AĐAM

VỚI SỐ PHẬN ĐỜI ĐỜI

 

Gérard-Henry Baudry  [1]

Felipe Gómez Ngô Minh chuyển ngữ

Ít khi người ta bàn đến  số phận cuối cùng của Ađam; nói  tới việc ông có được cứu  rỗi hay không, th́ lại càng ít hơn  nữa. Lặng thinh lúng túng vẫn để  mặc cho vấn đề nằm măi trong t́nh  trạng dây dưa, làm như số kiếp con  người đầu tiên chỉ vỏn vẹn  cốt tại ở chỗ làm tội nhân-mẫu  trong loài người, và nhất là làm  tội nhân khai mở “con đường  sa đọa” cho hết thảy con cháu của  ông. Giáo thuyết về nguyên tội đă  dồn Ađam vào lối ngơ tiêu cực  ấy. Nhưng, thử hỏi: mang thân phận  làm người ngửa nghiêng, giới  hạn, muôn đời Ađam sẽ khư khư  giữ măi thái độ bội phản chống  lại Thiên Chúa, hệt như trong trường  hợp của Satan hay sao? Tại sao lại không  nghĩ rằng ông cũng có thể thống  hối ăn năn như bao người khác?  Và nếu ông hoán cải, lẽ nào Thiên  Chúa lại không thứ tha?

Các kitô hữu thời Giáo hội sơ  khai thường quan niệm một cách lạc  quan hơn về ơn cứu độ. Nếu có  những người theo lạc giáo Tatianô  để cho rằng Ađam đă không được  cứu rỗi, th́ trái lại, các nhà  tiến sĩ của Giáo hội Công giáo hằng  tuyên xưng rằng ơn cứu độ Đức  Kitô đă hoàn tất, th́ bao trùm hết  mọi người trong nhân loại, kể từ  người đầu tiên. Dù có bị  che mờ đi phần nào kể từ sau  khi giáo lư về nguyên tội được  phổ biến rộng răi, th́ truyền thống  ấy cũng vẫn lưu tồn trọn vẹn. Tuy  nhiên, điều không ngờ là Sách  Giáo Lư Công Giáo (1993) đă dành  một chỗ đáng kể cho vấn đề nêu  ra ở đây: trong phần cuối, bài viết  sẽ có dịp bàn rộng hơn về điều  vừa nhận định.

Trước tiên, cần phải lưu ư đến  điểm này: chúng tôi quan niệm về  Ađam theo đúng những ǵ được  tŕnh thuật trong Kinh Thánh, tức như là  một nhân vật biểu hiệu, cho dù khoa  chú giải ngày nay có nghĩ sao đi nữa  về tính cách lịch sử tính của  nhân vật ấy. Điều chúng tôi lưu  ư tới ở đây là tầm trọng  yếu về mặt thần học và tu đức  của một cách kiểu tŕnh bày nguồn  gốc loài người, bởi v́, dù  cách tŕnh thuật có dùng văn thể  thần thoại đi nữa, th́ việc Ađam  được cứu rỗi cũng vẫn nói  lên theo một cung cách riêng, sứ điệp  cơ bản này của Kitô giáo: ơn cứu  độ là phổ quát: “Đức  Kitô đă chết thay cho hết thảy mọi  người” (2Cr 5,15).

 

Giáo Huấn Của Cựu Ước

Trong Cựu Ước, sau các chương đầu  của Sách Sáng Thế, nhân vật Ađam  chỉ xuất hiện một cách rất kín đáo.  Đối với các tác giả Kinh Thánh,  Ađam không phải, và không mảy may, là  nhân vật quan trọng nhất trong lịch sử;  Abraham và nhất là Môsê c̣n trổi  vượt hơn nhiều. [2] Lư do rất đơn giản:  là v́ trong các tŕnh thuật kinh thánh  về khởi nguyên, điều quan trọng hơn  hết cần phải lưu ư đến, là ư  nghĩa suy nguyên và biểu tượng. Tội  của Ađam là tội của con người.  Một khi đă xác định xong về điều  đó, Cựu Ước cũng vẫn c̣n  quan tâm đến số phận của Ađam sau  khi sa ngă, nhưng chỉ là để qua đó,  cho thấy rơ thân phận khốn cùng của  con người tội lỗi, và ḷng thương  nhân hậu hải hà mà Thiên Chúa dành  cho con người sa đọa.

Nên lưu ư là sau vụ sa ngă, Ađam  đă không bị Thiên Chúa nguyền rủa.  Trong ba nhân vật gây nên tội phạm thời  nguyên sơ, chỉ một ḿnh con rắn là  bị nguyền rủa (St 3,14). Trái lại, con người  đầu tiên đă được Thiên  Chúa xót thương: không phải chết  ngay sau khi phạm tội, nhưng là khi đă  sống tới 930 tuổi (St 5)! và tiếp tục  sống c̣n ở trong hậu duệ của ḿnh  (St 55,4). Thế nên, cuộc phiêu lưu của  loài người khởi đầu với  Ađam, vẫn c̣n tiếp diễn, chưa chấm  dứt. Ḷng ân cần săn đón của  Đấng Tạo Hóa c̣n biểu hiện qua một  cử chỉ tượng trưng, cử chỉ  trao ban áo da cho Ađam. Quan trọng hơn nữa:  Thiên Chúa đă báo trước cho biết  là rốt cuộc, loài người sẽ chiến  thắng Con Rắn khốn nạn. Nói cách khác,  sự ác nguyên thủy sẽ không thắng  được cuộc. Một tia hy vọng đă  thoáng lóe lên cho thấy trước về  ơn cứu độ. Chính đó là biến  cố thường được gọi là  Tin Mừng khởi nguyên (St 3,15). Tất cả  các nhân tố kia sẽ được giải  thích một cách ăn khớp và thỏa  đáng hơn, nếu chịu nhận là Ađam  đă phạm tội v́ yếu đuối, và  chịu giả định là Ađam đă hối  cải, và Thiên Chúa đă thứ tha.

Để soi sáng cho những bước tới  của cuộc sưu tầm này, th́ cần phải  nêu rơ một hậu quả khác của cách  kiểu cổ xưa trong lối quan niệm và tŕnh  bày về lịch sử tôn giáo của  nhân loại, cách kiểu bắt đầu với  phần tŕnh thuật có tính cách biểu  tượng về thời nguyên thủy, đó  là Sách Sáng Thế đă không mảy  may bận tâm ǵ đến số phận của  Ađam sau khi ông chết. “Ông chết,”  thế là chấm hết (St 5,5). Không có ǵ  mà phải ngạc nhiên cả, bởi v́  niềm tin kẻ chết sống lại (hay: linh hồn  bất tử) chỉ được đọc thấy  trong các phần tŕnh thuật sau này của  Cựu Ước, và cũng không phải  là hết mọi người Do thái đều  tin như thế, kể cả trong thời Đức  Giêsu. Phái Sađốc vẫn tiếp tục từ  chối, không tin; lư do là v́ họ chỉ  giữ có giáo huấn đơn thuần của  Ngủ Thư mà thôi. Vấn đề số phận  cuối cùng của Ađam sẽ được  đặt ra vào một thời sau, và chỉ  được giải đáp nơi một vài  trào lưu tư tưởng Do thái trong khoảng  giao thời giữa hai giao ước, như  sẽ tŕnh bày sau đây.

Nhưng, trước đó, cần phải nhắc  tới một truyền thống khác trong Kinh  Thánh. Dù có nằm bên lề, th́ truyền  thống ấy cũng cần phải được  bàn tới. Truyền thống ấy coi Ađam  như là một nhân vật gần như siêu  nhân, có vinh quang Thiên Chúa bao phủ, tựa  như đă không hề phạm tội, hay cho  dù đă phạm tội. Từ truyền thống  ấy, Sách Huấn Ca có ghi lại chứng  từ này: “Sem và Sét đă được  vinh hoa, nhưng trên hết mọi sinh linh, th́  có vinh dự của Ađam” (Hc 49,16, xem  Kn 10,1-2). Câu này cũng sẽ được  gặp thấy trong một số ngụy thư Cựu  Ước.

 

Văn Phẩm Hồi Giáo Thời Giữa  Hai Giao ước

Trong các văn bản phát hiện tại Qumrân,  không một tài liệu nào đề cập  đến Ađam. Ít có những câu, những  đoạn ám chỉ đáng kể về con người  đầu tiên. Khi nói về “di sản Ađam,” [3] nhà b́nh giải  Thánh vịnh 37 không có ư chỉ về di  sản nguyên tội, như người ta thường  nghĩ. Trái hẳn lại, từ ngữ đó  chỉ về những ǵ tốt đẹp, quư  giá, bởi v́ di sản ấy được  dành cho những người “hoàn thiện,”  “sống cuộc đời hoán cải trong  hoang địa,” tức là các phần tử  trong cộng đồng của họ. Di sản ấy  là chính việc “chấp hữu thế giới,”  như Sách IV Étra (XXII,13-15) đă  nói rơ khi ám chỉ đến tŕnh thuật  về công tŕnh tạo dựng con người  (St 1,28). Cũng có thể giải thích theo một  cách thức khác để hiểu “di sản  Ađam” là Địa đàng đă t́m  lại được mà Di chúc của Lêvi có nói đến. Thật vậy, tổ phụ  Lêvi đă tiên báo về ơn cứu  độ thiên sai mà “vị tư tế mới”  sẽ mang đến: “Dưới nhiệm kỳ  tư tế của Ngài, tội lỗi sẽ biến  tan đi (...) Chính Ngài sẽ mở các  cửa Địa đàng ra, và đẩy lui  xa thanh gươm hăm đe Ađam.” [4] Chẳng  phải đó là cách nói bóng để  chỉ về việc Ađam sẽ trở lại Địa  đàng?

Quả thế, một số các sách ngụy thư  mạo đề, như Di chúc Abraham chẳng  hạn, c̣n giới thiệu về cả một  Ađam đă được vinh hiển. Trong các  sách ấy, Ađam xuất hiện như là một  con người lạ thường, “khủng  khiếp như h́nh ảnh Đấng Tối Cao,”  tức như là h́nh ảnh của Thiên  Chúa. Ông ngồi trên ngai vàng, làm nhân  chứng trong cuộc phán xét để các  người công chính đi qua cửa hẹp  hầu hưởng ơn cứu độ muôn  đời, và các tội nhân đi qua cửa  rộng mà chịu h́nh phạt muôn kiếp:  thấy người được thưởng  th́ ông vui mừng, thấy người bị  phạt th́ ông thương khóc. [5] Rơ ràng là cách kiểu  gợi h́nh kỳ lạ kia về Ađam, đă  đặt con người đầu tiên về  phía những người được cứu  độ. Nói cho đúng hơn, xem ra ông đă  được dành cho một địa vị đặc  biệt và có thể nói là ưu đăi  nữa, xét v́ ông là con người  nguyên sinh: làm như ông đă được  trở về lại trong t́nh trạng hiển  vinh trước khi sa ngă phạm tội. [6]

Số phận cuối cùng (post mortem) của  Ađam đă được cuốn sách Cuộc  đời Ađam và Evà đặc biệt  bàn đến và khai triển rộng răi.  Số phận ấy được gợi lại  qua hai giai đoạn, theo quan niệm nhị nguyên  về con người, tức là quan niệm  coi con người có hai phần: hồn (hay tinh  thần) và xác. Trước tiên là  tŕnh bày về việc linh hồn của Ađam  lên trời. Sau khi Ađam chết, một chiếc  thiên xa đáp xuống bên cạnh ông,  rồi các thiên thần khẩn cầu Chúa  thương xót ông. Ngay sau khi Thiên Chúa  phán ra lời tha thứ, th́ “một  trong các luyến thần đă mang Ađam đến  hồ địa ngục, tắm rửa cho ông  ba lần, và đưa ông ra trước nhan  Thiên Chúa” (XXXVII,3). [7] Lúc đó, “ngồi trên  ngai,” Thiên Chúa “đă đưa tay ra  nắm lấy Ađam, trao ông cho tổng sứ  thần Micaen và nói: 'Hăy đưa ông  đến Địa đàng và để ông  ở đó cho đến ngày trọng đại  và kinh khủng, ngày Ta tính sổ thế gian”  (tức là ngày phán xét chung) (Ibidem, 4-5).

C̣n xác của Ađam th́ ở lại dưới  đất, và được chính Thiên Chúa  đến viếng thăm: Thiên Chúa quở  trách nó v́ đă không chịu phục  tùng, nhưng cùng lúc, Ngài cũng đă  đặt trách nhiệm đầu tiên của  hành động bất phục tùng ấy lên  trên đầu Satan và các thần dữ  bộ hạ của nó. Rồi Ngài công bố  quyết định tha thứ của Ngài, và  việc hồi phục vinh quang nguyên thủy cho  Ađam. “Ta sẽ lại đặt con vào trong  quyền uy của con, và sẽ để con ngồi  trên ngai của kẻ đă lừa dối  con” (XXXIX, 2-3).

Một văn bản thật lạ thường,  lạ thường về nhiều mặt: ơn cứu  độ Ađam nhận được, không phải  là thành quả phát xuất từ ḷng  thống hối của ông, cho dù ḷng thống  hối ấy có được nhắc đến  ở trong một đoạn khác, [8] cũng chẳng phải là  kết quả hành động cứu độ  của một vị cứu tinh nào đó; ơn  cứu độ ấy đơn thuần được  coi như là hoa trái nẩy sinh từ ḷng  nhân hậu của Thiên Chúa đối với  tạo vật khốn khổ của Ngài. C̣n  kỳ lạ hơn nữa: Ađam sẽ chiếm  giữ ngai của Satan, thần sứ sa đọa,  là kẻ chịu trách nhiệm về nguyên  tội. Như thế là Ađam đạt được  đến một trạng thái thiên thượng  siêu nhân, như một thiên thần. Felix  culpa!

Sau đó, Thiên Chúa đă cho ướp  hương và chôn cất xác của Ađam  tại chính chỗ Ngài đă lấy bùn  đất để nắn lên thân xác của  ông. Cuối cùng, câu truyện kỳ diệu  ấy đă kết thúc với lời hứa  sẽ cho Ađam và hết thảy con cháu của  ông sống lại. Đượm đầy hy  vọng vào ơn cứu rỗi phổ quát  (dành cho mọi người), văn bản kia  biểu hiện một tinh thần lạc quan sâu  rộng. Trái ngược với giáo thuyết  kitô cổ truyền về nguyên tội, văn  bản đă giảm nhẹ hay ít ra là tương  đối hóa đi lỗi phạm của Ađam,  để rốt cuộc tha bổng hẳn mà, nhất  là, không mảy may đề cập ǵ đến  một vị cứu tinh. Ơn tha thứ và  cứu rỗi Ađam nhận được, là  công tŕnh trực tiếp của Thiên Chúa,  không nhờ vào một vị trung gian nào  khác cả: điều này chứng tỏ rằng  văn bản kia là một tài liệu Do thái.

 

Tóm lại, truyền thống Do thái giáo thời  đầu kỷ nguyên kitô là một truyền  thống có lối nh́n lạc quan về số  phận đời đời của Ađam, cầm  chắc là ông đă được cứu  rỗi. Nếu con người đầu tiên được  cứu rỗi, dù đă là người  đầu tiên phạm tội và là nguyên  nhân gây họa cho cả loài người,  tất phải kết luận rằng rất có lư  để hy vọng là Thiên Chúa cũng sẽ  lấy ḷng nhân hậu của Ngài mà đối  xử với hết thảy con cháu của  ông. Truyền thống ấy sẽ vẫn tiếp  tục lưu tồn qua các văn phẩm kitô  cổ thời. Nhưng trước hết, xin  được tiếp tục tiến hành cuộc  suy cứu với việc thăm ḍ lập  trường của các tác giả Tân Ước.

 

Tân Ước

So với các văn phẩm hồi giao thời  giữa hai giao ước như thấy trên  đây, th́ trong những ǵ liên quan đến  con người đầu tiên, lập trường  của Tân Ước có vẻ rất “chậm  tiến.” Theo tŕnh thuật của các Phúc  Âm, Đức Giêsu xem ra không lưu ư  nhiều đến Ađam trong khi Ngài giảng dạy.  Dù sao th́ các Phúc Âm nhất lăm  cũng như Gioan đă không đề cập  đến ông một cách rơ ràng. C̣n  Phaolô, là tác giả đă viết các  thư trước thời các Phúc Âm,  th́ lại khác hẳn.

 

Đối Chiếu Ađam-Kitô

Thật vậy, chính Phaolô là người  đă làm cho các kitô hữu chú  ư đến Ađam, với việc đem Ađam  đối chiếu với Đức Kitô: một  bên là nguyên căn tội lỗi; bên  kia là nguyên nhân cứu độ. [9] Trong khuôn khổ biện  chứng ấy, vấn đề cứu rỗi  Ađam không được đặt ra. Vả,  Phaolô cũng không mấy để ư đến  chiều kích lịch sử của con người  Ađam cho bằng lưu tâm đến ư nghĩa  mà ông mang lại cho lịch sử loài  người. Ư nghĩa này có hai mặt:  Ađam không chỉ là người đă  đưa tội lỗi và sự chết vào  trong thế gian, nhưng hơn nữa, ông c̣n  là “h́nh ảnh của Đấng sẽ  đến” (Rm 5,14).

Ở đây, chúng tôi không có ư  t́m xem chiều kích thứ hai -- rơ  ràng là tích cực -- trong ư nghĩa  vừa nói, có thực sự ăn khớp  với chiều kích thứ nhất hay không.  Không có nhà chú giải nào là không  nêu bật cho thấy rằng việc so sánh Ađam  với Đức Kitô là một việc  làm phức tạp và mù mịt. [10] Có lẽ, đằng sau việc so sánh kia, c̣n  có nhiều truyền thống Do thái khác nhau  về Ađam, như chúng tôi đă nhắc  đến trên kia, mà Phaolô đă cố  phối ḥa và sử dụng vào trong luận  chứng của ḿnh.

Và rốt cuộc, đối với Phaolô,  trọng điểm chủ yếu nhất chính là  con người của Đấng Cứu Thế,  và chiều kích phổ quát của ơn cứu  độ Đức Kitô mang đến cho thế  giới. “Nhờ một người duy nhất  (Đức Kitô) đă vâng lời Thiên  Chúa, muôn người sẽ được  nên công chính” (Rm 5,19). “Nhờ liên  đới với Đức Kitô mà mọi  người được Thiên Chúa cho  sống” (1Cr 15,22; x. 2Tm 1,10). Ai mà không biết  rằng vị tông đồ dân ngoại đă  đem hết nghị lực ḿnh ra để rao  giảng về phổ quát tính của ơn cứu  độ. [11] Có cần phải nhắc đến thâm tín  của ngài về việc khôi phục và quy  tập tất cả mọi sự dưới quyền  một thủ lănh là Đức Kitô (x.  Ep 1,10; Cl 1,18-20): để cuối cùng rồi “Thiên  Chúa sẽ là tất cả trong tất cả”  (1Cr 15,28)? Và cả đến nguyên tắc sau  đây nữa, là kim chỉ nam hướng  dẫn toàn bộ khoa Cứu độ học  kitô: “Ở đâu tội lỗi đă  lan tràn, th́ ở đó ân sủng càng  chứa chan gấp bội (...) Thiên Chúa đă  giam hăm mọi người trong tội không  vâng phục, để thương xót mọi  người” (Rm 5,20; 11,32)? Có thế, ơn  cứu rỗi Ađam mới ḥa nhập dễ  dàng và êm đẹp được vào  trong viễn cảnh vĩ đại ấy của ơn  cứu độ phổ quát. Sau này, đa  số các giáo phụ cũng đă hiểu  như thế. Tuy nhiên, phải nhận rằng tuyệt  nhiên Phaolô đă không nói một lời  nào về điểm này.

Thư thứ nhất của Phêrô cũng  giữ thái độ lặng thinh ấy, cho dù  có nhắc đến một sự kiện kỳ  lạ: một vụ Đức Giêsu thuyết  giảng cho các kẻ chết (1Pr 3,18-22 và 4,6),  và dù có đóng vai tṛ phác thảo  cho những ǵ sẽ trở thành một  chủ đề rất quen thuộc đối với  đại chúng trong thời đầu của  Kitô giáo, tức là chủ đề Đức  Kitô xuống ngục tổ tông. [12]

 

Văn Phẩm Kitô Cổ Thời

Bởi v́ bối cảnh Đức Kitô  xuống ngục tổ tông là môi trường  thích hợp nhất cho việc t́m hiểu về  số phận đời đời của Ađam,  thế nên, trước tiên cần phải  giải thích cho thấy lư do tại sao lại  có một cách kiểu cổ xưa như thế  được dùng để tŕnh bày về  một khía cạnh trong mầu nhiệm phục sinh.  Thật vậy, người thời nay không  thể không ngỡ ngàng ngạc nhiên khi  gặp thấy một lối tŕnh bày như thế.

 

Đức Kitô xuống ngục tổ  tông

Tiên quyết là phải dè chừng những  cách dùng từ mơ hồ nước đôi.  “Ngục” hiểu theo thần học cổ điển,  là từ dùng để biểu đạt khái  niệm kitô chỉ về một nơi dành cho  các đọa nhân. “Ngục” cũng có  thể có nghĩa là “địa ngục,”  và dù có nhiều cách cắt nghĩa khác  nhau, th́ cách chung, theo thần thoại tây  phương cũng như đông phương, “địa  ngục” cũng vẫn là nơi cư ngụ  của các kẻ chết, là “cơi âm”  (=âm phủ, âm ty). Trong Do thái giáo và  Kitô giáo, để chỉ về “địa  ngục,” tín hữu nói tiếng Hipri dùng  từ Shêol, c̣n tín hữu nói  tiếng Hy lạp (như các giáo phụ Hy lạp  chẳng hạn) th́ dùng từ Hadês.  Có dùng từ nào đi nữa, th́  cũng cần phải hiểu theo ư nghĩa của  từ Shêol, bởi v́ vấn đề  đang bàn là một vấn đề đặt ra từ trong bối cảnh Hipri.

Đối với các tác giả Kinh Thánh,  địa ngục (Shêol) nằm sâu trong  ḷng trái đất (Tv 63,10; Is 14,15). Và thế  giới dưới đất ấy, thế giới  của các nấm mồ, chính là nơi lưu  ngụ của những người quá cố,  lành cũng như dữ. Quan niệm này sẽ  biến hóa với đà tiến phát của  nhân học do giao tiếp với tư tưởng  Hy lạp và với các ư niệm Do thái  về cánh chung. Và từ đó sẽ thành  h́nh ư niệm phân biệt giữa hai loại  trú sở: cơi âm các chính nhân  và cơi âm các tội nhân. Nhưng nói  chung th́ theo truyền thống, địa ngục bao  giờ cũng mang ư nghĩa chỉ về nơi  cư trú của các kẻ chết. Cách nói  bóng “xuống ngục” đơn thuần, hay  ít nhất là trước tiên, có nghĩa  là “chết” (theo nghĩa đen), chứ  không ǵ khác hơn. Khi các kitô hữu  đầu tiên, gốc Do thái, khẳng quyết  Đức Giêsu “đă xuống ngục  (Shêol),” là họ muốn nói rằng  Ngài đă chết thật, Ngài đă phải  chịu số phận tử vong của hết thảy  mọi người kể từ Ađam. Cũng  như nhân tính của Ngài, cái chết  của Đức Giêsu không phải chỉ  là một hiện tượng biểu kiến  hay bên ngoài, như là một ảo tưởng.  Đức Giêsu đă thực sự  đi qua kinh nghiệm tử vong của loài người.  Đó là ư nghĩa đầu tiên và  căn bản của từ ngữ “xuống  ngục” mà về sau, một số bản tuyên  tín (kinh Tin kính) sẽ dùng vào trong nội  dung của ḿnh. Cũng vậy, h́nh ảnh ngược  lại: “lên khỏi ngục” và “lên  từ cơi âm (nơi các kẻ chết)”  muốn nói là: sống trở lại, phục  sinh, sống lại (xem Rm 10,7; Dt 12,20; Cv 2,14).

Thế th́, các h́nh ảnh dùng theo phép  ẩn dụ Do thái: “xuống ngục” và  “lên khỏi ngục” chỉ là những  biểu tượng song đôi mang ư nghĩa  trước tiên chỉ về sự chết  và sự sống lại của Đức Kitô.  Chính v́ vậy mà các h́nh ảnh đó  đă không cần có mặt ở trong  các công thức tuyên tín đầu tiên,  bởi lẽ về mặt giáo lư, chỉ cần  khẳng định Đức Kitô đă chết  và đă sống lại là đă đủ.

Nhưng, như vẫn thấy xảy ra, các công  thức biểu đạt theo lối dùng h́nh  ảnh th́ thường được đại  chúng ưa chuộng hơn là những công  thức trừu tượng. Rồi với  đà tưởng tượng, các cách  tŕnh bày bằng h́nh ảnh --chứ không  phải là chỉ một ḿnh ư niệm trừu  tượng mà thôi --lại được  thêu dệt thêm ra: đó chính là cách  kiểu h́nh thành của thần thoại.

Tiến tŕnh ấy sẽ từ từ đi  đến chỗ thêm vào, khoảng năm 400,  trong kinh Tin kính các Tông đồ câu “Xuống  ngục tổ tông.” [13] Tuy nhiên, từ sau đó, câu thêm ấy  không chỉ đơn thuần mang ư nghĩa xác  định về sự việc Đức Kitô  đă chết thật, mà c̣n hàm xúc  cả việc minh nhiên hóa một ư tưởng  thần học khác nữa, đó là việc  áp dụng các thành quả của cái chết  cứu độ ấy cho những ai đă  qua đời trước Ngài (hiệu lực  hồi tố của công tŕnh cứu độ).  Công thức ấy c̣n giúp minh họa cho  sứ điệp Tin Mừng này là: Đức  Kitô đă chết cho hết thảy mọi người.  Vậy th́, nói cho hết lẽ, ơn cứu  rỗi Ađam tất cũng phải có mặt ở  trong viễn cảnh ấy, như đă thấy ở  trong các văn phẩm kitô đầu tiên.

 

Chứng từ của các thế  kỷ đầu

 

Xin tạm gác một bên một số tác  giả trong ba thế kỷ đầu, chẳng hạn  như là: Hermas [14] hoặc Clêmentê Alexanđria. [15] bởi v́, dù có nói đến  biến cố xuống ngục, họ cũng đă  không đề cập ǵ một cách rơ  ràng, tới việc cứu rỗi Ađam.  Nếu, như trong các trường hợp  vừa kể, trong cuốn Chống Celsô, Origênê chỉ khẳng định niềm tin chung  vào biến cố Đức Kitô xuống ngục  mà không đề cập ǵ đến ơn  cứu rỗi Ađam, [16] th́ ngược lại, trong  một bài giảng về Sách Sáng Thế,  tác giả đă minh giải rất rơ về  một điểm liên quan đến Ađam: “Con  Một của Ngài (Thiên Chúa) đă xuống  ngục để cứu độ nhân thế  và đă đem con người đầu tiên  (protoplastum) ra khỏi nơi ấy.” [17] Nên lưu ư là  không phải đơn thuần nhắc lại truyền  thống mà thôi, nhà đại thần học  thành Alexanđria c̣n nêu rơ cho thấy  tầm trọng yếu thần học của điểm  giáo lư ấy nữa, tức là: ”để  cứu độ nhân thế.” Nhưng, nhà  thần học lớn nhất trong vấn đề  ơn cứu rỗi Ađam vẫn là thánh  Irênêô thành Lyon ( khoảng năm  200).

 

Irênêô thành Lyon

 

Trong tác phẩm Chống các lạc giáo,  Irênêô đă khẳng định lại  nhiều lần về biến cố Đức Kitô  đi xuống “trong ḷng đất.” Lần  nào Irênêô cũng lấy câu văn  huyền bí Ep 4,9: “Ngài đă xuống  tận các vùng sâu thẳm dưới mặt  đất” (III,19.3;IV,22.1-1; 27.2; V,31.1-2)  làm cơ sở cho luận chứng của  ḿnh. Có điều lạ là vị giám mục  thành Lyon đă không nhắc nhở ǵ  tới Thư thứ nhất của Phêrô,  mà dường như ngài đă không  biết đến. Ngược lại, ngài thường  trưng dẫn một câu ngài coi là của  Giêrêmia (IV,22,1), hay của Isaia (III,20,4),  hoặc là cách chung, của các tiên tri  (IV,27,2; 33,12; V,31,1), đó là câu:

“Đức Chúa, Đấng Thánh  của Ítraen, đă nhớ đến các  kẻ quá cố của Ngài đang yên ngủ  dưới đất mồ, và Ngài đă  xuống với họ để loan báo cho họ  tin mừng về ơn cứu độ đến  từ Ngài, để cứu vớt họ.”

Không đọc thấy trong các văn bản  quy điển (Kinh Thánh), đoạn trưng dẫn  này có thể là được rút ra  từ tập testimonia (chứng từ), là  một tập tóm lược những ǵ  truyền thống kitô nói về chủ đề  đang bàn tới. [18]

Trong lần đầu tiên nhắc đến sự  việc Đức Kitô “xuống ngục,”  tác giả tập sách đă giải thích  về mục đích của biến cố ấy như  sau:

“Ngài đi t́m con chiên lạc (x.  Lc 15,4-6), tức là tác phẩm chính Ngài  đă nắn đắp nên, là Ađam (x.St  2,7), rồi Ngài lên cao (x. Ep 4,9-10) để dâng  tiến và trao về cho Cha Ngài con người  đă t́m lại được, cũng như  để hoàn tất nơi chính ḿnh bước  đầu tiên trong tiến tŕnh sống lại  của loài người” (III,19.3; x. III,23.1).

Theo đoạn văn tuyệt diệu này, th́  ơn cứu rỗi Ađam là dấu tiên trưng  và là mẫu tiêu biểu cho ơn cứu  độ phổ quát. Chính thế, trong các  đoạn khác, tác giả đă viết rằng  Đức Kitô đă xuống “trong các  vùng sâu thẳm dưới mặt đất”  đến với tất cả những người  công chính, để công bố ơn cứu  độ ban tặng cho mọi người,

“v́ Đức Kitô không chỉ  đến cho những ai, kể từ triều  đại hoàng đế Tibêriô trở  về sau, đă tin vào Ngài; và Thiên  Chúa Cha cũng không chỉ quan pḥng cho những  người sống trong thời này mà  thôi, nhưng c̣n cho tất cả những  ai, kể từ nguyên thủy, đă biết  theo khả năng của ḿnh và hoàn cảnh  trong thời ḿnh, mà kính sợ và  yêu mến Thiên Chúa, mà thực thi  công bằng và nhân hậu đối với  tha nhân, mà ao ước được gặp  thấy Đức Kitô và nghe theo tiếng  của Ngài” (IV,22.1-2; x. 27.2; 33.1; V,31. 1-2).

Nhân vật Ađam đă giúp cho Irênêô  có được những nhân tố cần  thiết để tŕnh bày rơ về tầm  cỡ bao la của kế hoạch t́nh yêu mà  Thiên Chúa đă đề xuất cho loài  người. Đành rằng Ađam đă phạm  tội, và là tội nhân đầu tiên  đă lối cuốn nhân loại cùng đi  vào con đường bất tuân của ḿnh  (III,23.1-8; V,16.3; 21.1; 34.2). Nhưng, đă được  tạo dựng theo h́nh ảnh Thiên Chúa,  Ađam cũng là, như Phaolô đă nhận  định, “h́nh ảnh của Đấng sẽ  tới”(Rm 5,14), bởi v́, Ngôi Lời,  Đấng tạo thành vũ trụ, đă từ  trước, phác thảo ở nơi Ađam,  đề cương cho “kế hoạch (tương  lai) về thân phận làm người của  nhân loại mà Con Thiên Chúa sẽ mặc  lấy” (III, 22,3). Như thế, để luận  chứng cho ăn khớp với “kế  hoạch” cứu độ, th́ phải kết  luận là cả Ađam nữa cũng đă  được cứu rỗi “một khi đă  sống qua thời gian chịu h́nh phạt v́  bất tuân” (III,23,1). V́ yếu đuối  Ađam đă sa ngă phạm tội, ngây thơ  nghe theo cho Con Rắn lừa bịp; nhưng ông  đă thống hối và Thiên Chúa đă  đem ḷng khoan dung tha thứ cho ông (III,23,3,5-7).  Cuối cùng, Ngài đă tiên báo cho  ông biết là Con Rắn sẽ bại trận  (x. Tin Mừng khởi nguyên).

 

Nếu Ngôi Lời Thiên Chúa đă đến  cứu vớt nhân loại, th́ Ađam cũng  phải được cứu rỗi.

 

“Nếu con người đă được  cứu rỗi, th́ tất phải làm sao để  cho con người đă được nắn  đắp nên đầu tiên, cũng được  cứu rỗi. Là chuyện hết sức phi  lư, nếu người bị kẻ thù (= Quỷ  dữ) gây thương tổn trầm trọng,  và trước ai hết, đă phải khổ  đau v́ cảnh cầm tù, lại không được  giải phóng bởi Đấng đă chiến  thắng kẻ thù, trong khi con cái ông sinh  ra trong cảnh cầm tù ấy th́ lại được  giải thoát” (III,23,2).

Do sự việc Ngài sống lại, Đức  Kitô đă thắng sự chết và chúa  trùm sự chết; thế th́ điều hợp  lư là con người nạn nhân đầu  tiên của chúng, cũng được hưởng  phần trong cuộc vinh thắng ấy. V́ thế,  “Ađam đă có lại được sự  sống.” Chính đó là dấu chỉ cho  thấy rằng tội lỗi và sự chết  đă bị Đức Kitô đánh bại,  và sự sống lại đă được  hứa ban cho hết mọi người. Ơn  cứu rỗi Ađam cũng chính là dấu  chỉ về hiệu lực thực sự của  ơn cứu độ đối với toàn  thể nhân loại. Quả vậy, Irênêô  viết rằng không có đủ lư chứng  để nói là thần chết đă bị bại trận, “nếu chính con người  đă từng bị thần chết đặt  ách thống trị lên đầu lên cổ  trước ai hết, lại không được  giải thoát, bởi v́ cứu thoát  người ấy có nghĩa là tiêu diệt  thần chết. Vậy, nếu Thiên Chúa đă  làm cho con người, tức là Ađam,  sống, th́ rơ ràng là thần chết đă  thực sự bị tiêu diệt” (III,23,7).

Thực ra, đó là lập trường  có liên hệ đến toàn bộ hệ thống  thần học của Irênêô. Và bởi  coi đó là lập trường duy nhất  chính thống, nên tác giả lại càng  bênh vực quan điểm kia một cách cương  quyết hơn. Cũng v́ vậy mà tác giả  đă mạnh mẽ chống bác lập trường  của Tatianô và những ai phủ nhận  ơn cứu rỗi Ađam. Tác giả cũng  đă không ngần ngại gọi họ là  “lạc giáo và bội tín đối với  chân lư” và quan điểm của họ  là “phạm thượng” (I,28,1); bởi  v́ làm thế, là họ đă thực  sự đặt lại vấn đề đối  với toàn bộ giáo lư kitô. Tác  giả nhấn mạnh thêm rằng nếu Ađam  đă không được cứu rỗi,  th́ “toàn thể nhân loại vẫn c̣n  phải nằm dưới ách thống trị của  sa đọa.” Nếu tội lỗi và sự  chết không bị đánh bại từ gốc  rễ, th́ ơn cứu độ loài người  chỉ là ảo ảnh.

Irênêô có một lối lư luận  thần học rất sít sao, chặt chẽ. Nếu  Nhập thể là hiện thực, và công  cuộc Cứu độ là hiện thực,  ắt hẳn ơn cứu độ cũng là  hiện thực. Kế hoạch cứu độ  của Thiên Chúa là một chặng khai triển  tất nhiên trong tiến tŕnh lôgic của  công cuộc tạo dựng con người,  tác phẩm của t́nh yêu. Thế nên,  Đức Kitô quy tập Ađam vào trong chính  ḿnh Ngài để cứu vớt, cũng  nơi chính ḿnh Ngài, những ǵ đă  bị hư mất đi nơi con người đầu  tiên (III,18,1; 21,10; V,12; 14,1); sở  dĩ để ư nhấn mạnh đến ơn  cứu rỗi Ađam nhiều như thế, chính  là v́ Irênêô thâm tín rằng đó  không phải là một vấn đề c̣n  tự do thả nổi, quan niệm sao th́ tùy  ư, một chuyện bên lề không đáng  kể của suy tư thần học, nhưng không,  đó là một điểm tất yếu, là  một hệ luận phát nguyên từ tính  chất hiện thực và hữu hiệu của  ơn cứu độ Đức Kitô đă  mang lại cho toàn thể nhân loại.

Với Irênêô, đă h́nh thành  một công tŕnh tổng hợp thần học  nối kết được những cách nh́n  lạc quan mà Do thái giáo thời đầu  kỷ nguyên kitô đă đề xuất về  số phận của Ađam (như đă thấy  tŕnh bày trước đây), với  nhăn quan kitô về ơn cứu độ phổ  quát. [19] Sau Irênêô, truyền thống kitô, nhất  là bên Đông phương, đă không  bao giờ bỏ quên những giáo huấn  bậc thầy mà vị giám mục thành Lyon  đă để lại. Sau này, chủ đề  về ơn cứu độ Ađam thường  được nêu lên nhiều nhất là  trong bối cảnh Đức Kitô xuống ngục,  như đă tŕnh bày ở trên kia. Tin  Mừng ngụy thư của Nicôđêmô  là một trong những thí dụ minh họa  đáng chú ư nhất.

 

Tin Mừng theo Nicôđêmô

 

Tác giả Tin Mừng ngụy thư theo Nicôđêmô  đă lấy lại nhiều truyền thống khác  nhau về sự việc Đức Kitô xuống  ngục, và sắp đặt lại thành một  thiên tŕnh thuật lư thú thu gặt được  thành công lớn v́ rất được  ưa chuộng. Bản tŕnh thuật ấy đă  gây được một ảnh hưởng  quyết định dẫn đường cho toàn  bộ nghệ thuật ảnh thánh về chủ  đề này, [20] và đă cung cấp chất liệu  phong phú cho óc tưởng tượng của  nhiều thế kỷ kitô sau này.

Trước tiên, thiên tŕnh thuật kể  lại nhiều vụ can thiệp mà một vài  cư dân nổi tiếng của địa ngục  đă làm: các lần Isaia và Gioan Tẩy  giả nhắc lại là ḿnh đă tiên  báo về Đấng Thiên Sai; và tiếp sau  đó là vụ can thiệp của Ađam, thu  tóm lại một đoạn trích từ Cuộc  Đời Ađam và Evà, như đă  giới thiệu trên kia. Trước khi chết,  Ađam đă sai con ḿnh là Sét đi tới  cửa Địa đàng để xin “dầu  nhân hậu” chữa cho ông lành. Lời  yêu cầu bị từ chối, nhưng lại  được hứa sẽ ban cho ơn cứu  độ:

“Hăy nói với cha ngươi là  phải để cho thời gian 1500 năm kể  từ buổi tạo dựng vũ trụ trôi  qua trước đă; rồi sau đó, Con  Một của Thiên Chúa sẽ làm người  xuống giữa trần gian, và Ngài sẽ  xức cho cha ngươi thứ dầu ấy để  làm cho ông sống lại. Lấy nước  và Thần Khí, Ngài sẽ rửa cho cả  ông lẫn các con cháu của ông. Lúc  đó, ông sẽ được chữa  lành khỏi mọi bệnh chứng ṃn mỏi  suy nhược...( §19). [21]

 

Sau trận xung kích vào địa ngục, là  cuộc giải phóng các kẻ chết và  vụ bắt trói Satan,

 

“ÀVua vinh quang' (Đức Kitô) đă  đưa tay nắm lấy Ađam, tổ phụ đầu  tiên của loài người chúng ta và  đă làm cho ông sống lại. Sau đó,  quay về phía các người khác, Ngài  nói: ÀHỡi các ngươi tất cả là  những kẻ v́ cây gỗ [22] người  này đă chạm đến, mà chết, hăy  đến với Ta. V́, này đây, nhờ  gỗ thập giá, Ta nâng tất cả các  ngươi lên'. Ngay lúc đó, Ngài đă  đưa tất cả ra khỏi địa ngục; tràn  ngập hân hoan, Ađam, tổ phụ đầu tiên  của chúng ta, đă thốt lên: ÀLạy  Đức Chúa, tôi xin cảm tạ ḷng  đại lượng của Ngài, v́ Ngài  đă giải thoát tôi khỏi vực thẳm  địa ngục này' (...) Trong khi Ađam c̣n  đang nói, th́ Đức Chúa ghi dấu  thánh giá lên trán ông [23] mà  chúc lành cho ông. Ngài cũng làm như  thế với các tổ phụ và các tiên  tri, với các vị tử đạo và  các tiền nhân, và chỉ nháy mắt,  là Ngài đă đưa họ ra khỏi địa  ngục (...) Đức Kitô cầm tay dắt Ađam,  tổ phụ đầu tiên, đến Địa  đàng, và phó thác ông cùng hết  thảy mọi người công chính, cho tổng  thiên sứ Micaen...” (§§24-25).

Lẽ ra phải b́nh giải dài rộng hơn  về thiên tŕnh thuật kỳ diệu này;  nhưng ở đây chúng tôi chỉ xin  nêu lên một vài nhận định tổng  quát mà thôi: sự việc Ađam cũng  như các người công chính sống  trước thời Đức Kitô (như  các tổ phụ, các tiên tri, các vị  tử đạo) đều được cứu  rỗi, đă được khẳng định  một cách rơ ràng; c̣n việc nhắc  nhở đến “các tiền nhân” ở  cuối danh sách, th́ không để lộ một  ư nghĩa rơ ràng cho lắm. Nếu nhắc  nhở như thế là có ư muốn chỉ  về các người công chính khác,  th́ trú sở các kẻ chết mà Đức  Kitô đă phá hủy, chỉ là một  phần của địa ngục, tức phần dành  cho những người công chính, và  các tội nhân quá cố đă không  được dự phần vào trong cuộc  giải phóng kia. Đúng vậy, thực tế  cho thấy là cách hiểu này đă thật  sự thắng thế.

Tuy nhiên, thiên tŕnh thuật về việc  phá hủy địa ngục như tŕnh bày  trên đây (§ 20-23), đă không cho thấy  một dấu vết nào biện bạch cho một  lối nh́n thu hẹp như thế. Hơn nữa,  một vài chi tiết trong thiên tŕnh tuật  ấy lại c̣n cho thấy một viễn ảnh  trái hẳn với lối nh́n này, chẳng  hạn như những lời sau đây được  đặt vào miệng của Hađê (ông  chủ địa ngục) để nói với  Satan: “Tao e rằng y (Đức Kitô) có  đến đây, th́ cũng chính là để  cứu thoát hết mọi tội nhân này,  là những kẻ chết nằm trong tay tao. Tao  nhắc lại cho mày là, (...) nếu mày để  y xuống đây, th́ không một vong nhân  nào sẽ c̣n nằm dưới quyền của  tao nữa cả” (§ 20). Cũng vậy, sau  khi Đức Kitô vinh quang tiến vào địa  ngục, “tất cả các kẻ chết đều  được tháo gỡ xiềng xích đă  trói buộc họ” (§ 22,3). Rồi, một  lần nữa, trước cảnh địa ngục  trống vắng, Hađê đă nói với  Satan rằng:

“Mày coi đó: tao không c̣n có  lấy một vong nhân nào nữa cả. Hết  thảy những kẻ mà mày đă dành  được nhờ cây biết lành biết  dữ, th́ đây, cây thập giá đă  dành lại tất cả khỏi tay mày rồi...  Ôi Thần chết, căn duyên tội lỗi!  (...) Tại sao mày lại t́m cách để  làm cho rơi vào trong cơi tăm tối này  một con người như thế, con người  đă tước đoạt từ tay của  mày hết thảy mọi kẻ chết, kể từ  nguyên thủy?” (§ 23).

Rơ ràng là các đoạn vừa trưng  dẫn trên đây đều gợi lên  h́nh ảnh của một địa ngục trống  vắng, và ơn cứu rỗi mà tất cả  những ai đă ra đi trước thời  Đức Kitô, cũng đều nhận được.  Thế nên, để cho đúng lư, th́  cần phải hiểu từ ngữ “tiền  nhân” dùng đến trong đoạn lược  kê những người đă được  cứu rỗi cùng với Ađam (§24),  theo nghĩa chỉ về tất cả mọi người  quá cố.

 

Một chủ đề của mọi thời

 

Ăn sâu vào trong truyền thống rất cố  cựu, [24] chủ đề về ơn cứu  rỗi Ađam, gắn liền với chủ đề  xuống ngục tổ tông, vẫn c̣n được  đề cập đến tại Tây phương  cũng như bên Đông phương, cho tới  ngày nay. Các tác giả viết về chủ  đề th́ nhiều vô kể; v́ vậy, tốt  hơn là chỉ xin nêu ra sau đây một  vài nhận xét tổng quát.

Như đă nhận định trên kia, với  việc h́nh thành giáo thuyết về nguyên  tội --mà thánh Âugutinô đă khéo  léo tŕnh bày qua một cách thức biểu  đạt thần học khúc chiết và đầy  đủ nhất-- không nhiều th́ ít, chủ  đề về ơn cứu rỗi Ađam đă  bị che mờ đi trước mắt các  nhà thần học Tây phương. [25] Dù sao cũng  cần phải nói cho rơ là trước  tác động sâu rộng của một truyền  thống cố cựu và vững chắc như  thế, [26] dĩ nhiên Âugutinô giữ  nguyên xác tín về ơn cứu rỗi  Ađam. Bên Tây phương, nếu niềm thâm  tín ấy đă tồn tại, th́ chính là  nhờ phụng vụ, [27] và nhất là, theo thiển ư của tôi,  nhờ việc phổ biến rộng răi giữa  đại chúng, các h́nh ảnh biểu trưng  cuộc Đức Kitô xuống ngục tổ  tông, cách riêng là của nghệ thuật  ảnh thánh thời Trung cổ; trong các ảnh  tượng này, bao giờ cũng thấy  Ađam và Evà đứng ở hàng đầu  giữa các người công chính được  cứu thoát ra khỏi địa ngục. Niềm  xác tín ấy cũng được nói  lên qua các vai diễn viên Ađam và Evà  trong các vở kịch tôn giáo thời  Trung cổ.

Về mặt văn chương, th́ có hiện  tượng thành công lạ lùng của  cuốn Legenda Aurea làm chứng: đó  là tác phẩm của Jacques de Voragine, xuất  bản khoảng năm 1250, [28] và đă rất được ưa chuộng  trong thời ấy. Cuốn sách trưng dẫn  Tin Mừng theo Nicôđêmô và nhiều  truyền thuyết khác về Ađam, đặc biệt  là truyền thuyết thuật lại việc ông  Ađam đă được chôn nơi đồi  Gôngôtha, ngay ở chỗ Đức Giêsu  đă chịu đóng đinh vào thập giá:  máu Đấng Cứu thế đă chảy  xuống trên đầu con người đầu  tiên, làm cho ông trở thành như là  người đầu tiên được chịu  Phép Rửa, người đầu tiên  được hưởng ơn huệ do cuộc  tử nạn cứu độ của Ngài mang  lại. [29]

C̣n về phía Đông phương: bởi  đă không chịu ảnh hưởng thần  học Âugutinô cho mấy, nên các Giáo  hội vẫn giữ nguyên lập trường  về ơn cứu rỗi Ađam một cách cương  quyết hơn là bên Tây phương. Một  thí dụ: bức ảnh chính thức của  Giáo hội Chính thống minh họa cuộc Phục  Sinh (Anástasis) chính là bức ảnh  thánh tŕnh tả việc Đức Kitô  xuống ngục tổ tông, hay nói cho đúng  hơn, cuộc Ngài khải hoàn đi lên khỏi  địa ngục, tay dắt Ađam đưa vào  Thiên đàng. Vậy là cùng một trật,  ảnh thánh ấy diễn tả biến cố Đức  Kitô Đức Kitô sống lại, và nói  lên ư nghĩa huyền nhiệm biến cố  ấy tích chứa, tức là ơn cứu  độ dành cho toàn thể nhân loại,  được biểu hiện qua sự việc  cứu rỗi con người (và c̣n hơn  nữa: hai ông bà) đầu tiên  trong loài người.

 

Để thử kết luận

 

Chịu ảnh hưởng của giáo thuyết  Âugutinô về nguyên tội di truyền, Tây  phương đă hầu như đơn thuần  nh́n Ađam qua h́nh ảnh của con người  tội nhân đầu tiên, của con người  đă làm cho cả nhân loại ra ô nhiễm  với tội phạm của ḿnh, cũng như  đă làm cho loài người phải chịu  án hỏa ngục nếu không có ơn cứu  độ của Đức Kitô. V́ vậy,  các nhà thần học Tây phương thường  thận trọng giữ lập trường lặng  thinh, không đề cập ǵ tới thái  độ của con người đầu tiên  đối với Thiên Chúa sau khi sa ngă,  và cũng không bàn ǵ về số phận  đời đời của ông sau khi ông  chết. Nhân tố chủ chốt đă giúp  cho giáo thuyết truyền thống về ơn cứu  rỗi Ađam c̣n tồn lưu được  bên Tây phương, là chính cách kiểu  đại chúng minh họa qua các ảnh tượng  biến cố Đức Kitô xuống ngục  tổ tông.

Do đó, ngạc nhiên là cảm tưởng  chung khi thấy cuốn Giáo Lư Giáo Hội  Công Giáo (1992) mới đây đă  nêu điểm giáo thuyết truyền thống  kia lên lại. Chắc hẳn đó là thành  quả của việc thấu hiểu sâu hơn về  giáo huấn các giáo phụ và đặc  biệt là về truyền thống Kitô giáo  cổ thời, cũng như của việc lưu  tâm cẩn trọng hơn đến các truyền  thống đông phương nhờ tác động  khích lệ của những bước tiến  mới trong con đường đại kết.

 

Sách Giáo Lư Giáo Hội Công  Giáo

 

Trong cuốn giáo lư này, Ađam có được  một vị trí khá nổi, không c̣n phải  đứng ở chỗ công đồng Vaticanô  II dành cho đằng sau hậu trường. [30] Khuất bóng hầu  như hoàn toàn ở trong các văn kiện  công đồng, cách giải thích nguồn  gốc loài người theo lối lịch sử  hóa đă ngoi lên lại được  ở trong cuốn Giáo Lư Giáo Hội  Công Giáo. Vấn đề ơn cứu rỗi  Ađam đă được đề cập đến  trong ba đoạn khác nhau: trước tiên  là trong thiên 55 (§§ 631-637) tŕnh bày  về biến cố Đức Kitô xuống ngục  tổ tông và sống lại, là uyên nguyên  cổ điển của chủ đề chúng ta  đang bàn; thứ đến là trong đoạn  nói về ơn cứu độ cánh chung (§  632); và cuối cùng là trong mục cắt  nghĩa về Ngày của Chúa, tức là  Chúa nhật (§1167).

Lẽ ra phải giải thích dài rộng hơn  về ư nghĩa chú giải và thần học  của mục “Đức Giêsu xuống ngục  tổ tông”; nhưng ở đây chỉ  xin được lưu ư là mục giáo  lư này thực sự đă nêu rơ  cho thấy các ư nghĩa thần học chủ  yếu hàm ngụ ở trong biểu tượng  “xuống ngục”: trước hết, Đức  Giêsu đă chết thật: “Ngài đă  chết, hệt như hết mọi người”  (§ 632); rồi đến mối quan hệ nối  kết việc Ngài lên khỏi địa ngục  với việc Ngài sống lại, và khẳng  định chống lại mọi h́nh thức ảo  thân thuyết, để xác định là đă  chết thật, Đức Giêsu cũng đă  sống lại thật; cuộc sống lại này  mang lại ư nghĩa cho cái chết của Ngài,  ư nghĩa toàn thắng trên sự chết  và quỷ dữ, ông tổ của sự  chết; kết quả là nhân loại được  giải thoát khỏi sự chết và khỏi  ách nô lệ của Satan; cuối cùng và  nhất là cuộc Đức Kitô xuống  cơi âm ty c̣n hàm tích ư nghĩa muốn  nói rằng là phổ quát, ơn cứu  độ có hiệu lực thực sự  đối với và nơi hết thảy mọi  người trong nhân loại, bắt đầu  từ các thế hệ sống trước  thời Đức Kitô; và đây là  lúc cần phải nhắc đến Ađam; một  việc nhắc nhở có tầm quan trọng  chủ chốt, bởi v́, nhắc đến sự  việc Đức Kitô đến để giải  phóng Ađam, tức là có ư khẳng  định rằng Ngài đến để giải  phóng toàn thể nhân loại, kể từ  con người đầu tiên. Và như là  để tóm kết, sách giáo lư đă  trưng dẫn đoạn lư thú sau đây  trích từ một bài giảng cổ thời,  bài giảng cho Ngày Thứ Bảy Tuần  Thánh, được coi là của Epiphaniô  Salamina:

 “... Ngài đi t́m Ađam, tổ phụ  đầu tiên của chúng ta, con chiên lạc.  Ngài đă muốn đến thăm mọi người  đang ngồi trong bóng chết. Chính Ngài,  là Đấng Thiên Chúa và cũng là  con của họ, đă đến để giải  thoát họ, để giải thoát Ađam đang  bị xiềng xích trói buộc, và Evà đang  cùng chịu cầm tù với ông, khỏi  những nỗi khổ đau đang gánh chịu  (...) ÀTa là Thiên Chúa của ngươi, và  v́ ngươi, Ta đă trở thành con của  ngươi. Hăy thức tỉnh chỗi dậy,  hỡi ngươi là người đang ngủ  mê, v́ Ta đă không tạo dựng nên  ngươi để ngươi phải chịu trói  buộc nằm lê ở đây, trong chốn  địa ngục này. Hăy đứng khỏi  lên từ giữa các kẻ chết. Ta  là Sức Sống của các kẻ chết'”  (§ 635).

Đoạn văn trữ t́nh thấm đậm  tinh thần hy vọng kitô trên đây, là  một lời hùng hồn tuyên xưng về  tầm phổ quát bao la của ơn cứu độ  đă thành hiện thực ở trong mầu  nhiệm phục sinh.

Trong mục tŕnh bày về ơn cứu độ  cánh chung, sách giáo lư đă lấy  lại tư tưởng đó để ứng  dụng cho hồi thế mạt, bằng cách trưng  dẫn một đoạn trong hiến chế về Giáo  hội, Ánh Sáng Muôn Dân của công  đồng Vaticanô II: (Chỉ lúc ấy, tức  là lúc Giáo hội thành toàn trọn  vẹn), “mọi người công chính từ  Ađam, từ Abel công chính cho đến người  cuối cùng được tuyển chọn, sẽ  được quy tập vào trong Giáo hội  phổ quát, kề bên Thiên Chúa Cha”  (ASMD 2) (§ 769). Một đoạn văn thật  đặc sắc, nhưng lại ít được  trưng dẫn!

Lần thứ ba sách giáo lư nhắc đến  Ađam là trong đoạn giải thích về ư  nghĩa của Chúa Nhật. Chúa Nhật là  ngày tưởng niệm mầu nhiệm phục  sinh của Đức Kitô, và v́ vậy,  cũng là ngày tưởng nhớ đến  ơn cứu độ phổ quát đă được  Ngài mang đến cho thế giới. Để  minh họa điều này, sách giáo lư  đă trích trưng một đoạn trong văn  bản phụng vụ Siri của Antiôkia, viết  là: ”... Phúc cho Chúa Nhật, v́ trong  ngày đó, các cửa Thiên đàng  đă mở ra để Ađam và hết mọi  kẻ đă từng bị trục xuất, yên  tâm tiến vào” (§ 1167). Việc trưng  dẫn đoạn văn phụng vụ này cho thấy  là cuốn giáo lư đă tiếp thụ  lập trường của truyền thống đông  phương liên quan đến việc nối liền  ơn cứu rỗi Ađam với hai biến cố  “xuống ngục tổ tông” và Phục  sinh, như được minh họa qua bức  ảnh thánh Anástasis (xin xem phần trước  đây của bài viết).

 

Tóm lại, có hai điểm cần nêu bật  để kết luận:

 

Trước hết, niềm thâm tín về sự  việc Ađam đă được cứu  rỗi là một niềm thâm tín liên tục  và hằng tồn, gắn chặt với các  ảnh thánh miêu họa về chủ đề  Đức Kitô xuống ngục tổ tông,  tức là về mầu nhiệm phục sinh mang  lại ơn cứu độ phổ quát cho trần  thế.

Thứ đến, cách thức tŕnh bày  cổ xưa ấy không phải là một trở  ngại không khắc phục được, nếu  biết giải thích về bối cảnh văn  hóa, về nhân sinh và vũ trụ quan trong  thời h́nh thành của cách kiểu biểu  đạt ấy; thực ra, hầu hết các  khái niệm trong Kinh Thánh cũng đều cần  phải được giải thích như thế.  Cũng đừng nên bỏ quên đi nguyên  tắc chú giải có tầm trọng yếu lớn  và cần phải được áp dụng  vào trong công tác t́m hiểu ư nghĩa  của các công thức tín lư, như  Đức Gioan XXIII đă từng nhắc  lại như sau, lúc triệu tập công đồng:  ”...Kho tàng đức tin, tức là những  chân lư chứa đựng trong giáo  lư khả kính của chúng ta, là một  chuyện; c̣n h́nh thức diễn đạt  các chân lư ấy th́ lại là một  chuyện khác, miễn sao giữ cho trọn được  ư nghĩa và tầm trọng yếu của chúng.” [31] 

Chính nhờ nguyên tắc ấy mà có  thể thưởng thức các văn bản  giáo phụ và phụng vụ một cách lư  thú và thấm thía hơn, hầu phát hiện  trở lại tin mừng về ơn cứu  độ Đức Kitô trao tặng cho mọi  người qua mầu nhiệm phục sinh của  Ngài. Thử đan cử ra đây văn  bản của Hesychiô, linh mục giáo phận  Giêrusalem, hồi thế kỷ thứ 5, viết  như sau:

“Ngày ấy (ngày Phục sinh) mang lại  sứ điệp hoan lạc của niềm vui: v́  trong ngày ấy, Đức Chúa đă sống  lại; Ngài đă làm cho đoàn chiên  của Ađam cùng đứng lên với  Ngài, v́ Ngài đă được sinh  ra cho con người, và đă sống lại  với con người. Hôm nay, nhờ Đấng  Sống Lại, Thiên đàng đă mở  rộng cửa, Ađam được hoàn sinh  (trả về cho sự sống), Evà được  ủi an, lời mời gọi được  lắng nghe, Nước Chúa được  sắp sẵn, con người được cứu  độ, Đức Kitô được tôn  thờ: sau khi đă dày đạp sự  chết dưới chân, đă cầm tù  tên bạo chúa (= Satan) và đă tước  sạch địa ngục, Ngài lên trời,  khải hoàn...” [32]

Ơn cứu rỗi Ađam chính là dấu tiên  trưng và là mẫu tiêu biểu cho ơn  cứu độ phổ quát, ơn cứu độ  ban cho toàn thể nhân loại.

 

 

[1] Tác giả là giáo  sư thần học của Đại Học Công  Giáo Lille, Pháp. Đây là bài viết  đăng trong tập san Esprit et Vie, số ra  ngày 10 Février 1994, tt. 81-88.

[2] Abraham hay Abram đă  được nhắc tới 296 lần, Môsê  808 lần; c̣n Ađam th́ chỉ vỏn vẹn  44 lần mà thôi

[3] III,1-2. Xin xem tác phẩm bằng tiếng Pháp  Écrits intertestamentaires, “Bibliothèque de la Pléiade,”  Gallimard, 1987, tr. 376; tác phẩm này có in lại  các văn bản Qumrân và các Ngụy  thư Cựu Ước.

[4] Di Chúc  12 Tổ Phụ, XVIII, 2-10, La Pléiade, tr. 856.

[5] Ibid.  ch. XI. Đức Giêsu cũng đă dùng  đến h́nh ảnh chiếc cửa ra vào:  Mt 7,13-14; Lc 13,23-24.

[6] Xem Cuộc đời Ađam và Evà (bằng  tiếng Hy lạp) XX,2; XXI,2,6; 3Barúc IV,16; xem  Rm 3,23.

[7] Xin xem Platon, Phêđon 112c-d; cũng có thể là đoạn  tŕnh thuật muốn ám chỉ đến bí  tích Thanh Tẩy, và xem ra điểm ám chỉ  ấy đă do một người kitô sao chép  thêm vào.

[8] Ibidem, XXVII,3,  La Pléiade, tr. 1785.

[9] Xem  Rm 5,12-21; 1Cr 15,20-22,45-49

[10] Xin xem,  chẳng hạn, Langsfeld, Adam et le Christ, Aubier 1970.

[11] X. Rm 8,32; 2Cr 5,14t; 1Tm 2,6; Dt 2,9; 9,28. Khi  nói là Phaolô, chúng tôi có ư  chỉ về các bản chính lục trong văn  bộ Phaolô, dù biết rơ là có vài  thư đă không do chính Phaolô viết  ra.

[12] Xin xem Ch. Perrot,“La  descente du Christ aux Enfers dans le N.T.” Lumière et  Vie n.87, 1968, 5-29, và “La descente aux Enfers et la  Prédication aux morts” ACFEB, Études sur la première  lettre de Pierre, Cerf 1980, 231-246. E. Cothenet, “La portée  salvifique de la résurrection du Christ d'après 1Pi”  trong La Pâque du Christ mystère du salut, Cerf 1982,  248-262.

[13] Denz. 6, và trong  kinh Tin kính Quicumque (khoảng năm 500), Denz .40.  Trước năm 370, đă đọc thấy  câu ấy trong kinh Tin kính thành Aquileia, như  Rufinus đă ghi lại; nhưng lại không đọc  thấy trong kinh Tin kính của Nixêa và Constantinốp.

[14] Hermas (thế kỷ 2), Người  Chăn chiên, Dụ ngôn IX,16,2-8 (tác giả  nói về sự việc các tông đồ  và các thầy giáo loan báo ơn cứu  rỗi cho các kẻ chết, chứ không phải  Đức Kitô đă đích thân làm  công việc đó).

[15] Clêmentê Alexanđria ( 215), Stromata, II,9;  IV,6.4.

[16] Origênê ( khoảng  254), Contre Celse, II, 43, “Sources Chrétiennes”,  số 132, tr. 383.,

[17] Bài  giảng về Sách Sáng Thế, XV,55, “Sources  Chrétiennes”, số 7bis, tr. 369. Lập trường  này ăn khớp hoàn toàn với chủ  trương của tác giả cho rằng muôn  loài muôn vật sẽ được cứu  vớt (apocatastasis).

[18] Xin xem Jean Daniélou, Études d'exégèse judéo-chrétienne (les Testimonia), Beauchesne, 1966.>

[19] Hồi ấy, thần học về nguyên  tội c̣n chưa phủ bóng bi quan lên trên  viễn tượng vĩ đại này. Cũng  xin lưu ư: Irênêô không coi Ađam  là tội nhân cho bằng là nạn nhân.

[20] Xem J. Villette, “La descente aux Enfers”  trong cuốn La Résurrection du Christ dans l'art chrétien  du IIe au VIIe siècle, H.Laurens, Paris 1957, tt. 89-106;  L.Réau, Iconographie de l'art chrétien, t.II,2, 1957,  tr. 531-537.

[21] Nên chú ư lời  tiên báo Ađam sẽ được cứu  rỗi, cũng đă được một lời  ám chỉ về nước Rửa tội đi  kèm theo: đó là một ư niệm đă  có từ thời rất cổ xưa, và  cũng có thể đọc thấy ở trong  cuốn Người Chăn chiên của  Hermas (Dụ ngôn IX,16.2-7), trong Bức thư  các tông đồ hay Di chúc của Đức  Giêsu Kitô tại Galilê (ngụy thư),  xem Patr. Orient. IX, tt. 209-210.

[22] Ám chỉ  đến “cây biết lành biết dữ”  (St 2,17). J.Daniélou minh giải rằng ngày xưa,  đă từng có một loạt testimonia  (những chứng từ) nói về cây  “gỗ”; xin xem Études d'exégèse judéo-chrétienne  (les Testimonia), Beauchesne, 1966, tr. 59.

[23] Một dấu  chỉ khác về Phép Rửa tội.

[24] Hans Urs von Balthasar cho rằng cuộc xuống  ngục là “một uyên nguyên thần học  rất quan trọng trong các thế kỷ đầu,”  xin xem cuốn Questions théologiques aujourd'hui,  t. II, tr.280, DDB 1985.

[25] Thí dụ,  trong Bộ Tổng luận Thần học, dù  có dành cả một chương để bàn  về cuộc xuống ngục (III,q.52), Tôma Aquinô cũng đă không nhắc nhở ǵ đến  Ađam. Tuy nhiên, tác giả cũng không quên  liệt kê Ađam vào hàng những người  công chính (IIa-IIae, q. 85, 1 ad 2).

[26] Xin xem Thư 164 gửi cho Evodius (PL 33,711),  và bài viết của M. Lamberigts, “J. d'Eclane  et A. d'Hippone. Deux conceptions d'Adam” trong Mélanges  van Bavel, 1990.

[27] Xin xem, chẳng hạn,  Kinh Tin kính, bài Exultet (hát trong đêm  vọng Phục sinh), các Kinh Tạ Ơn I và  IV: ”...kính nhớ Đức Kitô đă  chịu chết và xuống cơi âm ty.”

[28] Xin xem bản dịch ra  tiếng Pháp của T. de Wyzewa, La Légende dorée,  Paris 1925; đặc biệt là các tt. 207-207.

[29] Xem các văn phẩm ngụy thư về  Ađam, như Le Combat d'Adam et Eve và La Caverne  des trésors, v.v., cũng như J.-B.Frey, “Adam”  trong Dictionnaire Biblique Supplément, I, 106-117.

[30] Xin xem bài chúng tôi viết mang tựa đề  “Le péché originel à Vatican II” trong Esprit  et Vie, số 49, 1991, tt. 658-668.

[31] A.A.S., LIV, 1962, tr. 792. Công đồng Vaticanô  II đă ghi lại nguyên tắc ấy ở  trong hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng,  số 62 và trong sắc lệnh về hiệp nhất Unitatis Redintegratio, số 6.

[32] Homélie pascale, I, 6tr.,  trong “Sources chrétiennes”, số 187, tr. 69.