONG THẦN HỌC HIỆN ĐẠI VỀ NGUYÊN TỘI
Siegfried Widenhofer [1][1]
F. Gómez Ngô Minh chuyển dịch
Dù thần học hiện đại đang phát hiện trở lại và bàn thảo sâu rộng về nội dung căn bản của giáo lư về nguyên tội, th́ cho đến nay cũng vẫn chưa có được một mô mẫu giải thích cho thống nhất về thực trạng ấy.
1. Hiện trạng và ngọn nguồn
Tŕnh bày về hiện trạng suy tư thần học liên quan đến nguyên tội là việc làm không phải dễ.[2] [2] Đường hướng phát triển chung của thần học công giáo trong những thời gian gần đây đă làm phát sinh ra t́nh trạng mù mờ ấy.
Trong các thập kỷ 50 và 60, việc dùng phương pháp lịch sử và lề lối hệ thống để suy cứu về các thành tố làm nền móng cho thần học, đă giúp cho các thần học gia biết cách nh́n lại toàn bộ truyền thống giáo hội và thần học bằng những cặp mắt mới, cũng như ư thức rơ hơn về uy thế đặc thù có tính cách quy phạm của Kinh Thánh. Và như thế, các thần học gia bị dồn vào cái thế phải đặt lại --theo một kiểu mới-- câu hỏi: Nguyên tội là ǵ? Nội dung thật của giáo lư Giáo hội dạy về nguyên tội là ǵ? Những lập trường quả quyết có vẻ phi thời gian của thần học tân kinh viện ngày trước, thực ra không phải là những ǵ được truyền thống --như hiểu theo ngôn từ lịch sử-- hay Kinh Thánh --như đọc lại trong ánh sáng của phương pháp phê b́nh theo sử học hiện đại-- xác nhận. Suốt trong hai thập kỷ ấy, phần lớn các vụ bàn luận thường quy tụ vào nơi vấn đề có tính cách nội bộ thần học và nội bộ giáo hội ấy, tức là vào nơi sự việc cần phải canh tân và đồng thời, cần phải bảo toàn tính chất liên tục cho giáo lư về nguyên tội. Đà suy cứu trở lại như thế về nền móng của thần học c̣n được tăng cường hơn thêm nhờ bởi sự việc Giáo hội và thần học mở ra một quan hệ mới với "phía bên ngoài," qua nỗ lực trao đổi không ngừng nới rộng với các lực lượng và hiện tượng tiêu biểu giữa thế giới hiện đại. Những phát minh và những giả thuyết trong các ngành sinh học (thuyết biến hoá) và cổ sinh vật học đă đặt các thần học gia vào thế phải lấy óc phê b́nh mà xét lại các ư kiến của ḿnh, v́ trước những ǵ ánh sáng khoa sinh vật học cho thấy, các ư kiến ấy xem ra không c̣n đứng vững được nữa.
Giai đoạn đầu tiên trong cuộc suy tư của thần học hiện đại về nguyên tội mang lại hai kết quả chính sau đây:
1. Một số --nói cho đúng hơn là đa số-- các thần học gia đều đă khai triển một hệ thống giải thích lại giáo lư về nguyên tội làm sao để ứng đáp cho thỏa đáng cả cách hiểu theo quan niệm hiện đại lẫn những yêu cầu của truyền thống Kinh Thánh và tín lư. Có lẽ cách giải thích lại của nhà thần học Hà lan Piet Schoonenberg là xem ra thành công nhất. Giải thuyết này đă được đăng ngay trong bộ Mysterium Salutis, là bộ tổng hợp tín lư công giáo quảng bác nhất trong giai đoạn tiếp ngay sau công đồng (Vaticanô II), và được dịch ra nhiều thứ tiếng.[3] [3] Cha Schoonenberg đă thử quan niệm nguyên tội như là một mối liên đới trong tội lỗi, sẵn có trước mọi hành động tội phạm, và đặt quan hệ liên đới ấy vào nơi b́nh diện luân lư cùng cá nhân, chứ không c̣n phải là ở nơi b́nh diện bản tính nhân loại. Để hoàn thành phương án ấy, tác giả đă phải đề xuất một ư niệm mới, ư niệm "ở trong cảnh huống" (Situirt-Sein). Chung quy, nguyên tội là không ǵ khác ngoài sự kiện con người "ở trong cảnh huống tội lỗi." "Ở trong cảnh huống" là, trước hết, hậu quả của giai đoạn lịch sử trước đó, tức cụ thể mà nói, là hậu quả của cảnh huống gây ra do những hành động tự do tội lỗi của những người khác; cảnh huống ấy không phải là hậu quả của tội riêng cá nhân ḿnh, cũng chẳng phải là một thái độ cá nhân. Đó là một t́nh trạng sẵn có. Thứ đến, "ở trong cảnh huống" là t́nh trạng con người bị nội tại quyết định do cảnh huống ấy, chứ không phải chỉ bị thôi thúc một cách máy móc bởi một động lực đến từ môi trường bên ngoài. Chính v́ vậy mà t́nh trạng ấy thật sự mang tính chất quái ác và tội lỗi. Và c̣n nữa, "ở trong cảnh huống" là sức quyến rũ cho dù không làm mất đi tự do cá nhân, th́ cũng lôi cuốn các cá nhân đi đến chỗ làm những hành động tội phạm --phạm tội-- trong đời sống riêng của ḿnh.
2. Có những thần học gia khác --một thiểu số-- [4][4] th́ bằng cách này hay cách khác, viện cớ để chối bỏ nguyên tội, coi đó như là sản phẩm của một bước nhầm lẫn trong thần học. Làm thế, là v́ họ chịu sức ép của quan niệm cho là không có đủ lư do lịch sử và Kinh Thánh làm căn bản cho nguyên tội, cũng như sức ép của tư tưởng duy nhân bản cứng nhắc thường đi đôi với một lối nh́n lạc quan về thế giới con người. [5][5]
Ngày nay, khi nh́n lại, mới thấy giai đoạn đầu tiên này thật là mập mờ nước đôi. Một đàng, bất cứ một nền thần học về nguyên tội nào trong hiện tại cũng như trong tương lai cũng đều phải có căn bản vững chắc về mặt lịch sử và thần học. Điều đó muốn nói rằng không được thu hẹp vai tṛ của các nhân tố trong truyền thống Kinh Thánh và thần học để biến chúng thành những cột chống đỡ cho một nền tín lư nào đó, và rằng không được tách riêng để rời các yếu tố khác nhau trong truyền thống ra khỏi tổng thể của toàn bộ: toàn bộ lịch sử của truyền thống đức tin trong Giáo hội là nguồn cội và là quy phạm của đức tin. Đàng khác, rơ ràng là bao giờ căn bản lịch sử như thế kia cũng chỉ thành h́nh trong khuôn khổ của một số giả định theo hệ thống và một số lợi ích thực tiễn nào đó. Và như thế, ngày nay có thể nhận rơ được là việc dựa theo lịch sử và thần học mà phê b́nh truyền thống giáo hội và giáo lư thần học về nguyên tội, đă bị lèo lái một cách âm thầm bởi cả một loạt những thành kiến phát xuất từ những giả thuyết làm nền móng cho tân trào trí thức giác ngộ; cọng thêm với các thành kiến kia, c̣n có: thái độ trưởng giả lạc quan đặt niềm tin vào nơi đà tiến bộ, cá nhân chủ nghĩa tư sản, lối nhận thức thế giới theo cách kiểu thuần túy khoa học kỹ thuật, và đầu óc duy lư hiện đại.
Trái lại, trong các thập kỷ 70 và 80, đâu đâu cũng nghe nói đến như là một cuộc khám phá ra lại nguyên tội. Có lẽ sự kiện chuyển dịch trọng tâm trong thần học đă đưa đến việc tái phát hiện ấy. Trong thời gian họp công đồng, các vấn đề liên quan đến bản sắc của thần học và của Giáo hội đă được giải quyết và tŕnh bày bằng ngôn từ chuyên môn của nội bộ thần học và Giáo hội. Trong thời gian hậu công đồng, càng ngày người ta càng thấy rơ hơn rằng các vấn đề bản sắc kia thực sự liên quan chủ yếu tới thực trạng chia cách giữa Giáo hội và xă hội hiện đại, giữa đức tin kitô và đường hướng suy tưởng tục hóa đa dạng của thời đại này. Càng suy nghĩ về mối tương quan bấp bênh mà thần học và Giáo hội có đối với "phía (thế giới) bên ngoài," càng giao tiếp với những h́nh thái khác nhau trong triết học hiện đại, cũng như với các khoa nhân văn và khoa học khác nhau, và càng phân tích nghiên cứu về môi trường văn hóa, kinh tế, chính trị cùng xă hội của Giáo hội và thần học, th́ các nhà thần học càng nghiệm thấy rằng trong giáo lư về nguyên tội, ít nhất có một phần nào đó là chính thực tại phức tạp con người và xă hội đang sống qua, một thực tại không thể bỏ sót mà không lưu ư tới, hoặc trấn át đi được. V́ thế, giai đoạn hai này đă có dịp chứng kiến nhiều cố gắng có hệ thống trong lănh vực thần học để gia công tŕnh bày một mẫu giáo lư về nguyên tội làm sao để có thể đối thoại hữu hiệu với những giới hoặc những bối cảnh xa lạ với thần học, mà đồng thời không gạt bỏ vấn đề thực sự thần học ra đàng sau. Theo chỗ ngày nay được biết, th́ xem ra điểm đặc trưng của hiện trạng thần học về nguyên tội, chính là khuynh hướng phân tán xé lẻ thành nhiều h́nh thức nghiên cứu khác nhau trong cách giải thích vấn đề.
2. Những thể loại chính trong thần học hiện đại về nguyên tội
2.1 Nguyên tội: t́nh trạng liên đới trong tội lỗi (mô biểu thần học)
Hiện nay vẫn c̣n có một thể loại thần học về nguyên tội không mấy để tâm ǵ tới nổ lực tŕnh bày một cách nhận thức hướng ra "phía bên ngoài," và tới việc dùng ngôn từ triết học hay khoa học mà biểu đạt ư tưởng; nhưng trái lại, chỉ lo đưa ra một h́nh thức giải thích mới về tín điều nguyên tội cho nội bộ Giáo hội. Tiêu đích mà khuynh hướng này nhắm tới đầu tiên, là nêu bật bản sắc và tính chất liên tục của niềm tin đối với Kinh Thánh và giáo huấn của Giáo hội. Nói chung th́ phương thức nghiên cứu này đặt cơ sở trên nguyên tắc chú giải thần học chủ trương rằng cần phải phân biệt rơ giữa nội dung chính của tín điều --là phần cần phải bảo toàn-- và các thành tố lịch sử phụ thuộc. Phương thức này cũng nhấn mạnh đến sự việc có thể dựa theo ánh sáng của toàn bộ bối cảnh đức tin trong Giáo hội, để đạt tới những cách thức mới trong công tác giải thích các chân lư của đức tin. Các thần học gia người Pháp: G. Martelet và J. Bur [6][6] là những dẫn chứng tiêu biểu cho phương thức lấy các tiền đề sau đây làm tiêu chuẩn mà nghiên cứu về nguyên tội: 1) theo kiến thức khoa học ngày nay th́ con người đầu tiên đă không thể nào là Ađam của Kinh Thánh được; 2) khoa chú giải ngày nay cho thấy là đoạn tŕnh thuật về việc con người sa ngă không phải là để hiểu theo ngôn từ của văn thể lịch sử; 3) thần học đă nêu cho thấy lại tính chất duy nhất trong chương tŕnh cứu độ của Thiên Chúa.
Để dựa theo các tiền đề trên đây mà bảo toàn nội dung chính của tín điều về nguyên tội, tức là để gột bỏ những điều tưởng tượng của thần học (tân) kinh viện và của các sách bổn cổ truyền, th́, dùng đến phương thức vừa nói, các thần học gia đă tŕnh bày nguyên tội như là một t́nh trạng liên đới trong tội lỗi: một t́nh trạng khách quan gắn liền với tính chất duy nhất và đồng nhất của bản tính loài người, một t́nh trạng khởi phát từ nguyên thủy của lịch sử nhân loại. Tuy nhiên, có lấy Kitô học và cứu độ học làm khởi điểm th́ mới có thể bàn đến nguyên tội được. Trong ư nghĩa đó, giáo lư về nguyên tội nói đến bản tính loài người. Một cách nào đó, nguyên tội là bề sâu lộ diện của hiện tội con người phạm, là mẫu gốc của bản chất tội lỗi. Lợi điểm của phương thức nghiên cứu này là ở chỗ nó có thể giúp cho hiểu nguyên tội như là khởi điểm của một nhân loại toàn thể tội lỗi, và không cần phải quy gán phần trách nhiệm chính cho Ađam (tất cả đều chung gánh trách nhiệm về t́nh trạng tội lỗi ngày càng tăng thêm ở trong thế giới), cũng như không cần phải xác định cho nhân loại một tính chất duy nhất về mặt sinh học bằng cách coi Ađam là nguyên tổ con người (thuyết độc tổ). Tín điều chỉ khẳng định về tính chất hiệp nhất và liên đới của mọi người trong tội lỗi và trong ơn cứu độ. V́ thế, có thể phân biệt riêng rời các luận đề cổ truyền sau đây ra: các luân đề nói rằng mọi con người đều được kêu gọi đến nhận ơn cứu độ, và rằng họ phải chịu hậu quả của tội lỗi. Vườn địa đàng trong Kinh Thánh là một h́nh ảnh tiên tri, đặt vào lại trong quá khứ, nhưng là để làm biểu tượng chỉ về thiên đàng trong đời sống vĩnh cửu. Dục vọng, chết chóc và khổ đau là thành tố cố hữu của bản tính loài người; tuy nhiên, tội lỗi làm cho ư nghĩa của chúng bị biến đổi khác đi (tức là ra vô ích, và trở nên cay đắng, nặng nhọc hơn bội phần).
Cách giải thích mới này căn cứ nhiều vào điểm nhấn mạnh đến tính chất duy nhất và thống nhất trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa, và vào một nền Kitô học vũ trụ (đi sát với thánh Irênêô hơn là thánh Âugutinô): tâm điểm của đức tin là t́nh Thiên Chúa yêu thương, chứ không phải là tội lỗi; và việc thần hóa con người th́ chủ yếu hơn là việc giảng ḥa.
Dĩ nhiên là mô biểu thần học này không chinh phục được những người đứng ở "phía bên ngoài." Hơn nữa, thần học vẫn c̣n tranh luận về hai điểm mà lối giải thích trên đây đă dùng tới, đó là: thứ nhất, vai tṛ trung gian mà tính chất duy nhất của bản tính loài người đóng giữ; thứ hai, trách nhiệm cá nhân của mỗi người do sự việc ở giữa t́nh trạng liên đới trong tội lỗi.[7] [7] Tuy nhiên, v́ biết hiểu về tội lỗi và nguyên tội theo ánh sáng của cứu độ học, của Kitô học cũng như của kế hoạch cứu độ Thiên Chúa thực hiện, nên phương thức nghiên cứu này có một tầm quan trọng đáng lưu ư đối với bất cứ thể loại thần học nào trong tương lại muốn bàn về nguyên tội, v́ ít nhất nó cũng mang lại được một cách thức hiệu chính cần thiết cho mọi phương pháp nghiên cứu thần học đặt tội lỗi làm tâm điểm.
2.2 Nguyên tội: sức dồn thúc của cơ cấu xă hội bất công (mô biểu xă hội học)
Kinh nghiệm về tính cách dồn thúc của t́nh trạng áp bức về mặt chính trị, kinh tế và văn hóa tại Châu Mỹ Latinh đă giúp cho thần học giải phóng hiểu về tội lỗi một cách sâu rộng hơn cách hiểu có tính cách cá nhân hẹp ḥi trong thời trước công đồng. Một khi ánh sáng giải phóng của Phúc âm đă giúp cho nh́n ra thực trạng bất công xă hội toàn diện ấy với một cặp mắt mới, th́ thế tất ư niệm về tội lỗi cá nhân cũng cần phải được bổ túc cho đầy đủ bởi ư niệm về tội lỗi xă hội. Trong viễn cảnh thần học giải phóng, bất công đă thành cơ cấu trong xă hội và bạo lực là những thể loại tội lỗi trầm trọng, tội lỗi tự cơ cấu hay xă hội. Một đàng, đó là tội lỗi do hành động tội phạm của cá nhân gây ra. Nhưng đàng khác, tội lỗi loại ấy lại mang tính cách độc lập của dạng thể các cơ cấu và thể chế xă hội, đến độ có sức ảnh hưởng ngược lại, tức là cưỡng ép hành động của các cá nhân phải chịu khuất phục và tuân theo quyết định của nó. Đă phát sinh từ hai phía, th́ tội lỗi loại ấy cũng cần phải được giải phóng từ hai phía: phía hoán cải nơi từng cá nhân, và phía cải cách nơi các cơ cấu xă hội. [8][8] Việc thần học thu nạp chiều kích xă hội của con người, và cảm nghiệm cùng nhận thức rơ về mănh lực dồn thúc đến từ phía các cơ cấu xă hội bất công --như đă được phản ánh qua ư niệm về tội lỗi xă hội hay cơ cấu, -- đă giúp cho con mắt đức tin khám phá lại được những kinh nghiệm hằng nằm ở nơi gốc rễ của giáo lư về nguyên tội. [9][9]
Thật vậy, thực thể hàm chứa trong giáo lư và trong tín điều về nguyên tội là một thực thể bao gồm hai mặt:
1. Giáo lư ấy là tổng thể của một toàn bộ những kinh nghiệm căn bản về tội lỗi đă hằng đóng giữ một vai tṛ trọng yếu trong truyền thống sám hối của cả Do thái lẫn Kitô giáo. Đó là những kinh nghiệm không thể phủ nhận được, bởi v́ tất cả những ai có ḷng tin, th́ cũng đều có thể và đă thực sự cảm nghiệm được chúng. Trước hết là kinh nghiệm về sự việc ḿnh đứng trước mặt Thiên Chúa hằng sống trong tư thế của một người có ḷng tin, ư thức rằng tội lỗi và hành động tội phạm không phải chỉ tác động ảnh hưởng đến ư thức và cảm nhận của chúng ta mà thôi, nhưng c̣n đến cả chính con người của chúng ta nữa. Đúng, tội lỗi th́ đi liền gắn chặt với trách nhiệm chủ thể (cá nhân con người: ư thức tội lỗi; lương tâm). Tuy nhiên, cùng lúc tội lỗi c̣n vượt ra ngoài tầm cảm nhận chủ quan của cá nhân có về ḿnh, v́ tội lỗi c̣n có một chiều kích hữu thể sâu thẳm nữa. Đó là lư do tại sao "cảm thấy ḿnh có tội" không phải chỉ được đo lường và biểu đạt đơn thuần bằng ư thức chủ quan về tội lỗi không thôi. Việc thú nhận tội lỗi luôn luôn bao hàm hành động hoán cải và thái độ quyết chí thay đổi tâm thức. Thứ đến, c̣n có kinh nghiệm làm cho nhận ra rằng tội lỗi và hành động tội phạm không phải chỉ là việc làm của một chủ thể cá biệt riêng rẽ, và không phải chỉ dốc toàn lực của ḿnh vào trong tội phạm cá nhân không thôi, mà c̣n mang một chiều kích tập thể nữa. Tội nhân không phải đơn thuần là một cái "tôi" riêng lẽ, mà c̣n là một tập thể "chúng ta" nữa. Phạm tội là, không công khai th́ thầm kín, tiếp tay với một hành động, là hợp tác, là can dự và liên lụy. Thứ ba, là kinh nghiệm về sự việc tội lỗi và hành động tội phạm không phải chỉ là việc làm tự do của một cá nhân, hay một t́nh cảnh do cá nhân gây ra, nhưng c̣n là sức năng của ác quỷ hằng quyến rũ, áp đảo và vây hăm con người chúng ta. V́ thế, tội lỗi cũng là một thảm cảnh vướng mắc bi đát.[10] [10]
2. Khía cạnh thứ hai của việc nhận thức về tội lỗi là khía cạnh vật chất. Đó là khía cạnh đă được thu nhận vào trong ư niệm về nguyên tội, và đă được khám phá ra lại nhờ biết ư thức về tội xă hội hay tội cơ cấu. Thay v́ quan niệm về tội lỗi theo cách thức cá nhân chủ nghĩa, duy linh quá khích và trừu tượng (họ không thể nào hiểu được ư niệm về nguyên tội), th́ người ta đă khám phá lại được ngay tại trong những hoàn cảnh mới giữa xă hội, một điều ǵ đó hằng có mặt ở nơi kinh nghiệm độc đáo nhất về tội lỗi: cảm nhận ra rằng hành động tội phạm th́ như là một vết nhơ, một trạng thái ô uế phủ đầy lên trên hết mọi phạm vi cuộc sống tựa như phong hủi hoặc đồ dơ bẩn. [11][11] .
Ư niệm "tội xă hội" hoặc "tội cơ cấu," hay là "cơ cấu tội lỗi," cũng đă được một số các văn kiện gần đây của Huấn quyền dùng đến. [12][12] Và giới thần học gia Châu Âu đă thực hiện nhiều công tŕnh nghiên cứu nhằm tŕnh bày thần học về nguyên tội với thể dạng biểu đạt mới của xă hội học, dựa theo các học thuyết về sự ác đă được các khoa xă hội học, triết học xă hội hoặc nhân chủng học khai triển và đề ra.[13] [13]
2.3 Nguyên tội: tội của chế độ gia trưởng và của chủ nghĩa giới tính (mô biểu thuyết nữ quyền)
Phong trào tranh quyền cho nữ giới đă hơn bao giờ hết, chĩa thẳng mũi dùi vào chế độ gia trưởng, tức là hệ thống được thể chế hóa về mặt xă hội, kinh tế cũng như văn hóa, và được thiết đặt theo giai trật giới tính; bởi thế, đă gây ra nhiều hậu quả tiêu cực về mặt tâm lư xă hội cho cả nữ giới lẫn nam giới. Thần học nữ quyền (feminist theology) đă áp dụng cách thức phê b́nh như thế vào cả trong lănh vực của lịch sử đức tin kitô, của lịch sử Giáo hội và thần học. Tuy nhiên, thần học nữ quyền cũng đă suy tư về chế độ gia trưởng theo những cách thức mới. Trong bối cảnh ấy, một h́nh thái mới mẻ và đặc thù của thần học về nguyên tội cũng đă được khai triển.
Được đà của thần học giải phóng Châu Mỹ Latinh khuyến khích, phương thức nghiên cứu mới này đă hiểu chế độ gia trưởng và chủ nghĩa giới tính như là một thứ tội cơ cấu, hay là nguyên tội.[14] [14] Nếu hiểu theo cách thức ấy, th́ chế độ gia trưởng và chủ nghĩa giới tính không phải đơn thuần là một sự kiện thiết yếu của thiên nhiên, mà là hậu quả từ hành động tội lỗi của con người. Hành động tội lỗi ấy đă được đồng hóa với cơ cấu tội lỗi, với các cơ cấu bị bóp méo của mối tương quan giữa nam giới và nữ giới, và với nhiều loại thể chế thiết đặt theo một thứ giai trật phân biệt giới tính, để đến lượt chúng, các cơ cấu và thể chế này lại làm cho hành động của các cá nhân phải chịu điều kiện ràng buộc của ḿnh. Bởi lẽ nó ảnh hưởng lớn đến mối quan hệ giữa giới nam và giới nữ, nên tội lỗi cơ cấu phân biệt giới tính ấy có một tầm mức phổ quát: dù có ư thức hay không, th́ không một ai thoát khỏi ảnh hưởng tác động của nó. Là tội lỗi cơ cấu, nó bao trùm hết mọi lănh vực đời sống: xă hội, chính trị, kinh tế, văn hóa và cả tôn giáo nữa. Với những mức độ khác nhau, ai ai cũng đều vừa là nạn nhân vừa là tội nhân.
Dù phương thức nghiên cứu này c̣n có nhiều thiếu sót và giới hạn, th́ ít nhất thần học nữ quyền cũng mở ra cho thấy hai điểm nhận định sáng suốt (sâu sắc) về nguyên tội, có tầm quan trọng đáng kể đối với mọi nổ lực mà thần học sẽ đưa ra trong tương lai, để t́m hiểu về nguyên tội:
1. Nguyên tội bao trùm hết mọi lănh vực đời sống con người, kể cả tôn giáo. Bao lâu thiên tŕnh thuật về sự việc sa ngă và thần học về nguyên tội c̣n truyền lưu và hợp thức hóa các ư niệm nặc tính chất phân biệt giới tính và lọ lem với dấu vết chế độ gia trưởng, th́ bấy lâu kỹ thuật chú giải của thần học chưa thoát ra ngoài được để có thể lắng nghe từ phía bên kia, mà vẫn đành phải lắng nghe mạc khải giải phóng của Thiên Chúa từ phía bên này, tức là từ phía bên trong giới mức của lịch sử ghi về thân phận yếu đuối, hạn hẹp và tội lỗi của con người. Dù Thiên Chúa có gần gũi một cách đặc biệt, th́ yếu đuối, giới hạn và tội lỗi cũng vẫn là những ǵ nắn thành h́nh dạng (bi thảm) của lịch sử dân Chúa. V́ thế, ḷng trung thành đối với truyền thống Giáo hội và thần học cần phải đi đôi với nổ lực thống hối thường xuyên, cũng như với một cố gắng nghiên cứu cho chu đáo và chính xác về truyền thống. Cứ khư khư và bằng mọi giá giữ cho được lập trường biện giáo là đi ngược lại với truyền thống sám hối căn bản của Kitô giáo.
2. Những phương thức nghiên cứu mà các thể dạng thần học nữ quyền về tội lỗi và về nguyên tội dùng tới, cũng có thể được coi như là một lời báo động gióng lên để giúp đề pḥng chống lại khuynh hướng cô lập hóa và tổng quát hóa một số các nhân tố trong truyền thống đức tin và trong thần học. Sống trong cơ cấu mà toàn bộ đều được tổ chức và hướng dẫn bởi chế độ gia trưởng, tội chính của giới phụ nữ không phải là ở chỗ kiêu ngạo và tự phụ, nhưng là ở chỗ chối bỏ chính con người của ḿnh, chấp nhận đóng vai thụ động và đánh mất đi bản ngă để rơi hẳn vào trong t́nh trạng vong thân. [15][15] Như thế, trong tương lai, các dạng thể thần học về nguyên tội sẽ phải đảm nhận sứ mạng vén mở cho thấy một cách cụ thể, toàn bộ tính chất ác độc của quyền lực tội lỗi. C̣n khoa nhân loại học th́ có bổn phận phải lưu tâm đến mọi khía cạnh của đời sống con người, và phải nghiên cứu chúng một cách cụ thể ở nơi những công tŕnh qua đó chúng được thể hiện ra giữa bối cảnh lịch sử xă hội.
Theo thuyết nhân loại học của Kierkegaard chẳng hạn, th́ cuộc đời con người, tức là việc thực thi tự do chỉ hưng thịnh khi các đặc tính đối ngược nhau trong bản chất con người (cảnh ngộ tất yếu và tự do, thân phận hữu hạn và khát vọng vô biên), được nối kết ḥa nhịp với nhau thành một tổng hợp tốt đẹp. Công tŕnh tự kiện toàn chính ḿnh ấy tất không làm sao tránh khỏi được những lắng lo sợ sệt, bởi v́ việc tổng hợp các thành tố đối ngược như thế kia là một việc làm rất cam go, tựa như tiến bước theo lối ṃn dốc đứng bên bờ vực thẳm. Do đó, con người có thể gặp nhiều vấp ngă. Con người cần phải ư thức với một ḷng biết ơn, rằng là thọ tạo, con người phát xuất từ Thiên Chúa và chính là ơn của Ngài ban; và v́ thế, con người c̣n có bổn phận phải ư thức rằng ḿnh chỉ có thể đi đến chỗ chấp nhận và xác định chính ḿnh, khi biết nh́n nhận thân phận thọ tạo của ḿnh, tức nh́n nhận ḿnh là những hữu thể bất-tất yếu, những hữu thể phối ḥa nhiều thành tố đối ngược nhau: thời gian và vĩnh cửu, tất yếu và tự do. Đánh mất đi Thiên Chúa là con người đánh mất đi chính ḿnh. Xa ra khỏi Thiên Chúa, con người không c̣n có khả năng làm được ǵ khác ngoài việc sợ hăi bám chặt lấy một khía cạnh nào đó nơi bản chất của ḿnh, và biến nó thành thực thể tuyệt đối. Và như thế, tội khiếp sợ và thất vọng sẽ dẫn con người đến chỗ hoặc là tự thần thánh hóa chính ḿnh, hoặc là tự khinh miệt chính ḿnh, hay nói cách khác: sẽ làm cho con người rơi vào t́nh trạng hoặc là tuyệt vọng trong thái độ tự cao tự đại thần thánh hóa chính ḿnh, hoặc là chán chường với ảo ảnh thần thánh hóa người khác hầu nâng cao giá trị ḿnh lên ở trong người khác.[16] [16]
2.4 Nguyên tội: thái độ sợ sệt (mô biểu tâm lư)
Thời đại ngày nay thường được gọi là "thời đại của sợ sệt," và xă hội chúng ta đang sống cũng được gọi như là "xă hội của sợ sệt." Vây, nếu học thuyết triết thần của Kierkegaard về nguyên tội có thịnh hành trở lại trong một bối cảnh như thế, th́ đó cũng không phải là chuyện khó hiểu; [17][17] và c̣n có thể hiểu được lư do tại sao khoa bệnh học tâm thần cũng đă trở thành một khởi điểm mới cho công tác suy tư về các vấn đề liên quan đến nguyên tội.[18] [18]
E. Drewermann đem phối hợp hai nhân tố này lại ở trong bộ sách ba cuốn của ông mang tựa đề Strukturen des Boesen (Các cơ cấu của tội ác), là bộ sách dù dày gần hai ngàn trang, th́ chỉ trong khoảng lối mười năm nay thôi, cũng đă được tái bản đi lại năm hay sáu lần rồi.[19] [19] Dựa theo Kierkegaard, tác giả đă đưa ra luận đề cốt lơi như sau: sợ sệt chính là nguyên nhân gây ra sự ác, đặc biệt là nỗi lo sợ cho t́nh trạng thiêng liêng của ḿnh, lo sợ phải rơi vào cảnh bị tách rời xa khỏi Thiên Chúa:
"Như vậy, nội dung của toàn bộ tác phẩm ba cuốn thực ra chỉ hàm chứa có một luận đề, đó là: trong tư thế là một hữu thể có ư thức, con người không thể gánh chịu nổi một cuộc sống vắng bóng Thiên Chúa, và gánh nặng không vác nổi ấy tất phải làm phát sinh ra mọi thứ tội ác như là những hành động tự làm cho ḿnh ra tàn phế hay tự hủy hoại chính ḿnh v́ thất vọng chán chường; để diễn tả cho tích cực hơn, th́ có thể nói rằng tin vào Thiên Chúa và đạt đến được t́nh trạng quân b́nh trong nội tâm ḿnh, rồi nhờ đó mà giữ được quân b́nh với người khác cũng như với toàn bộ thế giới chung quang ḿnh: tất cả những sinh hoạt ấy chung quy cũng chỉ là một;...v́ thế, tội phạm hết thảy của con người là tại ở chỗ v́ sợ sệt, con người làm cho ḿnh ra hư hỏng đi trong một cuộc sống vắng bóng Thiên Chúa, trong nỗi lo âu sợ sệt ấy và trong cảnh cùng khốn của đời ḿnh."[20] [20]
Để miêu tả tŕnh thuật của nguồn Yahvê (J) bằng lối biểu đạt theo h́nh thức khái niệm, và để chuyển dịch ra trong ngôn từ thần học, điều nghịch biện triết học này là tội lỗi vừa mang tính chất phổ quát mà vừa kéo theo trách nhiện (cá nhân), Drewermann đă mở một cuộc đối thoại phê b́nh với Hegel và Sartre; cuộc đối thoại này đă giúp cho tác giả có được một thể dạng biện chứng tinh luyện làm khí cụ cho công tác suy tư của ḿnh; rồi tiếp đó, minh nhiên nhắc đến việc chịu ảnh hưởng của Kierkegaard, tác giả đă tŕnh bày như sau về công tác nghiên cứu và giải thích của ḿnh:
"Chung quy, mọi sự đều hệ tại ở điểm này: cần phải biết ngẫm đọc tŕnh thuật của sách Sáng Thế 3, 1-7 làm sao để hiểu đoạn tŕnh thuật ấy chính là tiểu sử của mỗi cá nhân, tức như là thiên tŕnh thuật kể lại cho thấy tại sao hết thảy mọi người đă trở thành người có tội trước mặt Thiên Chúa. Và như thế, công tác cần phải làm, là dựa theo ánh sáng của St 3 mà giải thích dữ kiện về tính cách tất yếu của tội lỗi, để qua đó, giúp cho thấy rằng tính tất yếu ấy phát xuất từ chính tất yếu tính của tự do con người, tuy nhiên, cần phải tŕnh bày làm sao để có thể hiểu rằng không như Hegel nghĩ, tính tất yếu ấy chính là tội phạm trước mặt Thiên Chúa." [21][21]
Lối giải thích (theo kiểu Kierkegaard) coi tội lỗi như là hành động tự hủy hoại tự do của chính minh đi, như là gông cùm tự do dùng để tự trói buộc ḿnh lại v́ sợ tự do, một đàng giúp cho nhận rơ ra tính chất bất tất yếu của sợ hăi (thất vọng, tội lỗi): cuộc hiện hữu sẽ định đoạt lấy về ḿnh trong mối tương quan với Thiên Chúa; thất vọng nói lên thái độ lăng quên Thiên Chúa, thế nên, thất vọng là tội lỗi, bởi v́ đó chính là hậu quả phát sinh từ hành động của bản ngă, của tinh thần. Nhưng đàng khác, khái niệm của Kierkegaard về thất vọng cũng cho thấy rơ tính cách tất yếu của tội lỗi: hành động tự do tự hủy hoại tất phải xảy đến v́ khi chỉ biết liên hệ với (nghĩ đến) chính ḿnh, th́ con người không c̣n liên hệ với Thiên Chúa. V́ thế, có biết dựa vào thần học và đức tin, th́ mới t́m thấy được câu giải đáp cho vấn đề:
"Chỉ có đức tin mới nhận ra được thái độ thất vọng xem ra tất yếu ấy là tội lỗi; v́ chỉ có đức tin mới có thể làm cho con người hiểu được rằng một khi có thái độ thất vọng, là con người thiếu mất Thiên Chúa, và rằng trong t́nh trạng vắng bóng Thiên Chúa như thế, con người tất phải sa ngă và lỗi phạm." [22][22]
Giải thích như thế th́ thật là hấp dẫn. Tuy nhiên, nó vướng mắc phải tai họa của cái vấn nạn nan giải không ai là không biết. Một đàng, th́ sợ sệt xảy ra trước khi con người sa ngă rời bỏ Thiên Chúa; và cho là có một mối liên hệ tất yếu giữa hai sự việc (=sợ sệt tất phải dẫn đến sa ngă) để kết luận cho rằng như thế là đă có trách nhiệm về lỗi phạm (=...tất phải sa ngă th́ làm sao có tự do để chịu trách nhiệm, để có tội?). Đàng khác, nếu mối liên hệ kia là không tất yếu, th́ lời xác định về phổ quát tính của việc sa ngă chỉ là một lời khẳng định suông. Nếu từ nguyên khởi, sa ngă đă xảy ra trước sợ sệt, th́ xem ra người ta có thể với một số điều kiện (chẳng hạn như là: tính chất duy nhất của giống loại loài người) giải thích cho thấy tính chất phổ quát của t́nh trạng thất vọng. Tuy nhiên, trong trường hợp này, tội thất vọng lại trở thành một vấn đề cần phải giải thích! Nếu mối liên kết giữa sa ngă và sợ sệt không thể được áp dụng cho lúc khởi nguyên của lịch sử nhân loại, mà chỉ được áp dụng cho trường hợp của từng người thôi, th́ lúc đó tính chất phổ quát của việc sa ngă lại trở thành một vấn đề c̣n chưa giải quyết!
2.5 Nguyên tội: t́nh trạng phân rẽ và trơ ĺ (mô biểu vũ trụ-siêu h́nh học)
Khi bắt đầu đối thoại với các khoa tự nhiên học, hay hấp thu được thái độ chung trong xă hội loài người là mong thấu rơ được về tính chất liên đới thống nhất trong toàn bộ thực tại, th́ thần học hiện đại cũng đă phải nhận thấy ngay rằng thực sự phần lớn ngành thần học về nguyên tội đang đi quá sâu vào trong con đường quy nhân và cá nhân chủ nghĩa. Để có thể dùng ngôn từ thần học mà biểu đạt kinh nghiệm mới mẻ ấy về tính chất thống nhất của thực tại, biểu hiện qua tính chất thống nhất của nhân loại học, vũ trụ học và thần học, th́ cần phải h́nh thành cho giáo lư về nguyên tội một mô dạng vũ trụ học hay siêu h́nh học. Mối quan tâm ấy đă làm phát sinh nên một mẫu thần học biệt thể về nguyên tội.
Tạm gác lại một bên các nổ lực t́m hiểu về sự ác trong vũ trụ bằng cách lấy lại giáo lư về thiên thần và ma quỷ (các cố gắng này vẫn c̣n nằm ngoài lề, cho dù đến nay cũng chưa được bàn luận ǵ cho đầy đủ cả), [23][23] để ở đây chỉ xin bàn đến công tŕnh nghiên cứu của P. Teilhard de Chardin: đó là một phương thức đă gây được ảnh hưởng hết sức rộng lớn và quan trọng; phương thức này đă tŕnh bày giáo lư về nguyên tội theo một lối diễn đạt mới, theo mô dạng của học thuyết tiến hóa.[24] [24] Khi thế giới vô cơ, hữu cơ và tâm linh được nhăn quan tổng hợp phát xuất từ tính cách biến hóa trong vũ trụ, quy tập thành một, th́ các nhân tố tiêu cực trong mỗi lănh vực (tức là t́nh trạng hỗn độn, khổ đau và tội lỗi trong thế giới) tất cũng phải được quy tập thành một. Bởi v́, cũng như đă len qua con đường đó mà trở thành một sắc diện trong toàn bộ thực tại tiến hóa, th́ sự ác cũng mang lấy một tính chất phổ quát toàn diện. Và như thế, sự ác xuất đầu lộ diện ra trong toàn bộ thực tại tiến hóa ấy dưới những dạng thái cụ thể: một mặt, th́ sự ác chỉ c̣n là thực tại phức hợp chưa được thống nhất và tất thiết phải là thành phần trong quá tŕnh tạo dựng của một thế giới tiến hóa; nhưng mặt khác, với đà tiến của tự do trong lịch sử tiến hóa, sự ác lại mang dạng thái từ chối, trơ ĺ, phân rẽ, thoái bộ và ngập ngừng trong tiến tŕnh thống nhất vũ trụ. Nếu Đức Kitô là Nguyên thủy và là Chung cục (Alpha và Omega) của tiến tŕnh ấy, th́ tội lỗi là bước ly khai rời khỏi mối quan hệ ấy. Cho đến nay, dù đă thường được rộng răi chấp nhận,[25] [25] th́ cũng như các mô mẫu thần học khác, công tŕnh nghiên cứu của Teilhard de Chardin vẫn c̣n gặp phải nhiều giới hạn và những khó khăn riêng của ḿnh.[26] [26] Tuy nhiên, không ai c̣n có thể chối căi được rằng một nền thần học về nguyên tội mang tích cách hầu như thuần túy quy nhân, cá nhân chủ nghĩa, chủ quan và duy tâm, th́ không thể có được khả năng để thống nhất những kinh nghiệm căn bản của lịch sử đức tin như đă được Kinh Thánh xác chứng; đó là hoàn toàn chưa nói đến sự việc duy nhất tính của Thiên Chúa, thống nhất tính của công tŕnh tạo dựng và đồng nhất tính của sự ác, không cho phép đề ra một giáo thuyết về nguyên tội mà không lưu ư đến tính chất vũ trụ trong thế giới loài người.
3. Nh́n về tương lai
Dù đă nghiên cứu và tái phát hiện cả một phạm vi rộng lớn trong nội dung căn bản của giáo lư về nguyên tội, th́ thần học ngày nay cũng vẫn chưa t́m ra được một mô mẫu thần học có đủ khà năng để giải thích cho đồng nhất về giáo lư ấy. Ngược lại, sự kiện có nhiều cố gắng và công tŕnh nghiên cứu khác nhau như vậy, cho thấy rơ là hiện nay, chưa có được một phương pháp nghiên cứu hoàn chỉnh và rành mạch. Trước hết, khó mà có thể làm cho những khía cạnh, những mô mẫu và những phương thức nghiên cứu khác nhau ḥa giải được với nhau, chứ đừng nói chi đến chuyện dung hợp chúng lại làm một với nhau. Có thể lấy thần học làm khởi điểm nghiên cứu, nhưng lúc đó mối nguy sẽ là khuynh hướng làm cho con người và tội lỗi con người đánh mất hẳn đi tính chất vũ trụ; cũng có thể lấy vũ trụ học làm khởi điểm, nhưng rồi bản tính đặc thù của con người sẽ gặp cơ nguy tiêu tán mất đi; hoặc cũng có thể lấy khởi điểm từ trong thần học về công tŕnh tạo dựng, nhưng lúc đó mức độ trầm trọng của tội lỗi và tầm cỡ lớn lao của công tŕnh cứu độ sẽ bị che khuất dần đi; lại nữa, cũng có thể đặt giáo lư về tội lỗi và về ơn cứu độ làm khởi điểm, nhưng lúc đó sẽ có nguy hiểm là không c̣n thấy được tính chất thống nhất của thế giới và của lịch sử loài người nữa. Có người sẽ đi theo hướng chỉ đạo của thánh Âugutinô, nhưng lúc đó thánh Irênêô và các giáo phụ Hy lạp sẽ bị để ra một bên. Hoặc ngược lại, có người sẽ chọn các giáo phụ Hy lạp làm khởi điểm, nhưng lúc đó sẽ khó mà dung hợp được với cả một trào lưu lâu bền của truyền thống Âugutinô.
Nếu trong thần học, không có một đà suy tư mới về nền tảng và phương pháp nghiên cứu, th́ dĩ nhiên là không thế nào giải quyết cho xong được những vấn đề thần học về nguyên tội đặt ra. Các giải đáp đề ra có khác nhau như thế, th́ chính là v́ --như ai cũng có thể ức đoán ra được --chúng xuất phát từ những phương pháp xây dựng trên những tiền đề giả định khác hẳn nhau. Điều mà chúng ta đang cần đến, là một hệ thống lôgíc hay kư hiệu học thích đáng hơn trong lề lối thiết lập các công thức thần học, hầu tạo điều kiện tiên quyết cho việc xây dựng một khoa chú giải thần học tinh vi và đầy đủ hơn. Dù sao đi nữa, ngày nay thần học có bổn phận cần phải lưu ư phân biệt cho rơ hơn ngày trước, về các b́nh diện khác nhau trong thực tại: các kinh nghiệm tôn giáo, các cách thức tượng trưng cũng như thực tiễn dùng để biểu đạt chúng, và các công tŕnh suy tư diễn dịch về mặt khái niệm cùng lư thuyết. Các công thức tín lư do truyền thống Tây phương khai triển, thường mang những dạng thái hỗn tạp và v́ thế dễ bị hiểu lầm. Cũng cần phải phân định cho rơ ràng hơn những chức năng khác nhau của các tuyên ngôn tôn giáo hay các khoản giáo lư. Và nhất là cần phải suy nghĩ cho chu đáo hơn nữa về các giả thiết được dùng làm tiền đề cho việc nghiên cứu lịch sử và cho việc thiết đặt lư thuyết nhận thức. Thí dụ, một khi đă lấy các phân biệt căn bản được truyền thống Tây phương nắn đúc nên làm khởi điểm, th́ cần phải dùng đến chúng cho tới cùng; chẳng hạn như là việc phân biệt giữa tự do và thiếu tự do, giữa tội lỗi và vô tội, giữa t́nh trạng được cứu độ và kiếp trầm luân, giữa định mệnh và tự do, giữa rủi ro và tội phạm, v.v.; v́ có thế --tức là có dùng ngôn ngữ kư hiệu học như thế --th́ mới thấu hiểu ư niệm về mối liên hệ giữa ách nô lệ tội lỗi mà mọi người phải gánh chịu, và tự do con người, qua khái niệm về nguyên tội được. [27][27] Đàng khác, nếu khởi điểm được chọn là những phương pháp nhận thức bổ túc cho nhau cọng với hợp lư tính và tất yếu tính đặc thù của kiểu suy luận thần thoại,[28] [28] th́ lúc đó, ngay cả những nhân tố "thần thoại" trong giáo lư về nguyên tội cũng giữ vững được hiệu lực hay giá trị của ḿnh về mặt lư thuyết. Dù sao, nếu không có được một phương pháp thần học hoàn toàn đổi mới, th́ cũng chẳng có thể xây dựng được một nền thần học về nguyên tội khả dĩ ứng đáp thỏa đáng cho các đ̣i hỏi của kỹ thuật luận thuyết.
17][17] Xin xem H. Deuser, Kierkegaard: Die Philosophie des religioesen Schriftstellers, Ertraege der Forschung 232 (Darmstadt, 1985); G. Freund, Suende im Erbe: Erfahrungsinhalt und Sinn der Erbsuendenlehre ( Stuttgart, 1979); R.L. Perkins, ed., International Kierke- gaard Commentary: The Concept of Anxiety (Macon, Ga., 1985); P.L. Quinn, "Does Anxiety Explain Original Sin?" Nous 24(1990)227-244.
18][18] Xin Xem E. Drewermann, Psychoanalyse und Moraltheologie, I: Angst und Schuld (Mainz, 1982); L.P. Bridgeman và J.D. Carter, "Christianity and Psychoanalysis: Original Sin - Oedipal or Pre-oedipal," Journal of Psychology and Theology 17(1987)3-8; P.C. Vitz và J. Gartner, "Christianity and Psychoanalysis. Part 1: Jesus as the Anti-oedipus," Journal of Psychology and Theology 17(1987) 4-14; P.C. Vitz và J. Gartner, "The Vicissitudes of Original Sin: A Reply to Bridgeman and Carter," Journal of Psychology and Theology 17(1989)9-15.
[19][19] E. Drewermann, Strukturen des Boesen. I: Die jahwishtische Urgeschichte in exegetischer Sicht; Paderborn theologische Studien 4 (Paderborn, 1977) [tái bản lần 6, 1987]; II: Die jahwis- tische Urgeschichte in psychoanalystischer Sicht, Paderborn theo- logische Studien 5 (Paderborn, 1977) [tái bản lần 5, 1985]; III: Die jahwistische Urgeschichte in pholosophischer Sicht, Paderborn theologische Studien 6 (Paderborn, 1977) [tái bản lần 5/6, 1986/1988].
20][20] Drewermann, Strukturen des Boesen, III, lxi.
21][21] Drewermann, ibid. 427.
22][22] Drewermann, Strukturen..., III, 502.
[23][23] Xin xem R.J. Pendergast, "The Shattered Mirror: Sin in the Cosmos," Sciences et Esprit 22(1970)203-239; L. Oeing-Hanhoff, "Die Philosophie und das Phaenomen des Boesen," trong K. Forster, ed., Realitaet und Wirksamkeit des Boesen (Wuerzburg, 1965)37-68; L. Oeing-Hanhoff, "Negativitaet und Boeses in philosophischer Sicht," trong L. Oeing và W. Kasper, Negativitaet und Boeses, Christlicher Glaube in moderner Gesellschaft 9 (Freiburg, Basel, Wien, 1981)150-175; A. Plantinga, The Nature of Necessity (London, 1974)191tt.
24][24] Xin xem K. Schmitz-Moormann, Die Erbsuende: Ueberholte Vorstellung und bleibender Glaube (Olten, Freiburg, 1969); M. Sievernich, Schuld und Suehne in der Theologie der Gegenwart, Frankfurter Theologische Studien 29, 2nd ed. (Frankfurt, 1983)143-184.
25][25] Xin xem chẳng hạn, Z. Alszeghy và M. Flick, "Die Erbsuende in evolutiver Sicht," Theologie der Gegenwart in Auswahl 9(1966)151-159; K. Rahner, "Erbsuende und Evolution," Concilium 3(1967)459-465; id. "Evolution-Freiheit-Erbsuende," Zeitwende 56(1985)17-30. Tuy có theo một đường hướng khác, th́ một cách thức nghiên cứu tương tự cũng đă được Thần học Tiến tŕnh (Process Theology) ở Mỹ dùng đến: xin xem J.B. Cobb, Jr. và D.R. Griffin, Process Theology: An Introductory Exposition (Philadelphia, 1976); D.R. Griffin, God, Power and Evil: A Process Theodicy (Philadelphia, 1976); N. Pittenger, Cosmic Love and Human Wrong (New York, 1978); M.L. Whitney, Evil and the Process God, Toronto Studies in Theology 19 (New York và Toronto, 1985). Theo tôi biết, th́ chưa có một công tŕnh nghiên cứu nào bàn về nguyên tội theo nhăn quan đối thoại trực tiếp với các tôn giáo mang tính chất vũ trụ, tại Châu Á và Châu Phi
26][26] Xin xem tác phẩm phê b́nh của F. Schupp, Schoepfung und Suende. Von der Verheissung einer wahren und gerechten Welt, vom Versagen der Menschen und vom Widerstand gegen die Zerstoerung (Duesseldorf, 1990)501-587.
28][28] Xin xem K. Huebner, Die Wahrheit des Mythos (Munich, 1985)