Nguyễn Thế Minh chuyển ngữ.
Từ lối hai ba thập kỷ trở lại đây, vấn đề "Tội nguyên tổ" (tội tổ tông, nguyên tội) đă trở thành đầu đề bàn thảo sôi nổi và sôi bỏng giữa giới thần học gia trong Giáo Hội. Việc đặt lại vấn đề này chỉ liên hệ tới cách hiểu tín điều về nguyên tội, chứ không trực tiếp đụng chạm ǵ tới nội dung chân lư của tín điều. Trong quá khứ, v́ thiếu phân biệt cho rơ, nên những ǵ cách hiểu, lối giải thích và quảng diễn tín điều về nguyên tội tŕnh bày, đă dần dần được coi như là chính giáo lư minh định của Giáo hội.
Các lư do đưa dẫn tới việc đặt lại vấn đề về nguyên tội có thể được thu gọn vào trong ba lănh vực chính: khoa học, Kinh thánh và thần học. Dù chưa hoàn toàn chắc chắn và đầy đủ, th́ những phát hiện mới của khoa học, đặc biệt là của các khoa cổ sinh vật học và nhân loại học, cũng đă giúp cho con người ngày nay biết nhiều điều hơn về nguồn gốc của vũ trụ và loài người, và v́ thế, cũng đ̣i con người thời nay phải có một tầm nh́n lịch sử sao cho mới mẻ, rơ ràng và chính xác hơn. C̣n đối với. Kinh Thánh, th́ khoa chú giải được khoa khảo cổ học hỗ trợ mạnh mẽ, cũng đă tiến những bước thật dài và đă t́m ra những tiêu chuẩn phân định tinh vi hơn, chẳng hạn như là nguyên tắc giải thích theo những thể văn khác nhau được dùng trong các sách của Kinh Thánh; v́ thế, không c̣n có thể cứ khăng khăng t́m cách giải thích Kinh Thánh theo kiểu "văn tự", hoặc như là một "bộ sử kư" ghi lại các sự việc không thiếu một chấm một phẩy được nữa. Rồi đến lượt cả thần học nữa: càng ngày các nhà thần học càng nhận thấy rằng cách tŕnh bày nguyên tội theo lối cổ điển có thể gây thương tổn nặng đến tính chất duy nhất của nhiệm cục cứu độ mà Thiên Chúa đă quyết định tiến hành trong Đức Kitô, là tâm điểm của lịch sử nhân loại và là Đấng trung gian có một không hai giữa Thiên Chúa và loài người. Lấy lư ǵ mà làm như là Đức Kitô chỉ giống một người thợ máy đến để "sửa chữa" những "hư hỏng" do Ađam đă lỡ gây ra cho kế hoạch nguyên khởi của Thiên Chúa! Thế th́, nếu Ađam đă chịu ngoan hơn một chút, hẳn Ngôi Hai khỏi có cần phải Nhập Thể cực nhọc, hoặc là phải chết trên thập giá nhốc nha như vậy làm chi! Nhưng từ đầu anpha đến cuối ômêga, kế hoạch của Thiên Chúa duy chỉ có một, không đổi thay, sai chậy, không hề hấn, sứt mẽ.
Trước t́nh cảnh chuyển biến nói trên, có thể mục kích nhận ra hai loại thái độ chính, đó là: lặng thinh và nói ra. Lặng thinh v́ không c̣n tin chi nữa vào "những chuyện nhảm nhí các cụ xứ già thường kể"; lặng thinh v́ không c̣n cho giáo lư về nguyên tội có một tầm cở quan trọng nào đối với đời sống đức tin kitô; hoặc là v́ không dám đá động tới một vấn đề rắc rối c̣n quá xương xẩu như thế. Nói ra cũng có nhiều cách để nói: nói để tố giác, để bài bác một học thuyết cầm chắc là nguy hại lẫn buồn cười, đă được một "đầu nậu bất lương" (thánh Augutinô!) dựng đứng đặt bịa ra; nói ra để tiếp tục tŕnh bày giáo lư nguyên tội theo lối cũ, v́ không hề hay biết ǵ đến những nghiên cứu và khám phá mới trong thần học thời nay, hoặc là v́ sợ bị "lạc đạo" nếu có phải tŕnh bày theo một cách thức nào đó khác đi; cuối cùng, nói ra với tất cả tinh thần tùng phục đối với Huấn quyền, nói ra để đào sâu, để thấu hiểu Kinh Thánh và giáo điều đă được minh định, cho đúng với chân lư mạc khải hơn, cũng như để cách thức tŕnh bày giáo lư được chặt chẽ, phù hợp hơn với toàn bộ các vấn đề trong thần học, với yêu cầu của khoa học hiện đại, và với năo trạng của người thời nay, nhất là của giới trẻ; v́ có như thế, mới ḥng tránh được không ít những nghi vấn, những nghi hoặc - nếu không nói là khủng hoảng - có thể bùng lên xâu xé ḷng tin của người kitô.
Nói ra như thế không phải là v́ cho rằng vấn đề đă được hoàn toàn giải đáp sáng tỏ. Nếu có nhiều điểm đă được soi sáng, th́ cũng c̣n nhiều điểm giả thiết khác đang nằm trong ḷ thử nghiệm của cộng đoàn Giáo hội, chờ thời gian đánh giá, chờ Huấn quyền của Giáo hội thẩm định. Khám phá và khai triển nội dung giáo lư đức tin chính là thế! Và đó là điều cần thiết và hằng được theo đuổi suốt trong tiến tŕnh dài của lịch sử Giáo hội, kể từ thời các Tông đồ.
Bài viết sau đây của Philippe Bacq chỉ muốn đơn thuần đề ra cho các người dạy giáo lư, một cách thức - giống như là một thí dụ - để thử tŕnh bày về những điểm chủ yếu trong phần giáo lư liên quan đến nguyên tội, chứ không chủ ư bàn tới vấn đề một cách sâu rộng, với hết mọi chiều kích thần học.
NTM.
![]()
Philippe Bacq
Tác giả là một linh mục Ḍng Tên, hiện làm giám đốc Trung tâm Lumen Vitae, bên Bỉ. Đây là bài viết đăng trong Tạp chí Lumen Vitae, số VT 45 (1990) 377-393.
Nếu thực sự có một vấn đề trời tru đất diệt, không ai dám đề cập tới, không ai ưa đả động ǵ, th́ đó chính là vấn đề nguyên tội (tội nguyên tổ/tội tổ tông). Tin rằng Thiên Chúa đă trực tiếp dựng nên Ađam và Evà, là tức khắc phải đối đầu với cả một vấn đề hết sức rắc rối rồi. C̣n tin rằng hai ông bà nguyên tổ đă truyền lưu cho con cháu về sau cả một tội trạng được coi như là câu giải đáp cho những tai họa khốn đốn đang dồn dập trút đổ xuống trên đầu nhân loại, th́ đó là chuyện c̣n quá đáng hơn nữa: không thể nào chịu nổi được! Hễ cứ mạo hiểm tŕnh bày vấn đề như thế, là giáo lư viên sẽ đau đớn nắm chắc phần bại. Và không riêng ǵ cá nhân giáo lư viên, mà cả tính cách đáng tin của Giáo hội và niềm tin vào Thiên Chúa là Cha của Đức Giêsu Kitô, cũng chuốc lấy luôn thảm bại nữa.
Do đó, cần phải t́m cho ra cách thức để thấy rơ, hay ít ra là để mở một lối đi khả dĩ giúp nhận ra được phương hướng trong một vấn đề hiện đang gặp phải rất nhiều nghi vấn do người thời nay đặt ra[i][1].
Quan điểm cổ truyền
Có thể đọc thấy giáo thuyết cổ truyền này trong (các) Sách Giáo lư (Sách bổn/ Catéchisme), là tập cẩm nang đă từng đóng góp lâu dài cho việc đào luyện hàng loạt thế hệ người kytô trước thời Công đồng chung Vaticanô II. Căn bản của nội dung cuốn giáo lư này bắt nguồn từ Công đồng chung Trentô (1545-1563) [ii][2]. Xin nhắc lại các điểm chủ yếu của giáo huấn ấy một cách vắn tắt như sau:
Thiên Chúa đă tạo dựng Ađam và Evà, là hai thủy tổ của loài người: Ngài đă tạo dựng ông bà trong t́nh trạng ơn sủng với hạnh phúc về cả phần hồn lẫn phần xác, và đă đặt ông bà ở trong vườn địa đàng. Ngài đă ban cho ông bà ơn thánh sủng, nhờ đó họ được làm con Thiên Chúa, được quy hướng về với cứu cánh tối hậu, tức là về với t́nh trạng được hưởng kiến và thấu hiểu Ngài đời đời trên thiên đàng. Thiên Chúa cũng ban cho những ơn huệ ngoại thường làm cho ông bà tránh khỏi t́nh trạng ngu dốt, khỏi bị nghiêng chiều về phía sự ác, cũng như khỏi phải chịu cảnh khổ đau và chết chóc. Ông bà phải truyền lưu t́nh trạng ấy cho toàn thể miêu duệ của ḿnh về sau.
Nhưng Ađam đă không tuân thủ một huấn lệnh nghiêm cách của Thiên Chúa: ông đă phạm một lỗi nặng, tội bất phục tùng và kiêu căng. Do đó, ông đă đánh mất ơn thánh sủng cũng như các ơn ngoại nhiên, và đă truyền lưu t́nh cảnh này đến các thế hệ con cháu của ḿnh. T́nh trạng này được gọi là nguyên tội (tội tổ tông/tội nguyên tổ), bởi v́ nó không phải do một hành động của ư chí cá nhân mà có, nhưng là do nguồn gốc phát sinh ra con người, và bởi v́ nó theo con đường di truyền bản tính loài người mà lưu chuyển đến mọi thế hệ nhân loại. Tuy nhiên, nhờ chấp nhận chịu đau khổ và chịu chết trên thập giá, Đức Giêsu Kitô đă chuộc tội và mang lại ơn cứu độ cho mọi người. Bí tích rửa tội ứng dụng công nghiệp của Đức Kitô cho con người, và giải phóng con người khỏi t́nh trạng tội lỗi bẩm sinh của ḿnh. Dù vậy, con người vẫn c̣n mang đậm dấu vết của nhục dục hằng quyến rũ con người đi theo đường ác.
Đại để là thế. Đúng: những vấn nạn đặt ra th́ nhiều và tế nhị. Chẳng hạn: việc phân biệt (hoặc phân chia) giữa hồn và xác, giữa tự nhiên và siêu nhiên, có giá trị ǵ? Phải hiểu thế nào về điểm giáo lư liên quan tới việc chuộc tội và ứng dụng công nghiệp của Đức Kitô cho con người? Nhưng xét theo phương diện dạy giáo lư, th́ đó không phải là những vấn nạn khó khăn nhất gặp thấy ngay từ đầu. Nhưng là chính "câu chuyện" thuật về ông Ađam và bà Evà; rồi từ đó, cả tính chất có căn cứ của Kinh Thánh cũng bị ngờ vực luôn. Kể lại câu chuyện như thế chỉ là việc làm đơn giản, nhưng khổ nỗi là khó mà làm cho người ta nuốt trôi được. V́ thế, vấn đề tiên quyết nhất thiết cần phải đặt ra là: cho tới mức nào, chúng ta có bổn phận phải tin vào một giáo thuyết xem ra đă quá lỗi thời như thế? Có thể thay đổi giáo thuyết đó đi được không? Nếu có, th́ cần phải làm theo những tiêu chuẩn nào?
Tính chất tương đối của các biểu đề “định thức- đức tin” (énoncés de la foi)
Thông thường th́ các tín điều được coi là không thay đổi. Chúng biểu đạt sự việc Thiên Chúa mạc khải chính ḿnh ra cơ mà? Chúng đă chẳng được chính đặc ân bất khả ngộ của Giáo hội đảm bảo cho đó sao? Tuy nhiên, chính Huấn quyền của Giáo hội cũng đă t́m cách điều ḥa hầu làm cho lối suy luận duy văn tự kia (fondamentaliste) giảm dịu bớt đi. Công đồng chung Vaticanô II cũng như Tuyên ngôn Mysterium Ecclesiae [iii][3]đă đề ra một lối phân biệt chủ yếu: phân biệt giữa một bên là ư nghĩa của các công thức tín lư, một ư nghĩa "măi măi trung thực và đồng nhất với chính ḿnh", và bên kia là h́nh thức diễn đạt Mạc khải, một h́nh thức mang tính chất tương đối, tức là lệ thuộc vào một thời đại lịch sử nhất định. Và như thế, có thể xảy ra là "chân lư trong một tín điều thoạt đầu chỉ được biểu đạt một cách chưa đầy đủ - chứ không phải là sai lạc -, rồi về sau, nhờ được nhận định lại trong một bối cảnh sâu rộng hơn của đức tin hoặc của các hiểu biết nhân bản, mới được tŕnh bày một cách trọn vẹn và đầy đủ hơn". Vai tṛ của thần học gia chính là ở chỗ biết "nêu rơ giới mức chính xác của chủ ư giáo huấn thực sự tiềm ẩn ở trong các công thức giáo lư khác nhau".
Văn bản trên đây sẽ làm kim chỉ nam cho đường hướng suy tư của chúng ta. Không có ǵ buộc người kitô phải đem hết tinh thần "sao y bản chánh" mà cố khư khư giữ nguyên lối quảng diễn giáo lư được dùng tới ở trong "cuốn sách bổn đồng ấu" cả. Trái lại, người kitô được mời gọi để biết rút ra những ǵ Giáo hội thực sự muốn chỉ dạy cho ḿnh qua một h́nh thức tŕnh bày có thể là quá độ. Để làm như vậy, người kitô có thể dựa theo những hiểu biết nhân bản đă trở thành sâu rộng hơn trong thời nay. V́ thế, trong khi giảng giáo lư, giáo lư viên có thể dùng đến các dữ kiện khoa học mới mẻ. Hơn thế nữa: đó c̣n là khởi điểm mà giáo lư viên phải nắm lấy để xử dụng lúc bắt đầu tŕnh bày giáo lư; nếu không, th́ ngay từ đầu, giáo lư viên sẽ mất hết uy tín đối với cử tọa đang nghe ḿnh, và đưa họ đến chỗ quy kết cho rằng đúng là có một mối tương phản sừng sững đứng chặn ở giữa đức tin của Giáo hội và những ǵ họ học biết được từ chỗ khác. [iv][4]
Quan điểm của các khoa học hiện đại
Vậy th́, ngay từ khởi điểm, chúng ta chấp nhận thuyết "Big Bang" điển h́nh (vụ nổ lớn, lúc vũ trụ bắt đầu thành h́nh), cho dù thuyết này vẫn chưa hoàn toàn ngă ngũ, [v][5]và cả thuyết sinh vật tiến hóa trên mặt đất nữa. [vi][6]Các thuyết này tiếp nối và bổ túc cho nhau. Từ lúc những hạt nhân hiđro và heli đầu tiên thành h́nh chỉ lối một giây sau vụ nổ ban đầu xảy ra cách đây khoảng mười lăm tỷ năm, cho tới khi con auxtralopitec (vượn phương nam),- có thể được coi như là ông tổ loài người - xuất hiện trên trái đất cách đây gần ba triệu sáu trăm ngàn năm, đă thực sự có một quá tŕnh tiến triển tiếp diễn liên tục. Qua nhiều cuộc biến đổi liên tiếp và trèo dần từng bước lên trên những bậc cấp khác nhau ngày càng phức tạp hơn, các nguyên tố đầu tiên đă sinh ra vũ trụ, rồi đến các sinh vật trên trái đất, rồi đến loài người như vẫn c̣n thấy ngày nay. Không mục kích thấy một khúc gián đoạn nào ở trong quá tŕnh tiến hóa dài dằng dặc kia, mà chỉ liên tiếp nhận thấy những ngưỡng đánh dấu đà phát triển ngày càng phức tạp thêm lên. Mỗi chặng tiến hóa đều cho thấy là cần thiết cho chính cái lúc nó xảy ra, để rồi khi tới lượt ḿnh, loài người có đủ điều kiện mà xuất đầu lộ diện.7 [vii][7] Đâu là nguồn gốc của nhân loại? Chắc chắn là loài người đă phát nguyên từ một loài giống (phylum) tiến hóa duy nhất, từ cùng một chủng loại duy nhất. Bằng chứng là hết thảy mọi chủng tộc hiện sống trên trái đất đều có thể truyền sinh làm cho nhau thụ thai được cả. Nhưng đằng khác, cũng hầu như chắc chắn là loài người đă không phát nguyên từ một "đôi uyên ương" duy nhất (như giả thuyết độc tổ - monogénisme - vẫn chủ trương), mà nói cho đúng hơn, là từ cùng một giống tộc rộng hơn (theo chủ trương của giả thuyết đa tổ: polygénisme).
Những điều kiện về gien (conditions génétiques) cần hội đủ để toàn thể nhân loại phát nguyên từ cùng một "đôi uyên ương" nguyên sơ độc nhất th́ thực sự quá đặc biệt và khó mà có thể có được, đến độ "họa hiếm lắm lắm mới gặp thấy". [viii][8] Nhóm người giống tộc này đă từ từ thành h́nh sau một tiến tŕnh dài có thể là tới hàng trăm ngàn năm. Báo Nature phát hành ngày 17 tháng 2 năm 2005 đă công bố: giống người khôn ngoan - Homo sapiens – đă xuất hiện cách đây 195.00 năm và có thể c̣n xa xưa hơn nữa… (In the study, scientists from the University of Utah and elsewhere say Omo I actually lived about 195,000 years ago -- the earliest known member of our species Homo sapiens).
V́ thế, không thể nào xác định cho chắc chắn và rơ ràng được là con người đă xuất hiện từ bao giờ. Thật vậy, nếu việc phát minh các đồ dùng đánh dấu một mức ư thức đă đạt đến một độ tiến hóa khá cao, th́ cũng vẫn chưa có thể xác định ǵ được về quá tŕnh biến hóa chậm chạp trước đó, tức là thời gian mà các động vật linh trưởng (động vật thuộc bộ khỉ: primates), thường được coi là nguồn gốc xa xưa của loài người, chỉ mới đạt tới được một mức ư thức c̣n rất thô sơ, chưa đủ sức mà để lại những dấu vết đặc thù khả dĩ tạo cho những cố gắng sưu tầm ngày nay có cơ may nhận ra lại được.
Đó là những kết luận chính rút ra từ hiện trạng hiểu biết của các ngành khoa học ngày nay. Và dĩ nhiên là các kết luận này sẽ gióng lên cho lề lối tŕnh bày đức tin theo kiểu "sách bổn" cổ điển, một câu hỏi hết sức căn bản. Tin rằng từ ban sơ, Thiên Chúa đă dựng nên một cặp uyên ương "trưởng thành sẵn", và Ngài đă ǵn giữ họ cho khỏi ngu dốt, khỏi bị hướng chiều về con đường ác cũng như cho khỏi khổ đau và chết chóc; tin rằng đôi uyên ương đó đă phạm tội, và loài người phát sinh từ họ,[ix][9] sẽ phải gánh chịu t́nh trạng thất sủng (état de disgrâce): là chuyện không thể tưởng tượng nổi đối với đầu óc của đại đa số những người thời nay.
Vậy phải hiểu sứ điệp Kinh Thánh như thế nào?
Cần phân biệt rơ giữa các khoa học thực chứng và thần học.
Trước tiên, cần phải biết phân biệt rơ giữa các khoa học thực chứng và thần học.[x][10]Bởi v́ hai lănh vực này có hai mức độ khác nhau trong cách kiểu nhận thức thực tại: Khoa học thực chứng th́ phân tích các đợt diễn biến xảy ra kế tiếp nhau trong quá tŕnh tiến hóa, rồi giải thích cũng như t́m cho thấy các nguyên nhân làm phát sinh ra các hiện tượng nghiên cứu, và đưa ra những giả thiết nắm được nhiều hay ít phần chắc là tùy mức độ đánh giá trong b́nh diện liên hệ của ngành chuyên môn riêng.
C̣n đức tin th́ không xen vào trong lănh vực ấy, bởi v́ đức tin hoạt động trên một b́nh diện khác hẳn: b́nh diện của những ư nghĩa cần phải được mang lại cho các hiện tượng mà khoa học nghiên cứu. Đâu là ư nghĩa của quá tŕnh tiến hóa dài dằng dặc như thế kia? Tại sao (v́ mục đích ǵ) mà sự ác lại gặm ṃn lịch sử loài người đi như vậy?
Hai b́nh diện nói trên, b́nh diện của "thế nào" và b́nh diện của "mục đích" không thể nào thay thế cho nhau được, cũng như không thể nào chồng chéo xen lấn lẫn nhau được. Do đó, đứng trên b́nh diện lư thuyết mà nói, th́ không bao giờ có chuyện đức tin lại đi xung đột với các thành quả của khoa học thực chứng cả. [xi][11]
Lối phân biệt trên đây là một bí quyết nhận định có tầm quyết định đối với việc giải thích cho chính xác các bản văn của Kinh Thánh, [xii][12]cũng như của Huấn quyền. Đúng thế, các tác giả của các văn bản này chỉ dựa theo những dữ liệu khoa học thời họ mà cống hiến cho chúng ta thấy ư nghĩa của lịch sử loài người. Họ đưa ra cho chúng ta biết về lư do "tại sao" của các hiện tượng trong lịch sử ấy. Họ tuyên xưng ḷng tin của ḿnh đối với chân lư về "nguyên tội" bằng cách trần thuật cho chúng ta nghe về câu chuyện của Ađam và Evà. Thế nên, nếu không thể nào ư nghĩa của Kinh Thánh và của truyền thống giáo hội đi ngược lại với các dữ kiện khoa học, th́ không phải v́ thế mà h́nh thức trần thuật "lịch sử" làm khung cho đức tin, lại không đụng chân vào trong ṿng giao thoa xung đột với khoa học, v́ nó cũng diễn ra trên cùng một b́nh diện nhận thức như các khoa học. Nhưng tính cách tương khắc ấy chỉ là một hiện tượng biểu kiến, đi dính liền với h́nh thức tŕnh bày đức tin, chứ không phải với bản chất thuần túy của chính đức tin. Trong ánh sáng ấy, sau đây, chúng ta thử t́m hiểu về câu chuyện trần thuật trong Sách Sáng thế, thường được dùng tới những khi tŕnh bày giáo lư.
H́nh thức trần thuật lịch sử trong các chương 2-3 của Sách Sáng thế
Theo ư nghĩa nào th́ câu chuyện kể lại công cuộc tạo dựng và tội lỗi lúc ban sơ có thể được coi là có tính cách lịch sử? Những tiến bộ mới trong khoa chú giải có thể giúp để làm cho câu hỏi này sáng tỏ. [xiii][13]
Quả thật, câu chuyện kể lại trong Sách Sáng thế, cho thấy một chuỗi liên cảnh đặc biệt mà Cựu Ước sẽ c̣n tái diễn ở một đoạn trần thuật khác, khi nói tới sự việc dân Ítraen được đặc tuyển và giao ước Giavê kư kết với họ. Vậy, câu chuyện trong Sách Sáng thế kể lại rằng: Thiên Chúa "cầm lấy" con người (nắm lấy: ST 2,15; 3,19.23), rồi "đặt để" con người vào trong vườn (2,8) và "cho" con người "một thứ thức ăn": "ngươi được ăn mọi cây trái trong vườn"(2,16). Ơn huệ đó lại có một "cấm lệnh" đi kèm theo nhằm bảo vệ sự sống con người chống lại sự chết: "ngươi không được ăn từ cây trái của khả năng nhận thức lành dữ, v́ ngày nào ngươi ăn nó, th́ tất ngươi phải chết"(2,17). Nhưng con rắn lại gieo "ngờ vực" chống lại lời căn dạy ấy: "vậy th́ Thiên Chúa đă nói là ngươi không được ăn một thứ cây trái nào trong vườn cả, phải không?" (3,1). Và như thế, nó rót vào trong ḷng người nữ thái độ không tin và ḷng "ham muốn": "người đàn bà nhận thấy quả là đúng: cây ăn ngon thật và nh́n th́ sướng mắt" (3,6). Tiếp theo đó là hành động "vi phạm"cấm lệnh (3,6) kéo theo t́nh trạng "hư hỏng" ơn huệ: "hai ông bà nhận biết ḿnh trần truồng" (3,7). Tuy nhiên, dù có nói rơ những hậu quả của tội lỗi con người, th́ Giavê Thiên Chúa cũng vẫn "hứa ban" cho người nữ một miêu duệ đủ sức đánh thắng con rắn (3,15).
Mặt khác, chuỗi liên cảnh kia cũng gợi lại nhiều kỷ niệm lịch sử của dân Ítraen. Chẳng hạn, từ "cầm lấy" được dùng để chỉ t́nh trạng đặc tuyển. Thế nên, Abraham đă được Thiên Chúa "cầm lấy" để khai sinh ra dân tộc (ST 24,7), rồi sau đó Ngài đă "nắm lấy" Đavít để đặt làm vua cho dân này (TV 78,70) và chính dân tộc này cũng đă được "cầm lấy", đă được chọn từ giữa các dân nước (Ed 36,24). Hơn nữa, việc nối kết hai động từ "cầm lấy" và "đặt để" là một lối dùng từ cổ điển để nói về sự kiện dân tộc định cư nơi đất hứa (xem Ed 36,24; 37,21...). Lănh địa này là một vùng đất ph́ nhiêu xanh tốt, có sữa và mật ong lai láng (Ds 13,20-25; Xh 3,8.17; 13,5...) và tràn trề "thức ăn" vô kể.
Lời đề nghị mở giao ước mà thực sự Giavê đă kư kết với dân Người, cũng đă có một "cấm lệnh" đi kèm theo nhằm bảo vệ cho giao ước được vẹn toàn: đó là Luật ban bố trên núi Sinai tiếp theo sau cuộc giải phóng khỏi Ai cập (Xh 20; Đnl 5,6-21; Xh 19,4-6). Quả thế, các giới răn đều được mở đầu bằng lời nhắc nhở về cuộc giải phóng mà Giavê đă thực hiện cho Ítraen. Dù vậy, luôn luôn Lề Luật vẫn làm như là đầu mối đưa ngờ vực và "thử thách" tới cho Ítraen (Xh 20,20. Xem cả Đnl 8,2-3; Tv 78,17-20), cũng như đặt Ítraen trong thế phải chọn lựa giữa Lời của Giavê và nỗi quyến rũ của ḷng "ham muốn". Và thực sự, cũng như thế và c̣n nhiều hơn nữa, Ítraen đă "vi phạm" Lề Luật mà đáng lẽ ra cần phải được coi như là thành lũy bảo vệ cho ḿnh. Ítraen đă xé bỏ giao ước kư kết với Giavê qua hành động tự chọn lấy một vị vua để được "giống như các dân nước khác", cũng như qua sự việc tôn kính các ngẫu thần. Kết quả là phải sống qua cả một lịch sử sôi động với "chết chóc": dân tộc bị chia rẽ thành hai vương quốc chống chọi nhau; hố chia cách ngày càng lớn rộng dần giữa giới quyền thế và đám quần chúng bị bóc lột khai thác, giữa các thành phần giàu và nghèo. Lănh thổ tự do đă biến thành một vùng đất nô lệ. Dẫu vậy, Giavê vẫn măi trung thành với "lời hứa" cùng Abraham. Ngài không ngừng nhắc nhở lại các đ̣i hỏi của giao ước cũng như ǵn giữ cho dân Ngài sống trong hy vọng: sẽ có ngày Ngài đích thân đến để cứu giải dân Ngài thoát khỏi cảnh chết.
Và như thế, có thể nhận ra rơ ràng hơn, cách thức tác giả nguồn Giavê (thuộc nguồn tài liệu gốc dùng tên Giavê trong văn bản:(Yahviste) [xiv][14]biên soạn câu chuyện của ḿnh: để giải thích thực trạng tội lỗi trong thế gian, tác giả đă không bắt đầu đi từ kinh nghiệm của Ađam và Evà mà suy luận, nhưng là đă chuyển vị vào trong thời khởi thủy loài người, kinh nghiệm thụ ân và bội phản mà Ítraen sống qua suốt trong cả ḍng lịch sử của ḿnh. Lần về trở lại với nguồn cội như thế, tác giả đă phổ quát hóa lịch sử của dân ḿnh ra cho toàn thể nhân loại. Dưới ngọn bút của tác giả, Ađam và Evà không những đại diện cho dân Ítraen và vị vua của dân này, mà c̣n cho cả mọi dân tộc và mọi vua chúa, [xv][15] mọi người nam cũng như nữ trong loài người.
Suy luận như thế là chuyện rất dễ hiểu đối với đầu óc thị tộc của các bộ lạc sống trong sa mạc, và đó cũng là cách suy luận mà tác giả câu chuyện sáng thế sử dụng: tác giả h́nh dung Ađam như là ông tổ của một thị tộc bao gồm toàn thể nhân loại. Mà trong nhăn quan tư duy này, th́ không có chuyện phân biệt rơ ràng giữa vị tổ phụ và toàn bộ thị tộc. Và dĩ nhiên là tất cả những ǵ thị tộc sống qua th́ đều được coi như là chính kinh nghiệm của vị tổ phụ, và ngược lại. [xvi][16] Thế nên, tội của Ítraen trở thành tội của Ađam, và giống như là do sức dội lại của một đà va chạm, hành động lỗi phạm của Ađam bắn tung tóe trở lại trên toàn thể nhân loại. Đó không phải là sự kiện truyền lưu tội vạ theo lối một chiều, cho bằng hiện tượng xoay ṿng của sự ác. Tội lỗi hiện giờ của dân tộc là tội lỗi của vị tổ phụ cũng như của loài người phát nguyên từ ông.
Tuy nhiên, những ǵ có thể chấp nhận được theo quan niệm các bộ lạc ngày trước, không c̣n có thể chấp nhận được nữa trong nền văn hóa khoa học thời đại ngày nay. Nhưng mặt khác, cũng không thể cứ việc đơn thuần đem Ađam của thời văn hóa thị lạc, đồng hóa với mẫu vượn phương nam (auxtralopitec) mà giả thuyết tiến hóa nhắc tới và đă biến mất khỏi trái đất cách đây cả ba triệu sáu trăm ngàn năm rồi được. Không, hai nhân vật đó khác nhau, cho dù có vẻ như là một. Cũng không thể đơn thuần lồng Ađam của Sách Sáng thế vào trong ư niệm tân thời của chúng ta về tội của cá nhân, là ư niệm phát nguồn từ một mẫu thức văn hóa khác hẳn.
Đối với tác giả nguồn Giavê (J), tội của Ađam với tội của dân Ítraen chỉ là một. Cũng không bao giờ có ai nghĩ đến chuyện gán cho mẫu vượn phương nam tội lỗi của cả loài người chúng ta. Khi t́m hiểu cho biết vượn phương nam đă có thể lỗi phạm như thế nào theo ư thức vừa chớm nở của ḿnh ở vào thời ban sơ của lịch sử loài người, là chúng ta muốn nói tới một loại tội phạm hoàn toàn khác với loại được Sách Sáng thế đề cập tới. Đồng hóa chúng thành một tội mà thôi, "tội của thời nguyên sơ nhân loại", là lẫn lộn hai b́nh diện giải thích khác hẳn nhau.
Đằng khác, cũng nên lưu ư là Cựu Ước c̣n đề ra nhiều cách thức khác để nhận thức về "tội của thời nguyên sơ nhân loại". Chẳng hạn, không thuộc ảnh hưởng của quan niệm thị tộc như người viết theo nguồn Giavê, tác giả tư tế (P) để tâm nhiều hơn đến việc khai triển ư niệm về một tội lỗi đă từ từ lan rộng dần ra trên khắp mặt đất, kể từ sau cuộc tạo dựng vạn vật cho tới lụt đại hồng thủy (St 6,11-12). [xvii][17] Lối nh́n này đi gần với cách chúng ta quan niệm về lịch sử hơn. V́ thế, điều quan trọng là không nên tuyệt đối hóa quan điểm của tác giả nguồn Giavê.
Ư nghĩa của các đoạn St 2-3
Đằng sau h́nh thức trần thuật theo kiểu lịch sử, đâu là ư nghĩa đích thực của câu chuyện Sách Sáng thế kể lại? Nó có nhắn nhủ ǵ quan trọng cho cuộc sống đức tin của chúng ta hôm nay không? [xviii][18] Trước tiên: nó nói lên một niềm xác tín trong đức tin. Toàn thể nhân loại mà Ađam là biểu tượng, đă được chỉ một ḿnh Thiên Chúa duy nhất dựng nên, để đặt bước vào trong một tiến tŕnh lịch sử dẫn đến sự sống. Quả thế, lời đầu tiên Đấng Tạo hóa nói với con người mới lọt khỏi ḷng bàn tay tạo dựng của ḿnh, là một lời khai đạo cho tất cả những ǵ là khả dĩ: "Ngươi có quyền ăn mọi cây trái trong vườn" (2,16), ngay cả cây sự sống nằm ở giữa vườn. Thiên Chúa của ân huệ, của nhưng không: Ngài không biết đến tính toán hơn thiệt và không dành giữ ǵ riêng cho ḿnh cả. Ngài đặt định cho con người một màng lưới quan hệ đa dạng: quan hệ với chính Giavê, với đất đai, với loài vật và cuối cùng là với người phụ nữ là cá thể mà khi đối diện với, th́ con người đạt được tới khả năng phát biểu bằng lời nói, và phát hiện ra bản sắc đặc thù của ḿnh. Đối với tác giả câu chuyện, sự sống nằm chính ở trong các mối quan hệ ấy. Hơn thế nữa, chính Thiên Chúa c̣n đích thân mở giao ước với thụ tạo của ḿnh; Ngài tiếp tay hành động với sinh hoạt của con người để sự sống nẩy sinh lên: Ngài sẽ làm cho mưa rơi, nhưng canh tác đất đai là công tŕnh con người (2,5). Ngài nắn tạo loài vật nên, nhưng việc đặt tên cho chúng là phần của con người (2,19). Cuối cùng, Thiên Chúa đưa ra một cấm lệnh hầu đảm bảo cho màng lưới quan hệ kia được nguyên vẹn. Ngài cấm con người không được nếm mùi cây có sức toàn năng ảo tưởng (tức là chỉ theo lời con rắn nói bịa, chứ không phải có thật), v́ trái của cây ấy sẽ đưa tới t́nh trạng quan hệ hỗn độn: nếu con người muốn trở thành tất cả cùng một lúc, không c̣n biết tôn trọng những ǵ khác biệt phân cách ḿnh với Thiên Chúa, th́ con người sẽ gây ra chết chóc thảm hại cho chính ḿnh. Tiếp diễn trường kỳ theo ḍng lịch sử, công tŕnh tạo dựng là thế. Xác tín đức tin theo kiểu mẫu này sẽ tẩy trừ hết mọi lối quan niệm Thiên Chúa như là một chủ nhân ông khinh khỉnh đứng nh́n một tên nô lệ khép nép thúc thủ tội nghiệp. Ngược lại, đối với tác giả nguồn Giavê, Thiên Chúa và con người là thành viên liên đới chung sức tiến bước trên cùng một tiến tŕnh lịch sử.
Ngoài ra, đề ra cấm lệnh là Giavê muốn nhắc nhở cho con người ư thức về tự do và trách nhiệm của ḿnh. Con người có tự do để đón nhận hoặc từ chối Lời chỉ bảo giúp cho ḿnh tránh khỏi sự chết. Nhưng loài người không bao giờ chịu tin vào Lời của Giavê, và đó là nguyên nhân gây ra thảm họa cho con người. Đối với tác giả nguồn Giavê, sự dữ và sự chết không phải là hoa trái của một định mệnh tất yếu. Từ khởi điểm của những đổ vỡ xảy ra trong lịch sử loài người, đă có những hành động tự do, hành động của nhà vua và của nhân dân, của người nam và của người nữ: họ đă đồng loạt sa lầy vào trong giấc mơ chiếm hữu cho được một thứ toàn năng tính ảo tưởng nhưng lại chứa đầy ác lực tàn phá độc hại; họ hủy hoại lẫn nhau; tập thể đồng t́nh, họ dẫn nhau đi đến chỗ chết. Giavê đâu có trách nhiệm ǵ đối với những thứ ấy; Ngài đă không hề gắn lồng sự dữ và chết chóc vào trong bản tính con người. Chính con người đă dùng tự do mà tác họa cho chính ḿnh. Nhưng dù sao th́ niềm thâm tín về trách nhiệm như thế của con người cũng đem lại được nhiều hy vọng; bởi v́, nếu con người là nguyên nhân của sự ác, th́ con người cũng có thể kiến tạo nên được một cuộc giải phóng cho chính ḿnh. Loài người không nhất thiết phải là con mồi thiêu thân cho một định mệnh mù quáng. Đối diện với sự ác, tác giả câu chuyện đă biết loại bỏ đi mọi ư nghĩ quy trách cho phía Thiên Chúa, cũng như mọi thái độ chủ bại và tất định (déterministe) đối với lịch sử loài người.
Có phải chỉ cần đoàn kết chung sức là có thể bẻ găy được ṿng bạo lực trói chặt con người vào ách sự chết hay không? Tác giả nguồn Giavê đă biết là vấn đề không quá đơn giản như thế. Dĩ nhiên là con người có tự do, nhưng con người đă bị mê hoặc và lừa bịp để rồi không sao nén nổi mà không chạy theo ảo vọng "trở thành ông trời". Hoài vọng này xuất xứ từ một giới nằm hẳn bên trên con người, [xix][19] và nó đánh động vào tận trong nơi sâu thẳm của ḷng con người; nó đặt cấu trúc nền tảng cho các mối quan hệ của con người. Loài người không thể làm ǵ hơn được trước trạng huống ấy, và lịch sử của mọi dân nước trên mặt đất chứng minh cho thấy quá rơ điều đó. Con người cứ măi khăng khăng tưởng rằng sự sống nằm ở bên phía danh vọng cao sang, ở bên phía chế ngự và thống trị thế giới: "Trở thành giống các thần linh"! Dù, ngày qua ngày, lịch sử có chứng minh rơ cho thấy hoài vọng kia chỉ là một ảo tưởng, th́ con người cũng cứ tiếp tục để cho ảo vọng ấy quấy rầy ḿnh, vây bủa và trói chặt ḿnh vào trong màng lưới của nó. Nó phân hóa và xô đẩy con người đến chỗ diệt vong. Thế nên, dù có đoàn kết hiệp lực để giải phóng cho chính ḿnh đi nữa, th́ bất lực, loài người cũng sẽ không làm sao thoát nổi ṿng chi phối vũ băo của nó.
Nhưng như thế có phải là Giavê đă bị chính thọ tạo của ḿnh đặt vào thế bí hay không? Có phải sự sống ban ra tràn đầy đă lật ngược cán cân một cách vô phương cứu chữa, để trở thành một cảnh chết chóc phải bó tay mà chịu hay không? [xx][20]Nhưng không phải là chỉ đơn giản như thế. V́ tội lỗi con người không chận đứng nổi ân huệ của Giavê. Mặc cho gai góc có mọc lên đầy (3,17-18), con người cũng không ngừng canh tác ruộng đất và thu hoạch hoa màu làm thức ăn. Người nam và người nữ vẫn thu hút lẫn nhau trong niềm quư trọng các khác biệt của nhau (2,23), cho dù mối quan hệ giữa họ có bị thói thèm muốn và thống trị làm loang lổ đi (3,16). Giavê vẫn tiếp tục tạo dựng sự sống trong mối hợp đồng với con người, như bà Evà đă công nhận lúc Ca-in chào đời (4,1), cho dù sau này Ca-in sẽ giết chết em ḿnh. Từ nay, giữa lịch sử loài người, tự trong thâm sâu của bản chất, sống và chết sẽ luôn luôn kết chặt với nhau. Sự sống được ban ra dồi dào, nhưng từ nay, nó chỉ diễn ra ngập ngừng với viễn ảnh kinh hoàng của một cảnh chết bắt buộc phải sống qua như một cuộc bứt nhổ và chia ĺa đầy đau thương đắng cay. Đó chính là tác phẩm của tội lỗi c̣n đang hoành hành ở ngay giữa ḷng sự sống.
Vậy, sự chết đă thắng được cuộc rồi đó sao? Không c̣n có một tia hy vọng ḥa giải nào cả hay sao? Không quá đến như vậy! Tuy nhiên, nếu hoà b́nh đă được ban tặng lại cho con người, th́ nó cũng chỉ đến từ một chốn cao thẳm bên kia thế giới con người. Loài người đă bị ngàn vạn bộ mặt quyến rũ của sự chết mê hoặc trầm trọng đến độ không c̣n có thể tự cứu giải cho chính ḿnh được. Cần phải có một khởi điểm mới, một sự sống mới không mảy may đồng lơa với sự chết. Cần phải có một hành động can thiệp mới của Thiên Chúa Tạo hóa. Và thực sự, một luồng đại phong hy vọng đă thổi mạnh đến, nâng hẳn toàn bộ lịch sử loài người lên cao: Giavê đă hứa ban một miêu duệ có sức đánh thắng con rắn.
Đại để, đó là những cảm nghĩ chủ chốt mà tác giả nguồn Giavê đă có đối với tiến tŕnh lịch sử loài người. Những suy nghĩ này bao gồm cả sự sống lẫn sự chết, cả tự do lẫn những ǵ ràng buộc làm mất tự do, cả cuộc sống thực tế cực nhọc hằng ngày lẫn niềm hy vọng cho ngày mai. Tŕnh bày theo cách thức ấy, th́ các suy tư kia mới có thể thực sư đặt vấn đề cho người lớn cũng như cho trẻ em, bởi v́ ở trong đó, họ sẽ nhận ra chính kinh nghiệm của riêng cá nhân ḿnh, cho dù họ có không tin vào Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa đi nữa. Và những cảm nghĩ ấy cũng có thể giúp dẫn lối đưa đến tận mức viên măn của niềm tin đối với công tŕnh của Đức Kitô Cứu Thế.
Đọc lại thánh Phaolô dưới ánh sáng của các nhận định trên đây
Thường thường các thư của thánh Phaolô ít được dùng tới trong các lớp giáo lư. Ai cũng thừa biết tại sao rồi! Phần lớn các thư này thuộc loại khó hiểu. Ở đây, chỉ xin thử t́m hiểu một đoạn trong Thư gửi tín hữu Roma: đó là đoạn ngay từ buổi đầu của lịch sử truyền thống, đă soi dẫn Giáo hội trong cố gắng suy tư t́m hiểu về nguyên tội:
Thế nên, cũng như chỉ v́ một người (Ađam), mà tội lỗi đă đột nhập vào trong trần gian; và v́ tội lỗi, nên cả sự chết cũng đột nhập như thế nữa; và vậy là sự chết đă lan truyền qua hết mọi người, bởi lẽ mọi người đều đă phạm tội,... th́ ơn của Thiên Chúa, ơn ban qua một người là Đức Giêsu Kitô, c̣n dẫy tràn hơn biết bao trên vô số người (Rm 5,12 và 15b).
Trong Ađam, mọi người đều là tội nhân
Đối tượng Phaolô chú tâm đến trước tiên, không phải là Ađam, mà là Đức Giêsu Kitô. Thánh nhân muốn cho thấy rằng Đức Kitô sống lại đă đích thân mang ơn cứu độ tới cho toàn thể nhân loại. Để tŕnh bày cho dễ hiểu, thánh nhân đă dựa theo câu chuyện Sách Sáng thế kể lại, và giải thích nó theo quan niệm thị tộc của tác giả. Đối với Phaolô cũng như đối với tác giả nguồn Giavê, Ađam là nguyên tổ của loài người. Với danh nghĩa đó, Ađam mang toàn thể loài người trong con người của ḿnh; c̣n tội của ông th́ truyền lan tới hết tất cả mọi người: cái chết thể lư do tội mà ra, là dấu hiệu của một cái chết tuyệt đối hơn, tức là của sự việc nhân loại bị dứt khoát tách rời ra khỏi Thiên Chúa Hằng sống, cội nguồn của sự sống.
Trong Đức Kitô, mọi người đều được cứu độ
Tuy nhiên, theo Phaolô, Đức Kitô là phản đề đối lại Ađam. Trong Ngài, mọi người đều được cứu độ, v́ Đức Kitô sống lại đă tổng hợp toàn bộ lịch sử loài người vào trong chính con người của ḿnh
Người cho ta
được biết thiên ư nhiệm mầu :
thiên ư này là kế hoạch yêu thương
Người đă định từ trước
trong Đức Ki-tô.
10 Đó là đưa thời gian
tới hồi viên măn
là quy tụ muôn loài trong trời đất
dưới quyền một thủ lănh
là Đức Ki-tô.
Cũng trong Đức Ki-tô, (Ep 1,9-10).
Nói thế có nghĩa là ǵ? Theo sát nghĩa đen trong tiếng Hy lạp, từ anakephalaiôsasthai ("tổng hợp") có nghĩa là: "nắm lấy trở lại, từ dưới lên trên bằng cách trở thành cái đầu, trở thành đầu mối". Do vậy, trong một cách nào đó, Đức Kitô đi ngược trở lại ḍng thời gian, trở về đằng trước, về phía các tổ phụ của ḿnh là Đavít, Giacóp, Abraham cho đến đầu hết, tức là cho đến Ađam. Thánh Luca minh họa điều đó thật tài t́nh bằng cách kể lại gia phả của Đức Giêsu (xem Lc 3,23-38). Thế nên, cuộc đời, cái chết và sự kiện sống lại của Đức Kitô có sức đánh động mạnh hơn là toàn dân Do thái hay là cộng đoàn các tín hữu, và mang những chiều kích rộng lớn hơn là một giai đoạn đặc biệt nào đó trong lịch sử loài người. Đúng là các biến cố ấy mang một tầm vóc vũ trụ. Trong Đức Giêsu Kitô sống lại, sự sống t́m thấy một khởi điểm mới, như trong ngày đầu của một cuộc tạo dựng mới.
Đi ngược ḍng thời gian, Đức Kitô nắm lấy lại ḍng lịch sử từ đằng dưới: quả thế, Ngài đă đến "trong thân phận xác phàm tội lỗi của chúng ta" (Rm 8,3); v́ chúng ta, Ngài đă bị "đồng hóa với tội lỗi" (2Cr 5,21). Các Phúc âm nhất lăm đă cụ thể hóa các từ ngữ phi thời gian này bằng một nội dung trần thuật có tính cách lịch sử. Đức Giêsu Kitô đă đến để kêu gọi những người tội lỗi (Mc 2,17 và các đoạn song song): Ngài không chỉ đến để đem an b́nh và ḥa giải cho những người có tội cá nhân, như người phụ nữ ngoại t́nh hay như người trộm lành chết trên thập giá bên cạnh Ngài mà thôi. Ngài thường hay cố ư đi đến với các tầng lớp xă hội công khai bị xếp vào hạng những người tội lỗi, chẳng hạn như là: các người ngoại giáo, các kẻ ăn xin, các người yếu đau bệnh tật, các người nghèo hèn, các người thu thuế và các cô điếm. Ngài cố ư giữ giây liên đới với các tầng lớp bị xă hội loại ra ngoài lề như thế, v́ các tầng lớp này thể hiện những cơ cấu tổ chức tội lỗi trong lịch sử thời ấy. Sự việc Ngài chịu phép rửa giữa những người thú nhận tội ḿnh (Mc 1,9-11) và chết trên thập giá giữa hai người trộm cướp (Mc 15,27) là dấu chỉ của t́nh liên đới ấy. Ngài đă đồng hóa với họ, v́ Ngài muốn dùng "những ǵ là hèn hạ, bị khinh miệt" mà cứu toàn thể nhân loại thoát khỏi sự chết. Đó là điều mà thánh Phaolô gọi là "sự điên rồ của thập giá" (1Cr 1,18-31).
Nhờ họ và với họ, Ngài đă làm cho lịch sử chuyển hướng đi lên: Ngài đă giải phóng họ, đă mang lại cho họ phẩm cách làm con Thiên Chúa, làm anh chị em của Ngài, đă khôi phục các quyền của họ lại cho họ, và kết hợp họ lại trong một cộng đoàn đức tin, đức cậy cùng đức mến. Cứu độ các tầng lớp xă hội bị xô đẩy ra ngoài lề cuộc đời như thế: các tầng lớp thể hiện cho những cơ cấu tội lỗi trong loài người, là Đức Kitô đă giải cứu cả toàn bộ lịch sử nhân loại; Ngài đă mở cánh cửa ơn cứu độ cho mọi người: cho người nghèo cũng như người giàu, cho người cũng như người tội lỗi công chính, cho người Do thái cũng như người ngoài Do thái giáo. Không c̣n một ai bị loại ra ngoài, bởi v́ không c̣n một ai là không được ơn cứu độ của Ngài chạm tới tận nơi cội rễ sâu thẳm nhất trong tâm hồn khước từ của ḿnh. Từ nay, ơn cứu độ sẽ luôn luôn đi từ dưới lên trên, từ cái nhỏ nhất đến cái lớn nhất, từ ngoài lề vào trong tâm điểm, từ người nghèo đến người giàu. V́, thay v́ muốn trở thành "như ông trời", Đức Kitô đă trở thành "người rốt hết", "người tôi tớ và là người nô lệ của mọi người" (Mc 10,35-43 và các đoạn song song), và không ganh tị "giằng cho được chức vị đồng hàng cùng Thiên Chúa" (Pl 2,1-11). Và như thế, Ngài đă trở thành thủ lĩnh, người lănh đạo, "Ađam mới" (1Cr 15,45), khởi điểm mới của lịch sử nhân loại: khởi điểm tuyệt đối mới mẻ, v́ bất chấp tất cả những chia rẽ và phân cách giữa loài người, bất chấp cả đến sự chết, Ngài tổng hợp toàn thể nhân loại lại ở trong Ngài. Và như thế, trong Ngài, lịch sử sẽ làm như đi qua một con đường tắt để đạt đến mức hoàn thành viên măn của ḿnh; trong Ngài, mối giao ḥa chung cục với Thiên Chúa cũng được thành tựu.
Nói về ơn cứu độ cho thời đại hôm nay
Ngày nay phải hiểu như thế nào về giáo lư của Giáo hội liên quan đến nguyên tội, khi mà giáo lư này không c̣n mặc h́nh thức miêu tả thuộc nền văn hóa nguyên gốc của nó nữa? Có thể quan niệm nguyên tội như là một sự dính líu chung vào trong thực trạng của tội lỗi trong xă hội loài người. Ngay giây phút mới tượng thai trong ḷng mẹ, mọi con người, nam cũng như nữ, đều phải bước vào trong một thế giới chịu ảnh hưởng nặng nề của tội lỗi kể từ lúc nhân loại mới xuất hiện. Đó là một t́nh trạng khách quan, lưu truyền từ thế hệ này đến thế hệ nọ, và đối nghịch lại với kế hoạch tạo dựng của Thiên Chúa. V́ thế, con người phải chịu ảnh hưởng của tội lỗi đă từng ăn sâu trong môi trường sống của ḿnh, ngay từ trước khi sinh ra:
"Vậy, sự việc con người dính líu với tội lỗi không phải chỉ là cái ǵ nằm ở ngoài con người, không phải chỉ là một gương xấu, một ảnh hưởng độc hại, một môi trường quyến rũ mà thôi, nhưng đó c̣n là một yếu tố nằm tận trong cơ cấu nội tại của mọi con người, và có tầm quyết định trên thái độ của con người đối với Thiên Chúa, đối với người khác cũng như đối với chính ḿnh; qua ư niệm "t́nh trạng dính líu với tội lỗi" này, một ư niệm rút ra từ cuộc sống cụ thể của con người hiện hữu thực sự ở trong lịch sử, chúng tôi muốn diễn đạt tất cả những ǵ chứa đựng trong thành ngữ "tội nguyên tổ": đây là một lối dùng từ dễ gây ngộ nhận và không mấy thích đáng. Thành ngữ "tội nguyên tổ" hàm chứa ư nghĩa này là: t́nh trạng phổ quát có ảnh hưởng quyết định từ bên trong đối với mọi người, và theo thực tế mà nói, th́ t́nh trạng này đi ngược lại với ư định cứu độ nguyên sơ của Thiên Chúa, là Đấng đă tạo thành mọi sự bởi Đức Kitô và quyết định hoàn tất mọi sự trong Đức Kitô".[xxi][21]
Vậy, nếu xét về mặt thực tế chứ không phải về mặt bản chất, tự bên trong, tự do của mọi người trong nhân loại đều bị nhuốm nặng ảnh hưởng của khuynh hướng khép kín ḿnh vào trong thái độ tự măn, th́ có thể hiểu được rằng con người không có khả năng để tự cứu thoát ḿnh được:
"Nếu những phân tích nghiên cứu trên đây là chính xác, th́ nổ lực để giải thoát cho khỏi t́nh trạng tha hóa hằng bao vây con người như đă thấy, chỉ có thể xảy ra được với điều kiện là phải có một sự từ bỏ đến từ bên ngoài khuôn khổ những dự kiến khả dĩ của lịch sử loài người. Quả thế, t́nh cảnh liên đới chịu chi phối bởi tội lỗi đă gây ra thực trạng này là ơn cứu rỗi một khi đă bị mất đi th́ không thể nào được tái tạo lại nổi do một cá nhân hoặc một tập thể sống trong những điều kiện của chính lịch sử ấy... Thay v́ cùng nhau t́m cách để cố gắng làm cho tiến tŕnh triển nở chung được thành tựu, th́ các cá nhân chỉ biết phá hại lẫn nhau, khiến cho những điều kiện thiết yếu đối với việc sử dụng tự do bị tiêu tán đi, và xô đẩy mỗi người vào trong cảnh đơn độc trơ trụi của ḿnh... Và như thế, lịch sử tội lỗi của loài người phải ́ ạch gánh chịu cả một sức nặng dính chặt vào nơi bản chất của ḿnh, và cứ buông theo khuynh hướng tự giam nhốt ḿnh vào trong ṿng chuyển vận đều đặn của một định mệnh khốc hại". [xxii][22]
Ṿng định mệnh đă khốc hại lại càng khốc hại hơn khi trải dài theo ḍng lịch sử, những hành động của tự do con người đă kết tinh thấm nhập sâu đậm vào trong các cơ cấu bất công của xă hội nhân loại: các cơ cấu được đặt định một cách khách quan này đè nặng với hết sức ép của ḿnh lên trên các cá nhân trong nhân loại, mặc cho họ "có thiện chí" đến bao nhiêu đi nữa. Những tâm trạng tập thể, những dạng thức văn hóa và những tổ chức kinh tế cùng chính trị đă xô đẩy, loại trừ không biết bao nhiêu người ra ngoài lề cuộc sống, để rồi cuối cùng giết chết họ đi: đó chính là những ǵ biểu hiện cho thấy "các cơ cấu tội lỗi" trong lịch sử loài người. [xxiii][23] Các cơ cấu này ghi ảnh hưởng sâu đậm vào trong nội tâm của mỗi người, vào trong nơi sâu thẳm nhất của tự do cá nhân con người. Tuy nhiên, tội lỗi không phải là định mệnh tất yếu, không thể thoát được; nó không nằm "ở trong máu", ở trong bản chất của con người. Cứu độ con người vẫn là một điều khả dĩ.
Khách quan mà nói, cuộc tử nạn và phục sinh của Đức Kitô đă mang lại cho con người một phương thức cứu độ, thường được gọi là ơn thánh hay ơn ban Thánh Linh. Ơn huệ này ghi đậm dấu vết vào trong nội tâm con người ngay từ trước khi con người đạt tới mức có đủ trưởng thành để có thể dùng tự do mà hành động. Nó đặt vào tâm hồn con người ḷng khát vọng và niềm hứng thú đối với mối liên đới đích thực bén rễ tận trong t́nh yêu thương. Theo ư niệm khách thể và cấu trúc, nó cũng được gọi là "Nước Trời" hay Vương quyền Thiên Chúa". Nó đang hiện diện đó: ngay giữa ḷng lịch sử loài người như là men trong bột (Mt 13,33), như là hạt giống gieo vào ḷng đất (Mc 4,26-29). V́ thế, đà năng động của tội lỗi đă bị lật ngược lại từ bên trong. "Vưong quyền Thiên Chúa" đă đặt vào tận trong cán cân lực lượng và vào giữa các cơ cấu bất công của lịch sử, một mầm giống của sự sống, của công chính và ḥa b́nh. Nếu hằng ngày có thể đọc thấy trên báo chí, những vết tích của sự việc mọi người đều dính líu với tội lỗi trong trần gian (thống trị, khai thác, đàn áp, bạo lực...), th́ hệt như thế, cũng có thể đọc thấy giữa cuộc sống hằng ngày, những dấu chỉ ơn cứu độ đă được ban cho mọi người qua và trong Đức Giêsu Kitô. Không biết bao nhiêu tổ chức, không biết bao nhiêu dân nước đang ra sức để làm cho việc phân phối tài nguyên trong thế giới được công bằng hơn; những nổ lực nghiên cứu để cải tiến các cấu trúc xă hội nhằm đẩy mạnh việc tôn trọng các quyền con người và cổ vũ công lư và ḥa b́nh; những cố gắng mà khắp nơi trong thế giới đang có đối với công tác bảo vệ môi sinh của địa cầu: đó là bao nhiêu dấu chỉ cho thấy sự hiện diện của Nước Thiên Chúa ở giữa ḷng thế giới, một sự hiện diện vượt cả ra ngoài ranh giới hữu h́nh của Giáo hội cũng như của các cộng đoàn tín hữu. Vấn đề là ở chỗ có biết để ư mà nh́n hay không: nh́n với một cặp mắt đức tin để có thể nhận ra công tŕnh cứu độ con người, hay là chỉ nh́n với thái độ không tin để rồi chỉ biết ngỡ ngàng trước t́nh trạng con người phải thúc thủ chịu cảnh dính líu với tội lỗi.
Mọi người trong nhân loại đều được mời gọi để tiếp nhận cho chính ḿnh những khả năng mới, tức là phương thức cứu độ nói trên: đó là khả năng sống theo đường lối của Nước Thiên Chúa. Bằng cách nào? Bằng cách đừng sống và hành động theo lối cá nhân đơn độc, chỉ cậy dựa vào sức riêng của ḿnh, v́ làm thế là đi vào ngơ cụt bất lực, nhưng là biết sống kết liên với cộng đoàn các tín hữu, trong niềm tin vào Đức Kitô sống lại. Nhờ phép Thanh tẩy (Rm 6), con người được ghép vào trong thân ḿnh của một cộng đoàn sống niềm tin, ḷng cậy và t́nh mến. Trong đó, con người ngụp sâu vào trong sự chết và sống lại của Đức Kitô để chết cho tội lỗi và nhận lănh sự sống mới được ban cho trong Thánh Linh (Rm các chương 7-8).
Khẳng định như thế về niềm tin đối với giáo lư nguyên tội có một tầm cỡ quan trọng như thế nào trong thực tế? Trong b́nh diện cá nhân, người kitô sẽ gắng hết sức ḿnh để từ bỏ mọi thái độ, mọi hành động cố t́nh đồng lơa với tội lỗi trong thế gian. Khoa dạy giáo lư cổ truyền đă nhấn mạnh rất nhiều đến điểm này của đức tin kitô bằng cách tŕnh bày giáo lư về "tội trọng". V́ thế, không nên bỏ quên mà không tŕnh bày cho thấy rằng điểm giáo lư này có liên hệ chặt chẽ với thực trạng các cơ cấu tội lỗi đă và đang thực sự gây ra chết chóc cho hàng triệu người trong nhân loại; cả những thái độ và hành động cố t́nh đồng lơa với các cơ cấu này cũng là những ǵ c̣n đang tiếp tục gây ra chết chóc. Vậy, trong khi dạy giáo lư, cần phải tŕnh bày về những khía cạnh căn bản của các quyền con người, cũng như về giáo thuyết xă hội của Giáo hội. Và phải tránh cách kiểu giới thiệu Đức Kitô như là Đấng chỉ đến để mang lại một thứ "ơn cứu độ cá nhân bỏ túi" mà mỗi người có thể chiếm hữu được nhờ đọc kinh và chịu các bí tích. Làm thế là bỏ sót đi mối giây liên đới cụ thể mà Đức Kitô hằng giữ bền chặt với những người bị ruồng bỏ vất vưởng bên lề đường dài của lịch sử.
Tuy nhiên, nếu chỉ có như thế thôi, th́ lối nh́n kia vẫn chưa có thể được coi là đầy đủ, v́ nó c̣n nhấn mạnh quá nhiều đến tính cách cá nhân của tội lỗi. Trong khi đó, đối diện với các cơ cấu thống trị, con người lại không thể nào đứng riêng rẽ đơn độc mà không bị sa vào lầy diệt vong của thực trạng thúc thủ bất lực, hoặc của thái độ khoái kết tội cho chính ḿnh, là một thái độ không mấy lành mạnh. Do đó, cần phải nêu rơ cho thấy tầm quan trọng cực kỳ to lớn của một hành động tập thể và có tính cách liên đới, tức là nhấn mạnh đến tầm quan trọng của cộng đoàn kitô và hoạt động đầy sức mạnh giải phóng mà cộng đoàn kitô đang triển khai ra ở giữa ḷng thế giới loài người. Lối nh́n giáo lư theo con mắt cổ điển thường nối chặt cuộc sống cộng đoàn lại với việc tham dự bí tích. Trong khi đó lại không coi trọng cho đủ việc các cộng đoàn phải hoạt động để cổ vũ công lư và ḥa b́nh. Nhưng đây lại là khía cạnh chủ yếu. Chỉ thúc đẩy mọi người phải lo cho cá nhân họ nên thánh mà thôi th́ chưa đủ; c̣n cần phải cùng nhau xây dựng các cộng đoàn t́nh yêu biết dồn nổ lực để làm nên sức mạnh hầu đối phó với các cơ cấu bất công th́ mới được. Chính khi biết cùng nhau chung sức th́ chúng ta mới có thể làm cho Nước Thiên Chúa đang hiện diện ngay đó, triển nở sung măn được; chính khi biết cùng nhau nắm tay th́ chúng ta mới có thể chết cho tội lỗi hằng tràn lan trong lịch sử, và mới có thể tích cực đón nhận ơn cứu độ đang hiện diện trong chúng ta được. Cùng nhau và cùng với nhiều người khác, trong tinh thần tương kính và đối thoại theo chân lư, cố gạt bỏ ra ngoài mọi lắng lo giữ cho được thế quân b́nh lực lượng, để mọi người, nam cũng như nữ, có thể sống "theo h́nh ảnh của Thiên Chúa", được tôn trọng đúng với phẩm giá của ḿnh: đó là cách thức tích cực đón nhận và hữu hiệu xây dựng Nước Thiên Chúa vậy.
Tâm Linh Vào Đời nhận định:
Nói rằng: Đi ngược lại với ư định cứu độ nguyên sơ của Thiên Chúa
Thế ra ngay từ muôn thủa, Thiên Chúa đă lên kế hoạnh cứu độ loài người – có nghĩa là trước khi tạo thành trời đất trong tâm thức của ḿnh, Thiên Chúa đă biết con người sẽ không vượt qua thử thách và như vậy Thiên Chúa mới có việc để làm chứ, ăn không ngồi rồi buồn biết mấy!!!
Hoặc nếu bọn loài người mạnh mẽ, chẳng cần đế Chúa th́ hóa ra công tŕnh cứu độ chỉ có giá trị trên giấy tờ hay sao???
V́ thế ngay từ muôn thủa Thiên Chúa đă có sẵn một kịch bản cho đỡ buồn:
Thiên Chúa sẽ dựng lên con người, Thiên Chúa ban cho chúng tự do và cố gắng quan hệ mật thiết với loài người. Nhưng ta cùng lúc đó Thiên Chúa lén đặt vào trong ḷng con người một yếu tố nằm tận trong cơ cấu nội tại của mọi con người - mà loài người gọi "t́nh trạng dính líu với tội lỗi" khiến chúng đễ bị bị mê hoặc và lừa bịp.
Ngài cấm con người không được nếm mùi cây có sức toàn năng ảo tưởng (tức là chỉ theo lời con rắn nói bịa, chứ không phải có thật). Tất nhiên là con người thua đậm và kịch bản “công tŕnh cứu độ” được Đức Giêsu ḥan tất theo đúng kế hoạch đến từng chi tiết – kể cả màn GiuDa bán thày của ḿnh bắt buộc cũng phải nằm trong kế hoạch vĩ đại của Thiên Chúa chứ!!! Tới đây coi bộ chương tŕnh Cứu Độ có chuyện ǵ đó không ổn rồi.
Thực vậy, Nhà Đạo Diễn Thiên Chúa thừa biết ngay kịch bản mà Ngài đă tạo ra từ muôn thủa – Nếu Thiên Chúa không biết th́ Thiên Chúa chắc chắn không phải là Thiên Chúa TOÀN TRI!! – Mà nếu Thiên Chúa biết rơ mười mươi mà Thiên Chúa cố t́nh làm th́ Thiên Chúa đúng là một tay chơi ngông: Chết đuối người trên cạn mà chơi. Và chuyện Ngôi Hai cứu thế cũng chỉ là một màn kịch trong kịch bản mà Thiên Chúa đă định từ muôn thủa - dù rằng Giesu bị đau đớn thực sự như bất cứ một người trần gian nào.
[i][1] Cuốn sách của G. Martelet, mang tựa đề Libre réponse à un scandale, la faute originelle, la souffrance et la mort, Cerf, 1986, 1987 tái bản lần thứ ba, đă phát động một luồng tranh luận mănh liệt trong lănh vực thần học. Công tŕnh nghiên cứu của Martelet đă bị P. Masset đặt lại vấn đề trong bài viết tựa đề Réflexion philosophique sur le péché originel, đăng trên Nouvelle Revue Théologique, 110, 1988, tt. 879-921; rồi sau đó cũng đă bị B. Pottier phản bác qua bài mang tựa đề Interpréter le péché originel avec G. Fessard, đăng trong NRT 1989, tt. 801-823. Gần đây, A. Chapelle đă dựa theo quan điểm thần bí mà nghiên cứu vấn đề qua bài Méditations sur nos premiers parents, đăng trong NRT 112/5, 1990. Cuộc tranh luận diễn biến chung quanh điểm chủ chốt này là: làm sao để có thể điều ḥa được các cứ liệu khoa học hiện đại với giáo thuyết cổ truyền của Giáo hội, đặc biệt là giáo thuyết dạy về "tính chất độc nhất của tội lỗi đầu tiên mà cá nhân một Ađam lịch sử đă mắc phạm" và việc truyền lưu tội lỗi ấy đến toàn thể nhân loại. Ở đây chúng tôi sẽ dựa theo kỹ thuật dạy giáo lư và chú giải Kinh Thánh mà bàn tới các vấn đề nêu trên, và kỹ thuật này sẽ tiến theo một lối lập luận khác hẳn.
[ii][2] Xem Catéchisme à l'usage de tous les diocèses de Belgique, Desclée De Brouwer, Les Presses St Augustin, Bruges, 1959, câu hỏi 47-63, tt. 21-23, và Catéchisme et Manuel national à l'usage des diocèses de France, Nouvelle édition, Mame, 1947, câu hỏi 48-56, tt. 34-36.
[iii][3] MV số 62; Tuyên ngôn Mysterium Ecclesiae, trong La Documentation Catholique, số 1636, 15.07.1973, t. 667. Dù c̣n là vấn đề chưa ngă ngũ xét theo quan điểm các khoa học truyền thông, việc phân biệt giữa ư nghĩa và h́nh thức diễn đạt vẫn là phương thức thiết dụng đối với công tŕnh giải thích Kinh Thánh và các tín điều. Liên quan đến vấn đề này, xin xem: W. Kasper, La Théologie et l'Eglise, bộ Cogitatio Fidei, 158, Cerf 1990, tt. 35-52. 87. 95-132, và R. Marlé, La question du pluralisme en théologie, trong Gregorianum 71/3, 1990, tt. 463-486, đặc biệt là các tt. 478-482)
[iv][4] Xem P. Gibert, Péché originel ou problème occidental? trong Etudes, (371/3), tháng 09, 1989, t. 254: "Ở vào một thời mà trẻ em lớp giáo lư vở ḷng nào cũng đă từng nghe nói tới học thuyết tiến hóa, nếu cứ khăng khăng dùng lối áp đặt lên trên đầu năo của chúng những quan niệm và h́nh ảnh thuộc một thời khác và hoàn toàn đi ngược lại với những ǵ các em học biết được từ nhiều phía khác, để mà tŕnh bày về nguồn gốc loài người, th́ chẳng khác chi là chủ trương bóp nghẹt cái thế quân b́nh của đức tin nơi các em cho chết mất đi". Xin xem thêm MV số 62).
[v][5] Sách viết về thuyết "Big Bang" th́ vô số! Để có một khái niệm có tính cách khoa học về thuyết này, về những khó khăn nó gặp phải, cũng như về những h́nh thức tŕnh bày nó, xin đọc J. Demaret và Ch. Barbier, Le principe anthropique en cosmologie, trong Revue des questions scientifiques, 1981, 152 trg, 181-222, và 461-509, cũng như J. Demaret, L'univers, la Physique et l'homme, trong Création et salut, Publications des Facultés universitaires St Louis, bộ Théologie, Bruxelles, 1989, tt. 45-74. Nếu muốn có một lối tŕnh bày đại chúng hơn, th́ đọc H. Reeves, Patience dans l'azur, l'évolution cosmique, bộ Points, Sciences, S 55, Seuil, 1988, tái bản lần thứ hai, và L'heure de s'enivrer: l'univers a-t-il un sens?, Seuil, 1986. Liên quan đến thuyết sinh vật tiến hóa, xin xem Joel de Rosnay, Les origines de la vie, de l'atome à la cellule, bộ Points, Sciences, S 10, Seuil, 1977; cuốn này đă được bổ túc để trở thành cuốn L'aventure du vivant, bộ Sciences ouvertes, Paris, Seuil,1988.
[vi][6] Xem Ch. Montenat, Luc Plateau, P. Roux, Pour lire la création dans l'évolution, Cerf, 1984; E. Bonné, Paléontologie et reconnaissance de l'homme, trong Etudes, janv. 1980, tt. 39-57.
[vii][7] Giữa các kiểu mẫu vũ trụ khác nhau có thể có được, kiểu vũ trụ thật sự hiện hữu như đang thấy trong thực tế đây, là kiểu đ̣i phải hội đủ những điều kiện hết sức đặc biệt đến độ, tiên nghiệm (a priori) mà nói th́ rất khó để nó có thể trở thành hiện thực được. Vậy th́ phải giải thích biện bạch thế nào đây về sự hiện hữu của nó? Có những nhà vũ trụ học đă đưa ra giả thiết cho rằng: chính sự hiện diện của con người ở trong vũ trụ đă là yếu tố quyết định cho các điều kiện ban sơ của vũ trụ được thành h́nh cũng như hội đủ, và do đó, cũng là yếu tố quyết định cho cả tính chất đẳng hướng (isotropie) hiện nay của vũ trụ nữa. Thuyết này được gọi là "Nguyên tắc duy nhân" (principe anthropique). Xem bài viết của J. Demaret và C. Barbier, op. cit., tt. 461-509, và J. Demaret, op. cit., tt. 76-83. Cũng xin xem thêm J. Ladrière, Approches philosophiques de la création, trong La création dans l'Ancien Testament, bộ Lectio Divina, 127, Cerf, 1987, tt. 13-38.
[viii][8] Xem Ch. Montenat, L. Plateau, P. Roux, Pour lire la création dans l'évolution, Cerf, 984, tt. 49. 63-81.
[ix][9] Điều này sẽ đưa đến kết luận nói rằng con cháu của cặp vợ chồng này rồi phải lấy nhau để sinh ra loài người về sau. Đúng thế, thường thường các trẻ em học giáo lư đă tức khắc phản ứng và kết luận như vậy. Nếu thế th́ ngay từ thuở khai sinh nhân loại, hành động tạo dựng đă đặt việc loạn luân như là điều kiện cần thiết cho đà phát triển về sau của loài người. Người dạy giáo lư không thể làm ngơ trước một vấn đề như thế được.
[x][10] Liên quan đến các vấn nạn mà khoa sinh vật học đặt ra cho giáo lư cổ truyền, xin xem C. Heddebaut, Biologie et péché originel, trong La culpabilité fondamentale, péché originel et anthropologie moderne, bản khảo cứu liên khoa xuất bản dưới quyền điều hành của P. Guilluy, bộ Recherches et synthèse, Gembloux, Duculot, 1975, tt. 153-164.
[xi][11] Dĩ nhiên là trừ khi có một trong các bộ môn này vượt ra khỏi lănh vực chuyên môn của ḿnh, và tự coi là có thẩm quyền tuyệt đối đối với các thành quả nghiên cứu của ḿnh. Đó không phải là chuyện hiếm xảy ra. Liên quan đến việc phân biệt giữa hai b́nh diện như đă nói trên, xin đọc những trang nhận định rất sáng suốt của Clodovis Boff, Théorie et Pratique, La méthode des théologies de libération, bộ Cogitatio Fidei, Paris, Cerf, 1990, tt. 53-58. 145-165.